Dạo gần đây em sụt cân em có biểu hiện bị đau bụng. Lúc ăn quá nhanh, ăn chua, ăn đồ cay, hoặc qua no, quá đói đều đau. Đôi khi đau nhói quằn quại nhưng hôm sau là hết.
Cho em hỏi bệnh của em như có nghiêm trọng không? Em đọc trên báo gần đây nói về ung thư trực tràng. Em cũng lo lắm.
Với những triệu chứng mà em mô tả tôi nghĩ nhiều đến viêm loét dạ dày. Sụt cân có thể do ăn uống kém gây ra. Em không nên quá lo lắng về vần đề ung thư trực tràng vì những dấu hiệu này không liên quan đến bệnh lý ung thư trực tràng. Em có thể đi khám Bệnh chuyên khoa Nội tiêu hóa em nhé.
Ngoài ra, các bệnh viện công đều có hệ thống quản lý, xử lý BHYT, thủ tục như nhau, vì vậy em có thể khám tại nơi đăng ký BHYT ban đầu em nhé.
Bệnh tự miễn là tình trạng bệnh lý xảy ra do hệ thống miễn dịch của cơ thể mất khả năng phân biệt các kháng nguyên bên ngoài và tự kháng nguyên của cơ thể do đó sinh ra các phản ứng miễn dịch giữa kháng thể với chính tự kháng nguyên.
Theo các bác sĩ giải đáp bệnh học chuyên khoa cho biết, cơ chế bệnh sinh của các bệnh tự miễn phụ thuộc vào các bệnh lý cụ thể. Bình thường trong thời kì bào thai các thành phần của cơ thể đã tiếp xúc với hệ nội mô, về sau khi cơ thể tiếp xúc lại sẽ nhận biết được đây là các tự kháng nguyên của cơ thể và không xảy ra phản ứng miễn dịch, đó là tính dung nạp miễn dịch. Tính dung nạp miễn dịch này làm phát sinh bệnh tự miễn trong các trường hợp sau:
– Có sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa kháng nguyên lạ với một thành phần của cơ thể từ đó xảy ra phản ứng miễn dịch kháng thể chống các cấu trúc của cơ thể đó, gặp trong bệnh lý thấp tim sau nhiễm liên cầu tan máu nhóm A (do chất hexosamine có trong liên cầu cũng có trong gluco protein ở van tim, vì vậy kháng thể kháng liên cầu cũng kháng luôn van tim)
– Tác động của nhiễm độc, nhiễm khuẩn và các chấn thương thì một số tế bào của cơ thể bị tổn thương và câu trúc bị thay đổi trở thành vật lạ, điều này dẫn đến sự nhận diện sai lầm của kháng thể đến các cấu trúc mới này và sinh ra phản ứng chống lại, ví dụ viêm gan virus
– Do một số bộ phận của cơ thể máu không tiếp xúc trực tiếp trong quá trình bào thai nên các tế bào miễn dịch không đến được, khi các tế bào này xuất hiện trong máu (ví dụ chấn thương) thì nó đóng vai trò như thành phần lạ và sinh ra phản ứng miễn dịch của cơ thể chống lại. Ví dụ trong bệnh nhân mắt, khi bị tổn thương một bên làm xuất hiện kháng thể chống lại luôn mắt kia gây nên bệnh viêm mắt giao cảm
Trong trường hợp các tế bào miễn dịch của cơ thể suy yếu khả năng kiểm soát thì các tế bào này sẽ phát triển và sản xuất ra các kháng thể chống lại các thành phần vốn đã quen thuộc với cơ thể. Ví dụ bệnh lí hệ võng nội mô thường sẽ kèm theo thiếu máu tan huyết do xuất hiện các kháng thể hồng cầu tự sinh ra.
Đặc điểm các bệnh lí tự miễn
Đặc điểm các bệnh lí tự miễn
Bệnh lí tự miễn là bệnh thường gặp ở những người có lứa tuổi từ 20-40 tuổi, trẻ nhỏ và người già thì ít gặp hơn, bệnh xảy ra ở nữ nhiều hơn nam, thường có yếu tố di truyền, do đó bệnh có tính chất gia đình. Bệnh tiến triển mạn tính và bùng phát theo từng đợt dai dẳng, tổn thương có thể khu trú hoặc tổn thương hệ thống phụ thuộc vào các phản ứng miễn dịch xảy ra như thế nào. Bệnh nguyên không rõ ràng, tuy nhiên các nghiên cứu chỉ ra những yếu tố làm tăng nặng tình trạng bệnh bao gồm các bệnh lí nhiễm độc, nhiễm trùng cấp, mạn và những thời kì biến đổi tâm sinh kí và thể chất của con người, các tác nhân vật lý như ánh nắng, hay sau sử dụng một số thuốc sẽ làm phát sinh hoặc tăng nặng tình trạng bệnh. Bệnh đáp ứng khá tốt với một số thuốc ức chế miễn dịch nhất là corticoid.
