Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Những đối tượng nào có nguy cơ mắc bệnh mỡ máu?

Bệnh mỡ máu là căn bệnh nguy hiểm và có thể để lại nhiều biến chứng nguy hiểm. Vậy những đối tượng nào dễ mắc bệnh mỡ máu nhất hiện nay?

Đừng lầm tưởng chỉ những người béo phì mới có nguy cơ mắc bệnh mỡ máu, trên thực tế có rất nhiều người gầy cũng đang có nguy cơ mắc bệnh và có những biến chứng nguy hiểm.

Những đối tượng nào dễ mắc bệnh mỡ máu?

Theo các bác sĩ chuyên khoa tư vấn, những đối tượng bị thừa cân, béo phì, hút thuốc lá, uống nhiều rượu, ăn nhiều thức ăn có chứa chất béo sẽ làm tăng lượng triglycerid trong máu là những đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh máu nhiễm mỡ. Bên cạnh đó máu nhiễm mỡ còn do biến chứng của các bệnh như: bệnh đái tháo đường, hội chứng thận hư, tăng urê máu, suy tuyến giáp, bệnh gan, nghiện rượu, uống thuốc tránh thai, một số thuốc tim mạch như thuốc ức chế bêta giao cảm, nhóm thuốc lợi tiểu thiazid. (chiếm khoảng 10% nguyên nhân gây bệnh máu nhiễm mỡ).

Trên thực tế, bệnh máu nhiễm mỡ có thể gây chết người nếu không được điều trị kịp thời. Bởi máu nhiễm mỡ sẽ tạo điều kiện thuận lợi hình thành các mảng xơ vữa ở thành mạch máu, gây hẹp lòng mạch, tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim, thiếu máu não… Nặng nề hơn nữa là vỡ các mảng xơ vữa làm lấp mạch não hoặc nhồi máu cơ tim có thể dẫn đến tàn phế hoặc tử vong. Tăng triglyceride sẽ làm gan nhiễm mỡ, đề kháng insulin dễ dẫn đến bệnh đái tháo đường. Ngoài ra nếu Triglyceride quá cao ( >1000mg/dl) có thể gây ra viêm tuỵ cấp.

Những người gầy cũng có nguy cơ mắc bệnh máu nhiễm mỡ

Đừng lầm tưởng chỉ những người béo phì mới có nguy cơ mắc bệnh mỡ máu, trên thực tế có rất nhiều người gầy cũng đang có nguy cơ mắc bệnh và có những biến chứng nguy hiểm. Trên thực tế, bệnh máu nhiễm mỡ là tình trạng rối loạn lipit máu. Tình trạng rối loạn này có thể xảy ra với bất kỳ ai, tuy nhiên những người béo phì sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người gầy. Bác sĩ Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn cho biết người gầy nếu có chế độ ăn uống không lành mạnh: sử dụng rượu bia, hút thuốc, ăn nhiều nội tạng động vật sẽ có khả năng mắc bệnh máu nhiễm mỡ cao. Chính vì thế người gầy cũng không nên chủ quan, nên đi khám sức khỏe định kỳ để nếu có bệnh có thể phát hiện sớm.

Theo đó, những người bị mỡ trong máu cao cần biết kiểm soát ăn uống một cách nghiêm khắc. Nên ăn những loại thực phẩm có chứa hàm lượng cholesterol thấp như rau xanh, các sản phẩm được làm từ đậu, thịt nạc thăn… Đặc biệt là nên ăn những loại rau xanh có chứa nhiều chất xơ để làm giảm được sự hấp thụ của đường ruột đối với cholesterol.

Ngoài ra bệnh nhân cũng không nên ăn tối quá muộn với thức ăn nhiều đạm vì rất khó tiêu hoá và sẽ làm lượng cholesterol đọng trên thành động mạch dẫn đến xơ vữa động mạch, đồng thời nên duy trì chế độ ăn nhạt vì thức ăn này có lợi cho sức khoẻ và bệnh tim mạch. Kiêng thức ăn có nồng độ chất béo cao, nên ăn những thức ăn ít chất béo như cá, đậu phụ, đỗ tương. Nên ăn thực phẩm có nhiều tác dụng giảm mỡ trong máu như: Gừng, chế phẩm đậu sữa, nấm hương, mộc nhĩ, hành tây, ba ba, trà, dầu ngô.

Để khắc phục tình trạng cholesterol máu cao thì người bệnh cần ăn ít chất béo, tránh ăn mỡ động vật và kem sữa bò: Bác sĩ Cao đẳng Y Dược Sài Gòn cho biết những thực phẩm này chứa nhiều chất béo no, những chất rất dễ làm tắc động mạch, cách tốt nhất là chọn toàn thịt nạc, nếu ăn thịt gia cầm thì nên bỏ da. Đồng thời nên dùng dầu ô liu, dầu cải, dầu ngô, dầu hạt rum, dầu đậu nành và dầu hướng dương. Đây là những loại dầu có tác dụng làm hạ mức cholesterol hiệu quả.

Chuyên mục
Bệnh Học Chuyên Khoa

Ung Thư Đại Tràng – Bệnh Nguyên Và Triệu Chứng

Theo thống kê trong các tài liệu bệnh học, hàng năm nước ta có khoảng 150.000 người mắc bệnh ung thư và 115.000 người tử vong vì căn bệnh này. Ở Việt Nam ung thư đại tràng xếp thứ 2 về ung thư đường tiêu hóa chỉ sau ung thư dạ dày.

    Bệnh ung thư đại tràng là gì ?

    Ung thư đại tràng hình thành ở ruột già. Hầu hết các trường hợp ung thư đại tràng đều hình thành từ các u nhỏ, các tế bào lành tính. Sau đó do sự viêm nhiễm, rối loạn chức năng đại tràng, một trong những khối u trở thành ác tính và phát bệnh ung thư đại tràng.

    Bênh nguyên và cách dấu hiệu nhận biết ung thư đại tràng

    Viêm đại tràng mãn tính là nguyên nhân chính gây nên bệnh ung thư đại tràng nếu không điều trị dứt điểm. Thực tế đây là căn bệnh phát triển từ các tế bào tuyến của niêm mạc đại tràng bị viêm, xâm lấn vào thành ruột lan ra các tế bào xung quanh.

    Triệu chứng của ung thư đại tràng

    Các giai đoạn ung thư đại tràng.

    Các triệu chứng, dấu hiệu bệnh ung thư đại tràng thường ít xuất hiện ở giai đoạn đầu. Những dấu hiệu bất thường dưới đây có thể giúp bạn biết liệu mình có mắc căn bệnh này hay không.