Không có bất cứ tiêu chuẩn chung nào cho chẩn đoán các bệnh lý tự miễn, tuy nhiên các bệnh lý này rất dễ nhận biết trên lâm sàng, cộng với một số xét nghiệm gợi ý hướng đến bệnh tự miễn như giảm hồng cầu không rõ nguyên nhân, tốc độ lắng máu tăng, tăng gama globulin. Để chẩn đoán chính xác cần dựa trên sự phát hiện các tự kháng thể, các kháng thể càng đặc hiệu càng chính xác và điều này chỉ thực hiện được ở các trung tâm chuyên sâu và có kĩ thuật cao.
Bệnh béo phì không chỉ khiến bạn tự ti về ngoại hình sồ xệ, khó di chuyển mà còn gây nên nhiều vấn đề sức khỏe khác đặc biệt là các bệnh liên quan đến tim mạch.
Bệnh béo phì là căn bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi
Bệnh béo phì là căn bệnh thường gặp do rối loạn chuyển hóa chất béo trong cơ thể. Béo phì làm ảnh hưởng đến vóc dáng của bệnh nhân và làm tăng nguy cơ mắc bệnh bệnh tim mạch, tiểu đường và huyết áp cao.
Triệu chứng thường gặp của béo phì
Theo các bác sĩ tư vấn, tất cả mọi người đều có thể tự kiểm tra tình trạng béo phì của mình thông qua chỉ số khối cơ thể (BMI), chỉ số này cao hơn 25 là thừa cân, cao hơn 30 là béo phì và cao hơn 40 là béo phì nghiêm trọng. Công thức tính BMI là: BMI = Cân nặng (kg)/ (chiều cao (m) x chiều cao (m). BMI giúp ước tính lượng chất béo phù hợp trong cơ thể. Tuy nhiên, BMI không trực tiếp đo lượng chất béo, ví dụ vận động viên thể hình có thể có chỉ số BMI ở mức béo phì do cơ bắp của họ phát triển quá nhiều nên chiếm khối lượng lớn mặc dù họ không có chất béo dư thừa trong cơ thể. Vì vậy chỉ số BMI sẽ không phản ánh chính xác tình trạng béo phì, bạn cần tham vấn thêm lời khuyên của bác sĩ.
Béo phì làm tăng nguy cơ dẫn đến cao huyết áp, tiểu đường và bệnh tim mạch vành, làm tăng viêm khớp, gây khó thở khi gắng sức, ngưng thở khi ngủ và mệt mỏi… khi gặp các triệu chứng này cần liên hệ với bác sĩ chữa trị các bệnh học chuyên khoa để nhận được sự tư vấn tốt nhất.
Nguyên nhân gây ra bệnh béo phì
Nguyên nhân bệnh béo phì là do hấp thu quá nhiều calo. Có thể là do gen, yếu tố di truyền (cha mẹ di truyền gen mang khuynh hướng tăng cân cho con), do các lí do tâm lí hoặc do văn hóa xã hội.
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh béo phì
Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh béo phì như: gen di truyền, lối sống gia đình, ít vận động, chế độ ăn uống không lành mạnh nhiều calo và chất béo, hút thuốc, tuổi tác, sử dụng một số thuốc gây tăng cân…
Điều trị hiệu quả bệnh béo phì
Để chẩn đoán bệnh béo phì, bác sĩ sẽ khám lâm sàng và hỏi về tiền sử bệnh, thói quen ăn uống, mức độ tập thể dục của bệnh nhân, sau đó có thể tiến hành đánh giá trọng lượng và đo lường rủi ro sức khỏe ( chỉ số BMI và vòng eo). Theo đó, để điều trị bệnh béo phì, các chuyên gia Hỏi đáp bệnh họccho biết, bệnh nhân cần có chế độ ăn kiêng, tập thể thao và phẫu thuật đều có thể áp dụng. Tập thể dục là một cách hiệu quả để đốt cháy calo trong cơ thể. Chỉ nên dùng thuốc điều trị béo phì sau khi áp dụng chế độ ăn kiêng và tập thể dục không hiệu quả bởi vì một vài loại thuốc có thể gây ra tác dụng phụ và phải sử dụng thuốc dưới sự giám sát trực tiếp của bác sĩ.
Bạn cũng nên hạn chế thói quen ăn vặt do stress thông qua các phương pháp giảm stress khác như yoga, tập thể dục hoặc dùng thuốc. Trong trường hợp bệnh nhân mắc bệnh béo phì (trên mức 100% trọng lượng lý tưởng của cơ thể hoặc có chỉ số BMI cao hơn 40) và đã sử dụng những phương pháp giảm béo khác không hiệu quả thì có thể cân nhắc đến biện pháp phẫu thuật (thu nhỏ dạ dày, băng dạ dày hoặc thắt dạ dày). Ngoài ra, bạn cần xây dựng khẩu phần ăn hợp lý: ăn nhiều chất đạm protein, hạn chế tiêu thụ đường, ăn kiêng lành mạnh, sử dụng rau củ quả tự nhiên, chất xơ, trà xanh, sữa chua nguyên chất, uống nhiều nước giúp tăng đốt cháy calo trong cơ thể, tránh nạp calo lỏng như sữa socola, nước ngọt có đường, ngũ cốc…
Cần xây dựng chế độ ăn uống lành mạnh, luyện tập để hạn chế nguy cơ mắc bệnh béo phì
Đảm bảo ngủ đủ giờ 7-8 giờ một ngày, ngủ sớm, hạn chế thức khuya, theo dõi cân nặng hàng tuần và khám sức khỏe định kì 3-6 tháng. Luyện tập thể dục thể thao, yoga, tham gia các câu lạc bộ hoạt động thể lực giúp bạn kiểm soát cân nặng tốt hơn.
Khi thời tiết thay đổi đột ngột khiến phong tà bệnh độc rất dễ xâm nhập cơ thể, gây ho. Lúc này bạn có thể tham khảo một số bài thuốc đơn giản trị ho từ các loài hoa.
Theo y học cổ truyền, ho có thể phân thành 2 dạng: một là bệnh tại tạng phế sinh ra, hai là do các tạng phủ khác bị bệnh mà lan truyền vào phế gây bệnh tại phế…
Tà khí từ bên ngoài vào hay tà khí tự sinh ra ở bên trong, đều có thể gây ra tình trạng phế mất tuyên giáng, phế khí thượng nghịch lên trên mà gây ho.
Bài thuốc điều trị ho từ các loài hoa
Trị ho do phế hư: Hoa kim tước 500g, mật ong 500g. Hoa kim tước rửa sạch, đem sắc 3 lần, mỗi lần trong 30 phút rồi trộn cả 3 nước sắc lại, đổ mật ong vào cô lại bằng lửa nhỏ thành dạng cao đặc, để nguội rồi đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa với nước ấm.
Trị ho có kèm theo khó thở do co thắt phế quản: Hoa cúc bách nhật (100-200g) sấy khô, tán bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g với nước đun sôi để nguội.
Trị các chứng ho: Hoa đỗ quyên 200g, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10g với nước đun sôi để nguội.
Trị chứng ho suyễn lâu ngày: Khoản đông hoa 250g, tuyền phúc hoa 250g, mật ong 500g. Hai loại hoa cho vào túi vải, ngâm nước trước khi sắc. Sắc nhỏ lửa 30 phút, sắc 3 lần như vậy rồi hoà 3 nước sắc với nhau, thêm mật ong, đem cô nhỏ lửa cho đến khi thành dạng cao đặc, để nguội, đựng trong lọ kín dùng dần. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 10ml, dùng liên tục trong 15 ngày.
Trị ho gà: Hoa đu đủ đực 30g, đem hấp với đường phèn lượng vừa đủ, chia uống vài lần trong ngày. Người bệnh cũng có thể kết hợp hấp thêm với lá hẹ 10g, hạt chanh 10g.
Vị thuốc Tuyền phúc hoa
Trị ho do cảm mạo phong hàn, khạc đờm trắng loãng, tiếng ho nặng: Tuyền phúc hoa 5g, hạnh nhân 10g, khoản đông hoa 10g, đường đỏ 30g. Sắc kỹ, lấy nước bỏ bã, thêm đường đỏ, uống nhiều lần thay trà trong ngày.