    Chảy máu trực tràng, đại tiện bất thường, có thể táo bón hoặc tiêu chảy dài ngày, trong phân có lẫn chất nhày. Đau bụng quằn quại, thường xuyên mót rặn khi đại tiện. Đôi khi thấy bụng nóng bừng không rõ nguyên nhân. Có thể sờ thấy khối u khi kiểm tra phần bụng bên phải hoặc vùng xương chậu,…

    Bệnh ung thư đại tràng là căn bệnh không có các triệu chứng rõ ràng, nhưng khi phát tác sẽ rất nguy hiểm, dẫn đến nhiều biến chứng khác. Do đó, nhất là những ai có tiền sử bệnh Viêm Đại Tràng cần phải có phương pháp để điều trị dứt điểm tránh tình tràng trở thành Viêm Đại Tràng mạn tính, tạo tiền đề cho bệnh ung thư đại tràng phát triển.

    Nguồn: Cao đẳng Xét nghiệm TPHCM

    Chuyên mục
    Tin Tức Y Dược

    Nguyên nhân gây bệnh viêm thực quản phổ biến

    Bệnh viêm thực quản thường được phân loại theo nguyên nhân gây bệnh, tuy nhiên cũng có rất nhiều trường hợp bệnh nhân không tìm thấy nguyên nhân gây bệnh.

    Để điều trị triệt để chứng bệnh viêm thực quản, bệnh nhân cần nắm vững được các nguyên nhân gây bệnh cũng như đặc trưng của từng nguyên nhân để chủ động trong cách phòng và điều trị chúng sao cho hiệu quả. Dưới đây là một số nguyên nhân thường gặp gây viêm thực quản.

    Nguyên nhân gây viêm thực quản

    Nguyên nhân gây viêm thực quản trào ngược: Bác sĩ Trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn cho biết trong cơ thể con người có một cấu trúc van gọi là cơ vòng thực quản dưới, cơ vòng thực quản dưới có tác dụng ngăn chặn sự trào ngược dịch dạ dày lên thực quản. Vì một nguyên nhân nào đó khiến cho cơ vòng thực quản dưới khép không khít sẽ làm cho dịch axit từ dạ dày trào lên thực quản gây  bệnh viêm loét thực quản, thậm chí là gây ung thư hóa.

    Viêm thực quản do dị ứng: Bạch cầu ái toan là một dũng sĩ bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân gây hại như vi khuẩn, vi sinh vật,…ngoài ra chúng cũng có vai trò vô cùng quan trọng trong các phản ứng dị ứng của cơ thể. Viêm thực quản do dị ứng xuất hiện khi nồng độ của các bạch cầu ái toan này quá cao trong thực quản. Một số thực phẩm có thể gây dị ứng như: sữa, trứng, lúa mì, đậu nành, lúa mạch, đậu phộng và thịt bò. Thậm chí có trường hợp hít phấn hoa gây dị ứng viêm thực quản ở một số trường hợp.

    Viêm thực quản do thuốc: Một số thuốc uống có thể gây tổn thương mô nếu vẫn tiếp xúc với niêm mạc thực quản trong một thời gian kéo dài. Ví dụ, nếu nuốt một viên thuốc với nước ít hoặc không có, các viên thuốc tự mình hoặc dư lượng từ viên thuốc này có thể vẫn còn lại trong thực quản. Các loại thuốc có liên quan đến bệnh lý thực quản, bao gồm: Aspirin và các thuốc không steroid khác chống viêm (NSAID) như ibuprofen và naproxen. Thuốc kháng sinh, chẳng hạn như tetracycline và doxycycline, Kali clorua, được sử dụng để điều trị thiếu kali, các thuốc bisphosphonates, bao gồm alendronate,điều trị cho xương yếu và dễ gãy (loãng xương).

    Viêm thực quản truyền nhiễm: Viêm thực quản cũng có thể gây ra do nhiễm trùng bởi các vi khuẩn, siêu vi, nấm hay ký sinh trùng trong các mô của thực quản. Truyền nhiễm viêm thực quản là tương đối hiếm xuất hiện ở người bình thường và thường xảy ra ở những người có chức năng hệ thống miễn dịch kém, chẳng hạn như những người có HIV / AIDS hoặc ung thư.

    Một loại nấm thường hiện diện trong miệng được gọi là Candida albicans là một nguyên nhân phổ biến của viêm thực quản truyền nhiễm. Nhiễm trùng này thường kết hợp với chức năng hệ thống miễn dịch kém, tiểu đường và sử dụng kháng sinh.

    Một số yếu tố nguy cơ gây viêm thực quản

    Giảng viên ngành Điều Dưỡng chia sẻ Ngoài những nguyên nhân trên, còn có một số yếu tố nguy cơ gây viêm thực quản bao gồm: bệnh béo phì; hút thuốc; mang thai; thoát vị, một điều kiện trong đó dạ dày đẩy thông qua cơ hoành nơi thực quản nối với dạ dày;

    Một số loại thực phẩm có thể gây các triệu chứng của viêm thực quản trào ngược GERD: cà chua; trái cây có múi; rượu; gia vị thực phẩm; tỏi và hành tây; sôcôla; eosinophilic viêm thực quản

    Hy vọng với những thông tin mà chúng tôi cung cấp, các bạn đã có thêm thông tin về nguyên nhân  gây bệnh viêm thực quản để chủ động phòng tránh hiệu quả căn bệnh này.

    Xem hướng dẫn bản đồ: Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn

    Chuyên mục
    Bệnh Học Chuyên Khoa

    Bệnh Loăng Xương – Nguyên Nhân Và Dấu Hiệu Cần Biết

    Loãng xương là bệnh xương khớp làm cho xương trở xương nên yếu và dễ gãy, ngã hoặc thậm chí vận động nhẹ như cúi xuống hoặc ho có thể gây ra một vết nứt. Bệnh loãng xương xảy ra phổ biến nhất ở hông, cổ tay hoặc cột sống.

      Bệnh loãng xương là bệnh khá phổ biến ngày nay.

      Xương được mô sống mà là liên tục được chia nhỏ và thay thế. Loãng xương xảy ra khi việc tạo xương mới không theo kịp với việc loại bỏ xương cũ.

      Loãng xương ảnh hưởng đến nam giới và phụ nữ ở mọi chủng tộc. Nhưng phụ nữ da trắng và châu Á – đặc biệt là phụ nữ lớn tuổi đã bị mãn kinh – có nguy cơ cao nhất. Thuốc, chế độ ăn uống lành mạnh và tập thể dục và chịu tải trọng có thể giúp ngăn ngừa mất xương hoặc tăng cường xương đã yếu.