Trị ho có kèm theo khó thở: Khoản đông hoa 15g, cúc bách nhật 15g, mật ong 250g. Hai thứ hoa đem sấy khô tán bột rồi hoà với mật ong, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10ml với nước ấm.
Trị ho do phong nhiệt, tác dụng lợi tiểu tiêu thũng, giải độc: Dã cúc hoa 30g, bạch mao căn 30g, đường trắng 30g. Đem dã cúc hoa và bạch mao căn hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, pha với đường trắng uống thay trà.
Trị ho do cảm mạo phong nhiệt, có sốt, tức ngực, khó thở, khạc đờm vàng: Hoa mướp 24g rửa sạch, hãm với nước sôi trong bình kín 15-20 phút thì dùng được, pha thêm mật ong, uống thay trà.
Trị chứng ho có khạc nhiều đờm: Hoa bách hợp 30g, mật ong 50g. Hấp cách thuỷ, chia ăn trong ngày, 7-10 ngày là một liệu trình.
Trị ho do đàm nhiệt, thuận khí chỉ khái, tán uất: Hoa mai khô 5g đem hãm với nước sôi, uống thay trà.
Trị chứng ho ở những người suy nhược cơ thể: Hoa phù dung 50g, gan lợn 150g và gia vị vừa đủ. Đem hoa phù dung luộc cùng gan lợn, khi chín lấy gan lợn ra thái miếng, bỏ bã hoa, thêm gia vị, ăn gan, uống nước luộc.
Ngoài ra thầy thuốc Hữu Định – giảng viên Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cho biết thêm, người bệnh có thể dùng hoa phù dung hãm uống thay trà cùng với đường phèn.
Hoa quế khô
Trị ho do đàm thấp, ho và khạc đờm nhiều, đờm sắc trắng hoặc trắng xám: Hoa quế khô 3g, vỏ quýt 10g. Hai thứ thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, uống thay trà.
Trị ho do phế táo, tác dụng nhuận phế chỉ khái, giải độc: Kim ngân hoa 30g sắc với 500ml nước trong 15 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, hoà thêm 50g mật ong, chia uống trong ngày.
Trị ho và khái huyết tư âm nhuận táo: Hoa phượng tiên 30g, trứng gà 3 quả. Trứng gà luộc chín, bóc bỏ vỏ, sắc với hoa phượng tiên 30 phút, khi được, ăn trứng và uống nước luộc.
Trị ho và trấn khái hoá đàm, khái huyết hạ khí: Hoa sơn trà 30g sấy khô, tán bột hoà đều với 250g mật ong, đựng trong lọ kín dùng dần. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 10ml với nước ấm.
Trị ho do phong nhiệt và đàm nhiệt: Hoa mai khô 10g, gạo tẻ 60g, khoản đông hoa 10g, mật ong vừa đủ. Gạo nấu thành cháo rồi cho hoa mai và khoản đông hoa đã tán thành bột vào đun thêm 5 phút nữa, thêm mật ong, chia ăn 2-3 lần trong ngày.
Đây là những bài thuốc trị ho hữu từ các loài hoa hiện nay. Tuy nhiên để phù hợp với tình trạng cơ thể, bạn nên khám và tham vấn trực tiếp từ y bác sĩ.
2 ngày nay em có biể hiện bị đau cứng hết vùng bụng. Nằm hoặc ngồi thì không sao nhưng đứng và đi lại thì đau không tưởng được, khó thở.
Em đi siêu âm thì vẫn bình thường. Em muốn hỏi em bị như vậy là do đâu? Em không mang thai. Em cảm ơn ạ!
Chu Thị Dung – Thái Nguyên
Đau chỉ khi em đi đứng và siêu âm bình thường thì ít nguy hiểm, thường là do cơ thành bụng. Vì nếu đau do các tạng trong ổ bụng thì dù là đau quặn từng cơn (tạng rỗng như ruột, dạ dày…) hay đau liên tục (tạng đặc như tụy, gan, viêm phúc mạc…) thì chắc chắn đau sẽ diễn ra bất kể đi đứng nằm ngồi.
Tuy nhiên, để chẩn đoán chắc chắn được bệnh thì cần phải thăm khám trực tiếp và xem xét các xét nghiệm em đã làm.
Hiện tại chưa có gì nguy hiểm thì em có thể theo dõi thêm, nên chườm ấm bụng, xoa dầu, nghỉ ngơi, ăn nhẹ, chú ý nếu có triệu chứng như sốt, nôn ói, mệt lả, tiêu chảy, không xì hơi được, đau cả khi nằm ngồi thì phải đi khám để kiểm tra lại.
Trong nhiều trường hợp bệnh nhân có lối sống kém lành mạnh, tiền tăng huyết áp sẽ diễn biến thành bệnh tăng huyết áp thực sự, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người bệnh.
Nguyên nhân và triệu chứng của bệnh tiền tăng huyết áp
Nguyên nhân và triệu chứng của bệnh tiền tăng huyết áp
Theo các bác sĩ tư vấn, huyết áp cao hơn mức tối ưu nhưng chưa đủ tiêu chuẩn tăng huyết áp được gọi là tiền tăng huyết áp. Theo đó, căn bệnh này luôn có nguy cơ trở thành bệnh tăng huyết áp. Những người có tình trạng tiền tăng huyết áp có một lối sống lành mạnh nếu không muốn mắc bệnh. Cả hai tình trạng: tiền tăng huyết áp và bệnh tăng huyết áp đều khiến bệnh nhân đứng trước nguy cơ bệnh lý thường gặp như đau tim, suy tim, thậm chí đột quỵ.
Huyết áp có hai chỉ số thường được quan tâm nhất: Huyết áp tối đa (áp lực của máu trong thì tâm thu) và huyết áp tối thiểu (áp lực của máu trong thì tâm trương). Huyết áp tối đa ở trên tử số, với tiền tăng huyết áp chỉ số huyết áp tối đa là 120-139 milimét thủy ngân (mmHg). Huyết áp tối thiểu nằm ở dưới mẫu số, có giá trị 80-89 mmhg trong tiền tăng huyết áp.
Bất kỳ yếu tố nào làm tăng áp lực máu lên thành mạch đều có thể là nguyên nhân dẫn tới tăng huyết áp. Các yếu tố này chủ yếu thuộc bởi 3 nhóm: các yếu tố làm hẹp, cản trở lòng mạch; các yếu tố làm tăng nhịp tim; các yếu tố làm tăng thể tích tuần hoàn. Cụ thể có thể kể đến các yếu tố chính sau:
Trong nhiều trường hợp, huyết áp cao có thể diễn biến âm thầm trong nhiều năm mà không có nguyên nhân cụ thể nào. Mặt khác, bệnh tiền tăng huyết áp rất khó chẩn đoán vì thông thường không biểu hiện ra dấu hiệu hay triệu chứng nào. Không chỉ tiền tăng huyết áp, ngay cả tăng huyết áp thực sự trong giai đoạn đầu cũng diễn ra âm thầm. Bệnh nhân thường phát hiện bệnh khi khám định kỳ hoặc theo dõi huyết áp vì các lí do ngẫu nhiên. Việc kiểm tra huyết áp này có thể thực hiện tại nhà hoặc các cơ sở y tế, sử dụng nhiều loại thiết bị, từ máy đo huyết áp cơ, máy đo huyết áp điện tử đến máy Holter theo dõi huyết áp 24h.
Những nguy hiểm do tiền tăng huyết áp gây ra
Lời khuyên của các bác sĩ điều trị bệnh học chuyên khoa đưa ra là nên kiểm ra huyết áp ít nhất mỗi hai năm một lần. Trong những trường hợp nguy cơ cao hoặc mắc các bệnh lý liên quan, có thể cần kiểm tra thường xuyên hơn.
Những nguy hiểm do tiền tăng huyết áp gây ra
Bệnh tiền tăng huyết áp là căn bệnh nguy hiểm có thể để lại nhiều biến chứng nguy cơ mắc bệnh như:
Thừa cân, béo phì: Thừa cân béo phì thường đi kèm với các rối loạn mỡ máu. Đồng thời, khi cân nặng gia tăng sẽ yêu cầu khối lượng máu lớn hơn cho nhu cầu oxy và dinh dưỡng tới các mô. Thể tích máu tăng lên kèm theo những nguy cơ về xơ vữa động mạch có thể gây nên tình trạng tăng huyết áp.
Tuổi: Theo những báo cáo mới đây về dịch tễ học, người trưởng thành có tỷ lệ mắc tiền tăng huyết áp cao hơn người già. Tương quan này ngược lại ở bệnh tăng huyết áp thực sự, người già có nguy cơ mắc cao hơn người trẻ tuổi.
Giới tính: bệnh thường gặp ở nam nhiều hơn nữ.