      Những triệu chứng của bệnh loãng xương

      Thường không có triệu chứng trong giai đoạn đầu của bệnh loãng xương. Nhưng một khi xương đã bị suy yếu do loãng xương, bạn có thể có các dấu hiệu và triệu chứng sau:

      • Đau lưng, gây ra bởi một đốt xương sống bị gãy hoặc bị sập
      • Mất chiều cao theo thời gian
      • Một tư thế khom
      • Gãy xương xảy ra dễ dàng hơn nhiều so với dự kiến

      Nguyên nhân gây bệnh loãng xương

      Xương của bạn luôn trong một trạng thái liên tục đổi mới – xương mới được thực hiện và xương cũ bị phá vỡ. Khi bạn còn trẻ, cơ thể của bạn làm cho xương mới nhanh hơn nó phá vỡ xương già và xương của bạn tăng khối lượng. Hầu hết mọi người đạt được khối lượng xương đỉnh cao của mình bằng 20 tuổi. Khi lớn tuổi, khối lượng xương bị mất đi nhanh hơn nó được tạo ra.

      Làm thế nào khả năng bạn bị loãng xương phụ thuộc vào có bao nhiêu xương khối bạn đạt được trong tuổi trẻ của bạn. Các cao hơn khối lượng xương đỉnh cao của bạn, xương nhiều hơn bạn có “trong ngân hàng” và càng ít khả năng bạn bị loãng xương khi có tuổi.

      Những yếu tố dẫn đến loãng xương

      Một số yếu tố có thể làm tăng khả năng bạn sẽ phát triển bệnh loãng xương – bao gồm cả tuổi tác, chủng tộc, lựa chọn lối sống và các điều kiện y tế và điều trị.

      Nguy cơ loãng xương không tránh khỏi

       

      Một số yếu tố nguy cơ gây bệnh loãng xương là ngoài tầm kiểm soát của bạn, bao gồm:

      • Về giới tính: Phụ nữ có nguy cơ mắc cao hơn nam giới.
      • Tuổi tác Càng lớn tuổi bạn càng có nguy cơ mắc bệnh loãng xương cao hơn.
      • Châu lục: Bạn có nguy cơ mắc bệnh loãng xương cao hơn nếu bạn là người da trắng hoặc người gốc Á Châu.
      • Gia đình có tiền sử: Có cha hoặc mẹ hoặc anh chị em ruột bị loãng xương thì có nguy cơ lớn hơn, đặc biệt là nếu cha hoặc mẹ của bạn đã trải qua gãy xương hông.
      • Kích thước cơ thể: Đàn ông và phụ nữ có khung cơ thể nhỏ thường có nguy cơ cao hơn vì họ có thể có khối lượng xương ít hơn.
      • Nồng độ hormon: Loãng xương thường xảy ra ở những người có quá nhiều hay quá ít hormone trong cơ thể. Các hormon chính bao gồm:

      Hormone giới tính: Mức độ hormone tình dục có xu hướng giảm dẫn đến làm suy yếu xương. Việc giảm mức estrogen ở thời kỳ mãn kinh là một trong những yếu tố nguy cơ lớn nhất cho việc phát triển bệnh loãng xương. Phụ nữ cũng có thể gặp một giảm estrogen trong thời gian điều trị bệnh ung thư nhất định. Đàn ông bị giảm dần mức độ testosterone khi có tuổi. Và một số phương pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt cho giảm nồng độ testosterone ở nam giới.

      • Các vấn đề về tuyến giáp: Quá nhiều hormon tuyến giáp có thể gây mất xương. Điều này có thể xảy ra nếu tuyến giáp hoạt động quá mức.

      Nguyên nhân do ăn uống:

      Loãng xương nhiều khả năng xảy ra ở những người có:

      Lượng canxi thấp: Một thiếu suốt đời của canxi đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh loãng xương.Lượng canxi thấp góp phần giảm sút mật độ xương, mất xương sớm và gia tăng nguy cơ gãy xương.

      Rối loạn ăn uống: Những người bị chứng biếng ăn có nguy cơ loãng xương. Lượng thức ăn thấp có thể làm giảm số lượng calo và lượng protein và canxi ăn vào. Ở phụ nữ, biếng ăn có thể ngăn chặn kinh nguyệt, dẫn đến xương yếu. Ở nam giới, chán ăn làm giảm lượng hormone giới tính trong cơ thể và có thể làm suy yếu xương.

      Phẫu thuật đường tiêu hóa. Giảm kích thước của dạ dày của bạn hoặc bỏ qua hoặc cắt bỏ một phần của ruột hạn chế số lượng diện tích bề mặt có sẵn để hấp thụ chất dinh dưỡng, bao gồm canxi.

      Nguyên nhân gây bệnh loãng xương do lối sống.

      Những người lười vận động có nguy cơ mắc bệnh loãng xương cao hơn.

      Một số thói quen xấu có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh loãng xương như:

      • Những người ít vận động: Những người dành nhiều thời gian ngồi có một nguy cơ loãng xương hơn so với những người đang hoạt động nhiều hơn. Bất kỳ trọng lượng mang tập thể dục và các hoạt động thúc đẩy sự cân bằng và tư thế tốt có lợi cho xương của bạn, nhưng đi bộ, chạy, nhảy, múa và cử tạ có vẻ đặc biệt hữu ích.
      • Tiêu thụ rượu quá nhiều. Thường xuyên tiêu thụ của hơn hai ly rượu mỗi ngày làm tăng nguy cơ loãng xương.
      • Sử dụng thuốc lá.

      Nguồn: Cao đẳng Dược TPHCM

      Chuyên mục
      Tin Tức Y Dược

      Giải pháp hồi phục việc học, tái xây dựng hệ thống giáo dục của các nước ASEAN

      Vừa qua, ngày 16.3, phối hợp với Cambridge Partnership for Education, Bộ GD&ĐT Việt Nam và Ban thư ký ASEAN đã tổ chức hội nghị Hồi phục việc học, tái xây dựng hệ thống giáo dục bằng hình thức trực tuyến.

      Tham dự hội nghị có Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Việt Nam – Nguyễn Kim Sơn, Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc và các Bộ trưởng Giáo dục ASEAN. Đây được xem là sự kiện lớn đầu tiên trong nhiệm kỳ Chủ tịch kênh Giáo dục ASEAN của Việt Nam ( nhiệm kỳ 2022 – 2023).

      Giải pháp hồi phục việc học, tái xây dựng hệ thống giáo dục của các nước ASEAN

      Không chỉ dừng lại ở việc Phục hồi:

      Trong suốt gần 3 năm đại dịch Covid-19 hoành hành, hệ thống giáo dục trên khu vực các nước Đông Nam Á bị tác động nặng nề. Đặc biệt trong tương quan tình hình thời gian tới, đại dịch vẫn chưa thể kiểm soát, tác động xấu mà nó mang đến vẫn sẽ còn. Trước bối cảnh đó, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn nhấn mạnh Hội nghị với chủ đề “Hồi phục việc học, tái xây dựng hệ thống giáo dục” diễn ra rất đúng thời điểm và đặc biệt có ý nghĩa.