Ngoài ra, những bệnh lý mãn tính như rối loạn mỡ máu, đái tháo đường hay hội chứng ngưng thở khi ngủ đều được chứng minh có liên quan và làm tăng nguy cơ tiền tăng huyết áp.
Tiền tăng huyết áp khác với tăng huyết áp, nó thường không có biến chứng. Nếu tiền tăng huyết áp diễn biến thành tăng huyết áp mới xuất hiện những mối nguy cơ biến chứng trên khắp các cơ quan trong cơ thể. Thuật ngữ “tiền tăng huyết áp – prehypertension” thậm chí không được coi là một bệnh chính thức. Các chuyên gia Hỏi đáp bệnh học thường đưa ra khái niệm này như một lời cảnh báo cần thiết phải thay đổi lối sống và dự phòng tăng huyết áp thực sự.
Ung thư tuyến giáp là căn bệnh nguy hiểm và có thể để lại biến chứng hoặc có nguy cơ tái phát khi đã được điều trị bằng các phương pháp Y học.
Ung thư tuyến giáp nguy hiểm như thế nào?
Tuyến giáp là tuyến nội tiết của cơ thể người, có hình cánh bướm, nằm tại vùng cổ phía trước bên dưới. Do các nguyên nhân mà tuyến này hình thành khối u, nó sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống và thậm chí là mạng sống của con người nếu không được phát hiện kịp thời.
Ung thư tuyến giáp nguy hiểm như thế nào?
Ung thư tuyến giáp là căn bệnh hô hấp hiếm gặp so với nhiều loại bệnh ung thư khác. Tuy nhiên, tốc độ phát triển thì ung thư tuyến giáp đứng vào hàng khá cao khi mà ngày nay, tỷ lệ mắc phải không ngừng gia tăng. Ung thư tuyến giáp có thể lấy đi mạng sống của bạn nếu nó di căn, nhưng đó là câu chuyện giả thiết với tỷ lệ xảy ra khá thấp.
Ung thư tuyến giáp đôi khi không có nhiều dấu hiệu báo trước, cũng không có triệu chứng điển hình. Có rất nhiều bệnh nhân phát hiện ra ung thư tuyến giáp khi đi khám sức khỏe định kì như siêu âm hay chụp CT chứ không phải do nghi ngờ khi thấy bất thường ở cổ. Nếu ung thư tuyến giáp được nghi ngờ do bệnh nhân, thông thường hay dựa vào các quan sát thường nhất như soi gương, trang điểm, cài khuy áo, thắt cavat…vv…
Theo đó, ung thư tuyến giáp không quá gây nguy hiểm cho người mắc nếu khi phát hiện kịp thời. Ung thư tuyến giáp có tỷ lệ tử vong khá thấp, tuy nhiên nó phải được điều trị dứt điểm để tránh tái phát hoặc di căn. Thông thường ung thư tuyến giáp cơ bản đều có thể điều trị thành công nhưng có thể tái phát nếu các bạn không tuân thủ theo đúng những sự hướng dẫn của bác sĩ.
Nguyên nhân và cách phòng tránh ung thư tuyến giáp
Nguyên nhân và cách phòng tránh ung thư tuyến giáp
Theo các chuyên gia Hỏi đáp bệnh học, hiện nay nguyên nhân gây ra ung thư tuyến giáp chưa rõ ràng, tuy nhiên có 2 nguyên do chủ yếu cũng đã được thống kê với những con số thực tế đó là: do nhiễm bức xạ và do di truyền.
Tia Xquang trong điều trị một số bệnh ung thư, amidan, hạch…vv… làm tăng nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp của con người lên gấp nhiều lần nếu như phần cổ không được che chắn cẩn thận. Tia X có thể gây ung thư tuyến giáp áp dụng trong điều trị bệnh, còn trong các khám bệnh thông thường như chụp X quang vùng hàm mặt, ngực không gây nhiều hậu quả liên quan đến ung thư tuyến giáp.
Ung thư tuyến giáp được ghi nhận nhiều trường hợp mắc ung thư tuyến giáp mà họ đều trong cùng một gia đình. Nếu trong gia đình bạn có người mắc ung thư tuyến giáp, bắt đầu từ độ tuổi 30 trở đi, bạn nên có một chế độ theo dõi và khám tuyến giáp một cách định kì để phát hiện sớm.
Cách phòng tránh ung thư tuyến giáp
Những cư dân thuộc nơi có thảm họa hạt nhân thì nên bổ sung kali iođua (potassium iodide) để phòng ung thư tuyến giáp. Có chế độ ăn uống và lối sống lành mạnh, hợp lý. Ngoài ra, việc thăm khám định kì để tránh được các căn bệnh thường gặp là điều quan trọng, mặt khác nên bổ sung các thực phẩm tốt cho tuyến giáp luôn là sự lựa chọn hoàn hảo cho các bạn như: cá, rau xanh, quả mọng, hạnh nhân…vv… đặc biệt là nhóm những người có nguy cơ cao mắc ung thư tuyến giáp như tiền sử gia đình, sống trong môi trường độc hại…vv…
Cách phòng tránh ung thư tuyến giáp là bổ sung các thực phẩm dinh dưỡng
Ung thư tuyến giáp tuy là một dạng ung thư nhỏ với tỷ lệ mắc không cao, tuy nhiên nó cũng rất nguy hiểm nếu không được chữa trị kịp thời. Một cách khắc phục tối ưu nhất là các bạn nắm rõ được các nguyên nhân gây bệnh ung thư tuyến giáp và có biện pháp phòng tránh phù hợp.
Hải đồng bì vào kinh tâm, tỳ, có tác dụng trong việc điều trị nhiều bệnh như: huyết hư, chân co quắp không duỗi ra được, chữa phong nhiệt, các bệnh ngoài da,…
Hải đồng bì còn có tên khác là thích đồng bì, vông nem.
Tên khoa học Erythrina variegata L.), họ Đậu (Fabaceae). Vị thuốc này có nhiều ở các nước Đông Nam Á, trong đó được trồng nhiều ở nước ta.
Lá, hoa và vỏ cây (Cortex et Folium Erythrinae Variegatae) là những bộ phận được sử dụng làm thuốc. Chúng được thu hái vào mùa xuân; có thể dùng tươi hoặc khô. Riêng với phần vỏ thân, bạn cần cạo sạch lớp bần khô bên ngoài, rửa sạch, thái mỏng và phơi sấy khô, bảo quản tránh ẩm.
Theo nghiên cứu hiện đại, hải đồng bì có chứa các thành phần hóa học như: alkaloid (erysothrin, erythrinin, erysodin, erybidin, N-nororientalin, hypaphorin,…); có tác dụng làm giảm hoạt động của hệ thần kinh trung ương.
Theo y học cổ truyền, hải đồng bì vị đắng, tính bình; vào kinh tâm, tỳ. Lá cây Thích đồng bì có tác dụng sát trùng, an thần, tiêu cam tích; thường được sử dụng để điều trị mụn nhọt lở loét, mất ngủ, cam tích.
Vỏ cây (hải đồng bì) có tác dụng thông kinh lạc, khứ phong thấp, sát trùng. Liều lượng: 4-6g.
Tham khảo bài thuốc điều trị bệnh từ Hải đồng bì
Hải đồng bì trị đau dữ dội vùng lưng và đầu gối: hải đồng bì 60g, ngưu tất 30g, khương hoạt 30g, xuyên khung 30g, địa cốt bì 30g, ngũ gia bì 30g, cam thảo 15g, ý dĩ nhân 60g, sinh địa 300g, rượu trắng 2.400ml. Ngâm 20-30 ngày. Ngày uống 3 lần (sáng, trưa, tối), mỗi lần 50ml (Tục truyền tín phương).
Hải đồng bì trị huyết hư: hải đồng bì 15g, ngưu tất 15g, mần tưới 15g, mần trầu 15g. Sắc uống. (theo Nam dược thần hiệu).
Hoặc: hải đồng bì 15g, phòng kỷ 15g, ý dĩ sao 15g, ngũ gia bì 15g, kê huyết đằng 15g, ngưu tất 15g. Sắc uống. Thích hợp cho phụ nữ sau khi đẻ choáng váng, mờ mắt, sa sẩm mặt mũi.
Vỏ cây Hải đồng bì là những bộ phận được sử dụng làm thuốc
Hải đồng bì trị kinh nguyệt không đều, rong kinh: hoa thích đồng bì 15g, sắc uống (theo Lương y Lê Trần Đức).
Hải đồng bì trị chân co quắp không duỗi ra được: Sử dụng bài Hải đồng bì tán: hải đồng bì 30g, ngưu tất 30g, thục địa 30g, đương quy 30g, bổ cốt chỉ 15g, mẫu đơn bì 30g, sơn thù du 15g. Tất cả nghiền thành bột. Mỗi lần dùng bột thuốc 3g và hành 5g; sắc với 100ml nước, bỏ bã, uống nóng.