      Theo ghi nhận của ban truyền thông trường đại học Lương Thế Vinh,  Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn còn chỉ rõ: Hội nghị này được coi như là cơ hội tuyệt vời để các bên cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và những bài học thực tiễn về quá trình phục hồi trong lĩnh vực giáo dục của từng quốc gia và của cả cộng đồng.

      Trong giai đoạn phục hồi mới thích ứng với đại dịch Covid-19, không thể chỉ chú trọng tới yếu tố phục hồi, muốn khắc phục những ảnh hưởng xấu mà dịch bệnh gây ra, các Bộ giáo dục ASEAN còn cần đúc kết kinh nghiệm để chuẩn bị tốt hơn cho việc ứng phó với các khủng hoảng có thể xảy ra trong tương lai.

      Các nước đã và đang nỗ lực để xây dựng hệ thống giáo dục có khả năng chống chịu và có năng lực phục hồi tốt hơn. Các nỗ lực có thể kể đến như: củng cố lại hệ thống trường học; chuẩn bị các mô hình giáo dục học tập kết hợp trực tiếp và trực tuyến; điều chỉnh chương trình để thích ứng trong bối cảnh mới; nâng cao năng lực tự học, tự phát triển của người học.

      Tại hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn cũng thể hiện mong muốn được lắng nghe những chia sẻ liên quan đến vấn đề hổng kiến thức và tăng cường việc học; tiếp cận giáo dục; xây dựng hệ thống giáo dục tự cường, có khả năng tự phục hồi; sức khỏe và sự an toàn của người học. Ông hy vọng và tin tưởng, những chia sẻ trong hội nghị này sẽ góp phần hữu ích trong việc hỗ trợ các nước trong khu vực và các bên liên quan xây dựng chính sách và phát triển các sáng kiến ​​về các lĩnh vực vừa nêu.

      Giải pháp hồi phục việc học, tái xây dựng hệ thống giáo dục của các nước ASEAN

      Tái cấu trúc giáo dục trong một bức tranh rộng lớn hơn

      Việc hổng kiến thức và tăng cường việc học, tiếp cận giáo dục và xây dựng hệ thống giáo dục tự cường, là 3 chuyên đề chính mà các Bộ trưởng Giáo dục ASEAN cùng bàn về việc hồi phục việc học, tái xây dựng hệ thống giáo dục tại hội nghị diễn ra chiều qua.

      Trình bày tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ GĐ&ĐT Việt Nam, ông Nguyễn Văn Phúc đã đưa ra những thống kê về tác động, ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 tới giáo dục Việt Nam; những nỗ lực và giải pháp của Việt Nam để bảo đảm cơ hội và chất lượng giáo dục. Ngay cả khi ở thời điểm trong đại dịch, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam cũng hết sức quan tâm đến vấn đề phục hồi sau đại dịch. Cụ thể, Bộ GD&ĐT Việt Nam đã khẩn trương trình Chính phủ Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030”.

      Theo tin tức Y dược cập nhật, Y tế và Giáo dục luôn là 2 lĩnh vực được chính phủ ưu tiên hàng đầu trước trong và sau đại dịch covid – 19. Ngay từ quyết định của Thủ tướng Chính phủ về “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” phê duyệt ngày 3/6/2020 đã nhấn mạnh giáo dục và y tế là 2 lĩnh vực ưu tiên chuyển đổi số đầu tiên.

      Đồng thời thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc cũng nhấn mạnh việc cần nghĩ đến việc tái cấu trúc giáo dục trong một bức tranh rộng lớn hơn, trong một bối cảnh mới, của một thế giới nhiều biến động, đầy thách thức, không chỉ bởi bệnh dịch mà còn các yếu tố liên quan đến chính trị, xã hội khác.

      Chuyên mục
      Bệnh Học Chuyên Khoa

      Bệnh Loãng Xương – Phòng Ngừa Và Điều Trị

      Các chuyên gia bệnh xương khớp khuyến cáo người lớn tuổi cần hết sức tránh bị té ngã vì khi đã bị loãng xương, gãy xương sẽ rất dễ xảy ra, khi gãy lại rất khó liền. Các chuyên gia sẽ chia sẻ những cách điều trị bệnh loãng xương và cách phòng ngừa bệnh này.

        Phương pháp điều trị bệnh loãng xương

        Khuyến cáo điều trị được dựa trên ước tính về nguy cơ gãy xương trong 10 năm tới bằng cách sử dụng các thông tin như các bài kiểm tra mật độ xương. Nếu nguy cơ mắc không cao không cao, điều trị có thể không cần dùng thuốc và có thể điều trị bằng cách thay đổi về lối sống, an toàn và sửa đổi các yếu tố nguy cơ mất xương.

        Đối với những người có nguy cơ loãng xương, các loại thuốc loãng xương sử dụng rộng rãi nhất bao gồm:

        • Alendronate (Fosamax)
        • Risedronate (Actonel, Atelvia)
        • Ibandronate (Boniva)
        • Zoledronic acid (Reclast)

        Các tác dụng phụ: buồn nôn, đau bụng, khó nuốt, và nguy cơ của một thực quản bị viêm hoặc loét thực quản. Đây là ít có khả năng xảy ra nếu các loại thuốc được thực hiện đúng. Hình thức tiêm tĩnh mạch của bisphosphonates không gây khó chịu dạ dày. Và nó có thể được dễ dàng hơn để sắp xếp một tiêm hàng quý hoặc hàng năm hơn để nhớ uống một viên thuốc hàng tuần hoặc hàng tháng, nhưng nó có thể tốn kém hơn để làm như vậy.

        Sử dụng liệu pháp bisphosphonate trong hơn năm năm đã được liên kết với một vấn đề hiếm gặp trong đó giữa các vết nứt xương đùi và thậm chí có thể phá vỡ hoàn toàn. Bisphosphonates cũng có khả năng ảnh hưởng đến xương hàm. Hoại tử xương hàm là một bệnh hiếm gặp có thể xảy ra sau khi nhổ răng, trong đó một phần của xương hàm bị chết và bị thoái hóa. Bạn cần phải có một cuộc kiểm tra nha khoa gần đây trước khi bắt đầu bisphosphonates.

        Phương pháp điều trị bệnh loãng xương bằng Hormon

        Estrogen: đặc biệt là khi bắt đầu ngay sau khi mãn kinh, có thể giúp duy trì mật độ xương. Tuy nhiên, liệu pháp estrogen có thể làm tăng nguy cơ của một người phụ nữ của các cục máu đông, ung thư nội mạc tử cung, ung thư vú và bệnh tim có thể. Do đó, estrogen thường được sử dụng cho sức khỏe của xương chỉ nếu các triệu chứng mãn kinh cũng cần điều trị.

        Raloxifene (Evista) bắt chước estrogen của tác động có lợi về mật độ xương ở phụ nữ sau mãn kinh, mà không có một số các rủi ro liên quan với estrogen. Lấy thuốc này cũng có thể làm giảm nguy cơ mắc các loại bệnh ung thư vú. Nóng bừng là một tác dụng phụ thường gặp. Raloxifene cũng có thể làm tăng nguy cơ máu vón cục.

        Ở nam giới, loãng xương có thể được liên kết với một sự suy giảm do tuổi tác dần dần nồng độ testosterone. Liệu pháp thay thế testosterone có thể giúp tăng mật độ xương, nhưng thuốc loãng xương đã được nghiên cứu tốt hơn ở nam giới bị loãng xương và được khuyến cáo một mình hoặc bổ sung cho testosterone.

        Những loại thuốc loãng xương khác

        Nếu bạn không thể chịu đựng được các phương pháp điều trị phổ biến đối với bệnh loãng xương – hoặc nếu phương pháp điều trị đó không hiệu quả bạn có thể điều trị bằng những phương pháp sau:

        Denosumab (Prolia). So với bisphosphonates, denosumab tạo ra kết quả mật độ xương tương tự hoặc tốt hơn và làm giảm cơ hội của tất cả các loại gãy xương. Denosumab được phân phối thông qua một shot dưới da mỗi sáu tháng. Các tác dụng phụ thường gặp nhất là đau lưng và đau cơ bắp.

        Teriparatide (Forteo). Thuốc này tương tự như hormone tuyến cận giáp và kích thích sự tăng trưởng xương mới. Nó dùng bằng đường tiêm dưới da. Sau hai năm điều trị với teriparatide, một loại thuốc loãng xương được thực hiện để duy trì sự tăng trưởng xương mới. Thuốc này được dành riêng cho các bệnh nhân bị loãng xương nặng.

        Thay đổi lối sống và biện pháp khắc phục bệnh loãng xương

        Những đề nghị này có thể giúp giảm nguy cơ phát triển bệnh loãng xương:

        • Không hút thuốc. Hút thuốc làm tăng tỷ lệ mất xương và cơ hội trải qua một vết đứt gãy.
        • Tránh uống quá nhiều rượu. Uống hơn hai ly rượu mỗi ngày có thể làm giảm sự hình thành xương.
        • Ngăn ngừa ngã quỵ: Mang giày gót thấp có đế và kiểm tra căn nhà của bạn cho các dây điện, thảm và các bề mặt trơn mà có thể khiến bạn bị té ngã. Giữ phòng sáng, cài đặt các thanh vịn chỉ bên trong và bên ngoài cửa tắm của bạn, và chắc chắn rằng bạn có thể vào và ra khỏi giường của bạn một cách dễ dàng.

        Phòng ngừa bệnh loãng xương

        Bổ sung canxi là một trong 3 cách ngăn ngừa bệnh loãng xương.

        Ba yếu tố cần thiết để giữ cho xương của bạn khỏe mạnh trong suốt cuộc đời của bạn là:

        • Đủ lượng canxi
        • Đủ lượng vitamin D
        • Tập thể dục thường xuyên

        – Canxi

        Đàn ông và phụ nữ trong độ tuổi từ 18 và 50 cần 1.000 mg canxi mỗi ngày. Số tiền hàng ngày này tăng lên 1.200 milligram khi phụ nữ lần lượt 50 và nam giới biến 70. Nguồn cung cấp canxi bao gồm:

        • Các sản phẩm từ sữa ít chất béo (200-300 mg mỗi khẩu phần)
        • Các loại rau lá xanh đậm
        • Cá hồi đóng hộp hoặc cá mòi với xương
        • Sản phẩm đậu nành.
        • Các loại ngũ cốc giàu canxi và nước cam

        Nếu bạn cảm thấy khó khăn để có được đủ canxi từ chế độ ăn uống của bạn, hãy xem xét việc bổ sung canxi. Tuy nhiên, quá nhiều canxi có liên quan đến vấn đề về tim và sỏi thận. Các chuyên gia bệnh học khuyến cáo rằng tổng lượng canxi, từ bổ sung chế độ ăn uống và kết hợp, không nên nhiều hơn 2.000 mg mỗi ngày cho người trên 50 tuổi.

        – Vitamin D

        Vitamin D cải thiện khả năng của cơ thể hấp thu canxi. Nhiều người có được đủ lượng vitamin D từ ánh sáng mặt trời, nhưng điều này có thể không được một nguồn tốt nếu bạn sống ở các vĩ độ cao, nếu bạn ra khỏi nhà, hoặc nếu bạn thường xuyên sử dụng kem chống nắng hoặc tránh ánh nắng mặt trời hoàn toàn vì nguy cơ ung thư da .

        Các nhà khoa học vẫn chưa biết được liều tối ưu hàng ngày của vitamin D. Một điểm khởi đầu tốt cho người lớn là 600 đến 800 đơn vị quốc tế (IU) mỗi ngày, qua thực phẩm hoặc bổ sung. Nếu nồng độ trong máu của vitamin D thấp, bác sĩ có thể đề nghị liều cao hơn. Trẻ em và người lớn có thể an toàn nếu bổ sung 4.000 đơn vị quốc tế (IU) mỗi ngày.

        – Tập thể dục

        Tập thể dục có thể giúp bạn xây dựng xương và mất xương chậm. Tập thể dục sẽ đem lại lợi ích xương của bạn không có vấn đề khi bạn bắt đầu, nhưng bạn sẽ có được những lợi ích nhất nếu bạn bắt đầu tập thể dục thường xuyên khi bạn còn trẻ và tiếp tục thực hiện trong suốt cuộc đời của bạn.

        Kết hợp với tập luyện thể lực với các bài tập và chịu tải trọng. Tập tạ giúp tăng cường cơ bắp và xương trong vòng tay của bạn và cột sống phía trên, và các bài tập mang nặng – chẳng hạn như đi bộ, chạy bộ, chạy, leo cầu thang, nhảy dây, trượt tuyết và các môn thể thao tác động sản xuất – ảnh hưởng chủ yếu xương ở chân, hông và cột sống thấp hơn.

        Bơi lội, đi xe đạp và tập thể dục trên máy như giảng viên hướng dẫn có thể cung cấp một tập luyện tim mạch tốt, nhưng vì những bài tập này là tác động thấp, họ không phải là hữu ích cho việc cải thiện sức khỏe của xương như các bài tập mang nặng là. Có bằng chứng rằng người đi xe đạp cả cạnh tranh đã giảm mật độ khoáng xương. Họ cần phải kết hợp sức mạnh và trọng lượng mang bài tập và xem xét một thử nghiệm cho Bệnh loãng xương.

        Nguồn: Cao đẳng Dược TPHCM

        Chuyên mục
        Tin Tức Y Dược

        F0 cần test nhanh bao nhiêu lần là đủ, Sau dương tính

        Với đa số mọi người, test nhanh dương tính giúp báo hiệu họ biết nhiễm COVID-19 có thể có hay không triệu chứng cần bắt đầu giai đoạn cách ly và khi nào có thể quay lại bình thường.

        Hầu hết bệnh nhân sẽ có test nhanh dương tính với COVID-19 trong khoảng 10 ngày.

        Tuy nhiên ở một số trường hợp, xét nghiệm COVID-19 dương tính có thể kéo dài nhiều tuần hoặc vài tháng ngay cả sau khi hồi phục. Điều này gây ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của bệnh nhân.

        Theo BS Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn, khi test nhanh dương tính lần đầu với COVID-19, có thể làm lại sau 5 ngày một lần. Nếu không triệu chứng khi mắc COVID-19 thì bệnh nhân có thể test nhanh vào ngày thứ 5. Nếu bệnh nhân là phụ nữ mang thai hoặc mắc bệnh lý nền thì có thể cần test lại vào ngày thứ 7. Như vậy, thường thì F0 cần test nhanh khoảng 3 lần tính cả lần đầu tiên với bệnh nhân không triệu chứng với mốc thời gian 5 ngày/lần và mốc 7 ngày/lần với người bệnh nền cho đến khi xét nghiệm báo âm tính.

        Hầu hết bệnh nhân có kết quả test nhanh dương tính trong khoảng 10 ngày. Tuy nhiên, nếu làm xét nghiệm PCR có thể cho kết quả dương tính lâu hơn lên đến hai tháng, nhưng bệnh nhân sẽ không lây nhiễm cho người khác trong khoảng thời gian đó.

        Với xét nghiệm PCR, ngay cả khi virus đã chết, RNA vẫn tồn tại xung quanh, vì vậy bạn có thể nhận được kết quả xét nghiệm PC dương tính giả lên đến hai tháng hoặc lâu hơn sau khi nhiễm bệnh. Trong khi đó, các xét nghiệm kháng nguyên – thường được gọi là test nhanh – phát hiện kháng nguyên hoặc các protein cụ thể từ virus. Xét nghiệm kháng nguyên thường ít nhạy hơn xét nghiệm PCR và cả hai xét nghiệm đều hoạt động tốt nhất ở bệnh nhân có triệu chứng.

        CDC cũng khuyến cáo nên kéo dài thời gian cách ly COVID-19 lên đến 20 ngày với những người tình trạng suy giảm miễn dịch nghiêm trọng như ung thư, HIV, tiểu đường… hoặc những bệnh nhân mức độ nặng với COVID-19.

        Cần test nhanh bao nhiều lần sau khi bình phục? Theo Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn, khi test nhanh dương tính lần đầu với COVID-19, có thể làm lại sau 5 ngày. Nếu dương tính, bệnh nhân nên tiếp tục cách ly thêm 5 ngày nữa. Những người bị suy giảm miễn dịch hoặc bị COVID-19 mức độ nặng cũng có thể xét nghiệm khi kết thúc thời gian cách ly.

        Chuyên mục
        Bệnh Học Chuyên Khoa

        Ung Thư Bàng Quang – Nguyên Nhân Và Những Điều Cần Biết

        Ung thư bàng quang thường bắt đầu trong các tế bào lót bên trong bàng quang. Ung thư bàng quang thường ảnh hưởng đến người lớn tuổi, mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Các chuyên gia bệnh học sẽ chỉ ra những triệu chứng cơ bản của bệnh nguy hiểm này.

          Ung thư bàng quang là căn bệnh khá phổ biến hiện nay.

          Những triệu chứng của bệnh ung thư bàng quang

          Các dấu hiệu và triệu chứng ung thư bàng quang có thể có:

          Máu trong nước tiểu (tiểu máu) – nước tiểu có thể xuất hiện màu vàng đậm, màu đỏ tươi hoặc màu cola. Hoặc nước tiểu có thể xuất hiện bình thường, nhưng có thể được phát hiện máu khi kiểm tra bằng kính hiển vi trong nước tiểu

          • Đi tiểu thường xuyên
          • Đi tiểu đau
          • Đau lưng
          • Đau vùng chậu

          Nguyên nhân gây ung thư bàng quang

          Nguyên nhân gây bệnh ung thư bàng quang không phải lúc nào cũng rõ ràng rõ ràng. Ung thư bàng quang có liên quan đến hút thuốc, nhiễm ký sinh trùng, bức xạ và phơi nhiễm hóa chất.

          Ung thư bàng quang phát triển khi các tế bào trong bàng quang bắt đầu phát triển một cách bất thường. Thay vì phát triển và phân chia một cách trật tự, những tế bào này phát triển đột biến gây phát triển ra khỏi kiểm soát và không chết. Những tế bào bất thường tạo thành một khối u.

          Các dạng ung thư bàng quang

          Các loại tế bào khác nhau trong bàng quang của bạn có thể trở thành ung thư. Các loại tế bào bàng quang nơi ung thư bắt đầu xác định loại ung thư bàng quang. Loại ung thư bàng quang của bạn sẽ xác định phương pháp điều trị có thể làm việc tốt nhất cho bạn. Các loại ung thư bàng quang bao gồm:

          Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp: Ung thư tế bào chuyển tiếp xảy ra trong các tế bào lót bên trong bàng quang của bạn. Những tế bào này cùng một dòng bên trong niệu quản và niệu đạo và các khối u có thể hình thành ở những nơi này là tốt. Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp là loại phổ biến nhất của ung thư bàng quang ở Hoa Kỳ.

          Ung thư biểu mô tế bào vảy: Tế bào vảy xuất hiện trong bàng quang của bạn để đáp ứng với nhiễm trùng và kích ứng. Theo thời gian có thể trở thành ung thư. Vảy tế bào ung thư bàng quang là hiếm ở Hoa Kỳ. Nó là phổ biến hơn ở các bộ phận của thế giới, nơi một nhiễm ký sinh nhất định (sán máng) là một nguyên nhân phổ biến của nhiễm trùng bàng quang.

          Những yếu tố gây ung thư bàng quang

          Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang bao gồm:

          Hút thuốc: Hút thuốc lá, xì gà hay ống có thể làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang bằng chất hóa học gây hại tích lũy trong nước tiểu của bạn. Khi bạn hút thuốc, cơ thể của bạn xử lý các hóa chất trong khói thuốc và đào thải ra một số trong số họ trong nước tiểu của bạn. Những hóa chất độc hại có thể gây hại niêm mạc của bàng quang, có thể làm tăng nguy cơ ung thư.

          Tuổi cao: Nguy cơ gia tăng bệnh ung thư bàng quang theo độ tuổi. Ung thư bàng quang có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng nó hiếm khi được tìm thấy ở những người trẻ hơn 40 tuổi.

          Màu da: Người da trắng có nguy cơ ung thư bàng quang hơn những người thuộc các chủng tộc khác.

          Giới tính: Đàn ông có nhiều khả năng phát triển bệnh ung thư bàng quang hơn so với phụ nữ.

          Tiếp xúc với một số hóa chất: Thận đóng một vai trò quan trọng trong lọc hóa chất độc hại từ máu và di chuyển chúng vào bàng quang. Bởi vì điều này, nó vẫn nghĩ rằng xung quanh một số hóa chất có thể làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang. Hóa chất liên quan đến nguy cơ ung thư bàng quang bao gồm asen, hóa chất sử dụng trong sản xuất thuốc nhuộm, cao su, da, dệt may và các sản phẩm sơn.

          Tiểu sử điều trị ung thư: Điều trị với cyclophosphamide thuốc chống ung thư (Cytoxan) làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang. Những người được xạ trị nhằm vào xương chậu cho một bệnh ung thư trước đó có thể có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư bàng quang.

          Theo các chuyên gia bệnh học thì ung thư bàng quang  do nhiều yếu tố gây nên.

          Dùng thuốc tiểu đường: Những người dùng các thuốc tiểu đường pioglitazone (Actos) trong hơn một năm có thể tăng nguy cơ ung thư bàng quang. Thuốc trị tiểu đường khác chứa pioglitazone, bao gồm cả pioglitazone và metformin (Actoplus Met) và pioglitazone và glimepiride (Duetact).

          Viêm bàng quang mạn tính: Nhiễm trùng mãn tính hoặc lặp đi lặp lại đường tiểu hoặc viêm (viêm bàng quang), chẳng hạn như có thể xảy ra với việc sử dụng lâu dài của một ống thông tiểu, có thể làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang tế bào vảy.Trong một số khu vực của thế giới, ung thư biểu mô tế bào vảy được liên kết với viêm bàng quang mạn tính gây ra bởi nhiễm ký sinh trùng gọi là bệnh sán máng.

          Cá nhân hoặc gia đình bị ung thư: Nếu bạn đã bị ung thư bàng quang, bạn có nhiều khả năng bị mắc lại. Nếu một hoặc nhiều thân nhân có tiền sử ung thư bàng quang, bạn có thể có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Tiền sử gia đình di truyền ung thư đại trực tràng nonpolyposis, còn được gọi là hội chứng Lynch, có thể làm tăng nguy cơ ung thư trong hệ thống tiết niệu của bạn, cũng như trong đại tràng, tử cung, buồng trứng và các cơ quan khác.

          Nguồn: Cao đẳng Dược TPHCM

          Chuyên mục
          Tin Tức Y Dược

          Giáo dục giới tính trong trường học và gia đình còn nhiều rào cản

          Cho đến nay, các vấn đề về tình dục, giới tính đến nay vẫn chỉ được dạy nhỏ giọt, khó trở thành môn học độc lập trong nhà trường, chuyên gia giáo dục phân tích những rào cản này.

          Giáo dục giới tính trong trường học và gia đình còn nhiều rào cản

          Giáo dục giới tính chưa được đầu tư đúng mức:

          Tính đến thời điểm hiện tại, theo số liệu được ban tuyển sinh đại học trường đại học Lương Thế Vinh thống kê: số lượng các vụ xâm hại tình dục hay phá thai ngoài ý muốn ở trẻ vị thành niên ngày càng tăng cao. Mức độ này càng tăng cao trong bối cảnh học sinh phải học online kéo dài do tình hình dịch bệnh. Số lượng các em ở độ tuổi THCS xem phim khiêu dâm ngày càng cao. Khảo sát của UNICEF năm 2020 có tới 49% trẻ vị thành niên tham gia khảo sát thừa nhận đã tiếp xúc với nội dung khiêu dâm trực tuyến. Ghi nhận ở Việt Nam, hội Kế hoạch hóa gia đình cho biết mỗi năm có khoảng 30.000 ca nạo phá thai, chủ yếu ở độ tuổi 15 – 19.

          Phân tích với ban tuyển sinh trường đại học Lương Thế Vinh, nhiều chuyên gia giáo dục chỉ ra rằng, biện pháp hiệu quả nhất để giảm thiểu tình trạng trên đó là việc tăng cường phổ biến kiến thức về giới tính và tình dục cho trẻ.

          Tuy nhiên, các vấn đề về tình dục, giới tính đến nay vẫn chỉ được dạy nhỏ giọt. Trong các trường học ở Việt Nam hiện nay, giáo dục giới tính không phải môn riêng biệt mà được lồng ghép, tích hợp với môn học khác như Khoa học và Sinh học. Trẻ được làm quen với cách vệ sinh thân thể từ lớp ba nhưng phải đến lớp năm, các em mới tiếp xúc với những bài học đơn giản đầu tiên về giáo dục giới tính.

          Tại gia đình, việc giáo dục giới tính cho trẻ cũng ít được thực hiện, hầu hết các bậc phụ huynh cảm thấy ngại, hoặc lảng tránh trước việc trẻ nhỏ tò mò về vấn đề giới tính. Thậm chí khi trẻ tự tìm đến các trang web không lành mạnh về giới tính, thay vì giải thích cho con hiểu rõ, nhiều phụ huynh còn có thái độ tiêu cực, cấm đoán, hoặc đánh mắng con mình. Điều này thực sự gây ra lo lắng lớp cho các nhà giáo dục, cũng như các nhà công tác xã hội.

          Giáo dục giới tính trong trường học và gia đình còn nhiều rào cản

          Những rào cản của giáo dục giới tính trong trường học và gia đình

          Theo các chuyên gia, có nhiều lý do khiến giáo dục giới tính chưa thể trở thành môn học độc lập trong trường học. Trong đó, rào cản lớn nhất liên quan đến những e ngại về hiệu quả của môn học này khi chưa có các nghiên cứu sâu về tác động hai mặt của giáo dục giới tính; cũng như chưa có phương pháp giảng dạy phù hợp với tâm lý người học ở các xã hội Đông Á như Việt Nam.

          Đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, Bộ có nhận được đề xuất đưa giáo dục giới tính trở thành môn học độc lập như Toán hay Tiếng Việt. Tuy nhiên, theo ông, chương trình giáo dục phổ thông mới đã có cách tiếp cận vấn đề này một cách toàn diện, dù không được dạy thành môn riêng. Học sinh sẽ được học về giới tính từ lớp 1, với các kiến thức được tích hợp vào các môn như Tự nhiên và Xã hội, Hoạt động trải nghiệm, Giáo dục thể chất.

          Nhiều chuyên gia giáo dục cũng nhấn mạnh cần chủ động lên kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh tại trường học với tầm nhìn học kỳ hoặc năm học với các giai đoạn rõ ràng; đồng thời chuẩn bị đội ngũ chuyên môn, cập nhật kiến thức sao cho bài bản, nghiêm túc nhưng vẫn đảm bảo sự thoải mái, nhẹ nhàng để thu hút học sinh một cách tự nhiên. Đặc biệt nên mời các chuyên gia tâm lý – giáo dục, các bác sĩ chuyên khoa, các tổ chức y tế báo cáo, tập huấn, giảng dạy kiến thức, kỹ năng, phương pháp giáo dục giới tính nên được thực hiện định kỳ, thường xuyên trong trường học với nhiều hình thức. Tin tức Y Dược, hầu hết các chuyên gia y tế cũng khuyến cáo nên đầu tư hơn nữa cho giáo dục giới tính trong trường học.

          PGS Đỗ Ngọc Khanh cho rằng trong khi giáo dục giới tính chưa trở thành môn riêng, các vai trò của giáo dục trong gia đình là rất quan trọng.  Từ khi trẻ còn nhỏ, thậm chí vài tháng tuổi, cha mẹ nên bắt đầu dạy giới tính cho con bằng cách chăm sóc, nâng niu cơ thể, để con biết trân trọng bản thân. Sau đó, khi con lớn dần, phụ huynh sẽ dạy con về vệ sinh, biết mặc quần áo để che cơ thể. Giáo dục giới tính trong trường học sẽ tiếp nối khi các con đã có kiến thức cơ bản từ gia đình.

          Chuyên mục
          Bệnh Học Chuyên Khoa

          Rối Loạn Dạ Dày – 7 Dấu Hiệu Cần Biết

          Các chuyên gia bệnh học cho biết bệnh rối loạn dạ dày có thể dẫn đến những bệnh tiêu hóa nguy hiểm khác. Hãy điểm mặt những triệu chứng để có cách điều trị kịp thời.

             

            1. Ngực có cảm giác nóng

            Nguyên nhân có thể: Trào ngược axit.

            Phần lớn mọi người sẽ có cảm giác nóng rát ngay dưới xương ức.

            Khắc phục: Không có giải pháp nào phù hợp cho tất cả. Bạn cần tìm ra nguyên nhân để khắc phục. Cần xem xét lại chế độ ăn vì có thể tình trạng của bạn là do những thực phẩm gây ợ nóng. Bạn cũng có thể kê gối một chút khi ngủ (góc khoảng 15 độ) để giúp giảm axit dạ dày.

            2. Đau bụng vùng xung quanh rốn

            Nguyên nhân có thể: Viêm ruột thừa.

            Đau ruột thừa có thể bắt đầu bằng những cơn đau âm ỉ ngay xung quanh rốn. Khi cơn đau tồi tệ hơn, nó sẽ di chuyển về phía hông bên phải.

            Khắc phục: Hãy đi kiểm tra càng sớm càng tốt khi thấy cơn đau bất thường như trên. Nếu bị viêm ruột thừa, bạn có thể cần phẫu thuật. Can thiệp muộn có thể khiến bạn có nguy cơ bị vỡ ruột thừa, điều này rất nguy hiểm.

            3. Đau nhói phần dưới xương sườn

            Nguyên nhân có thể: Sỏi mật.

            Sỏi mật là những cục cholesterol nhỏ và mật có thể nhỏ như hạt đậu hoặc to như quả bóng golf. Bất kể là to hay nhỏ, sự xuất hiện của nó trong túi mật cũng gây ra tình trạng đau nhói, có thể tồi tệ hơn sau khi ăn.

            Khắc phục: Thật không may, estrogen, sử dụng thuốc tránh thai và khả năng sinh sản có thể ảnh hưởng tới nguy cơ mắc sỏi mật. Về cơ bản, phụ nữ có nguy cơ mắc sỏi mật cao hơn. Nếu bị sỏi mật và đang dùng thuốc tránh thai, bạn hãy nói chuyện với bác sĩ sản phụ khoa để đổi phương pháp tránh thai. Sỏi mật thường không gây rắc rối lớn nhưng nếu bạn liên tục bị tình trạng này, bạn có thể cần phẫu thuật.

            4. Bụng khó chịu và buồn đại tiện

            Nguyên nhân có thể: Không dung nạp lactose.

            Đau bụng ở người không dung nạp lactose sẽ không tập trung ở một khu vực cụ thể. Bạn sẽ cảm thấy khó chịu ở toàn bộ bụng vì nó thực sự là một vấn đề của ruột non. Hơn nữa, tình trạng khó chịu do đầy hơi và tiêu chảy này khiến bạn phải vào nhà vệ sinh nhiều lần.

            Khắc phục: Trước tiên, bạn phải xác định được mức độ không dung nạp lactose. Hãy thử lên chương trình dùng một vài ly sữa và xem điều gì sẽ xảy ra.

            5. Dạ dày cảm giác nóng rát

            Nguyên nhân có thể: Loét dạ dày.

            Nếu bạn bị đau bụng hàng ngày và đặc biệt là đau sau khi ăn, đó có thể là dấu hiệu điển hình của loét dạ dày. Không giống với ợ nóng, bạn sẽ cảm thấy nóng ngay trong ruột chứ không phải ở ngực.

            Khắc phục: Ngừng dùng các thuốc giảm đau không kê đơn như ibuprofen vì chúng có thể khiến tình trạng tồi tệ hơn. Khám bác sĩ: phụ thuộc vào độ nặng của loét, bạn có thể cần dùng thuốc hoặc phẫu thuật.

             6.Bụng đau quặn và tiêu chảy kéo dài

            Nguyên nhân có thể: Nhạy cảm với gluten.

            Nếu bạn bị dị ứng với gluten hoặc có bệnh đường ruột, bạn sẽ có dấu hiệu trướng bụng, đầy hơi và đau quặn trong ruột sau khi ăn những thực phẩm chứa gluten.

            Khắc phục: Bạn cần kiểm tra phản ứng với một số loại thực phẩm và hỏi ý kiến bác sĩ về cách tốt nhất để loại bỏ chúng. Nếu bị dị ứng nặng, bạn có thể cần tư vấn của bác sĩ dinh dưỡng để đảm bảo vẫn nhận đủ dinh dưỡng cần thiết.

            7. Tiêu chảy ra máu, đau bụng kèm sốt

             

            Nguyên nhân có thể: Viêm đại tràng, hoặc bệnh Crohn.

            Cùng với đầy hơi co thắt, trướng bụng, bạn cũng có thể thấy máu trong phân, kèm theo buồn nôn và sốt.

            Khắc phục: Đi khám bác sĩ. Bệnh Crohn và viêm đại tràng có cùng độ nặng. Tùy thuộc vào tình trạng của bạn, bác sĩ có thể kê thuốc chống viêm hoặc những biện pháp điều trị tích cực hơn. Cả hai bệnh này đều có thể gây nguy hiểm nếu không được kiểm soát đúng cách.

             Nguồn: Cao đẳng Dược TPHCM

            Exit mobile version