Hải đồng bì trị một số bệnh ngoài da: hải đồng bì, xà sàng tử, vỏ cây dâm bụt, chút chít; liều lượng bằng nhau. Tất cả tán bột, pha với rượu tỷ lệ 1/5. Bôi ngoài da.
Hải đồng bì trị phong nhiệt: hải đồng bì, xà sàng tử, liều lượng bằng nhau. Tất cả nghiền bột, trộn với mỡ lợn, bôi chỗ ngứa (theo Như tuyên phương).
Hải đồng bì trị trẻ em cam tích, trừ giun đũa: lá thích đồng bì 1-3g nghiền bột, uống với nước.
Hải đồng bì trị rắn cắn: vỏ thích đồng bì thái nhỏ, đun với ít nước, nghiền thành bột, đắp nơi rắn rết cắn, theo thầy thuốc Hữu Định – giảng viên Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur.
Hải đồng bì trị mất ngủ:
Bài 1: lá thích đồng bì non 20g, ngó sen 100g, gan lợn 100-150g. Thích đồng bì, ngó sen đem thái nhỏ; gan lợn thái lát. Xào chín, thêm gia vị, ăn bữa chiều.
Bài 2: Thích đồng bì 5g, lá dâu 6g, lạc tiên 5g, tâm sen 5g. Sắc hãm lấy nước uống
Bài 3: lá thích đồng bì non 30g, lá dâu non 30g, vừng đen 100g, đậu đen 100g. Vừng rang tán mịn; lá thích đồng bì, lá dâu thái nhỏ. Nấu đậu cho nhừ, cho vừng và các lá vào; đun sôi lại. Bạn có thể thêm đường hay muối tùy theo sở thích, ăn bữa chiều.
Hi vọng những thông tin trên mang đến cho bạn những kiến thức hữu ích. Tuy nhiên cần nhớ rằng điều này không thể thay thế cho lời khuyên của bác sĩ. Vì vậy hãy tham khảo ý kiến của những người có chuyên môn trước khi sử dụng để đạt được hiệu quả cao nhất.
Con tôi hiện nay 3 tuổi, Cháu có biểu hiện buổi tối thường ho khò khè cảm giác như bị khó thở.
Tôi muốn hỏi các biểu hiện triệu chứng của cháu có phải là bệnh hen suyễn hay không? Tôi cảm ơn!
Bệnh học chuyên khoa nói về dấu hiệu nhận biết bệnh hen suyễn
Bệnh hen phế quản (hay suyễn) có 2 hiện tượng đặc trưng là viêm và co thắt đường thở, hay tái đi tái lại, phục hồi tự nhiên hoặc qua điều trị. Viêm đường thở mạn tính nghĩa là sưng viêm lâu dài làm cho đường thở trở nên rất nhạy cảm với các chất kích ứng khác nhau gây ra những đợt co thắt phế quản biểu hiện bằng triệu chứng ho, khò khè, khó thở…
Các triệu chứng trên thường xảy ra vào đêm và gần sáng. Khi tiếp xúc với các yếu tố kích ứng còn gọi là yếu tố khởi phát như thời tiết thay đổi, bụi, lông thú hoặc hoạt động, chơi đùa gắng sức thì những người bị viêm đường thở sẽ dễ khởi động cơn hen hơn những người không bị viêm.
Khi tiếp xúc với các yếu tố khởi phát hoặc còn gọi là yếu tố thúc đẩy trên, đường thở sẽ phù nề, co thắt, chứa đầy chất nhầy nên lòng đường thở (phế quản) càng nhỏ lại gây tắc nghẽn khiến người bệnh lên cơn ho, khò khè, khó thở. Hen phế quản (suyễn) là bệnh không lây lan, không truyền nhiễm mà có tính chất gia đình, di truyền.
Hội chứng dị ứngvật nuôi và những vấn đề liên quan
Các phản ứng như ngứa, nổi mẩn, hắt hơi, khó thở… của cơ thể khi tiếp xúc với vật nuôi chính là tình trạng dị ứng vật nuôi. Có rất nhiều người mắc phải hội chứng này; mặc dù rất thích chó, mèo nhưng không biết làm cách nào để có thể gần và nuôi chúng.
Cơ thể bị mẫn cảm với vật nuôi khi nào?
Hội chứng dị ứng vật nuôi là căn bệnh thường gặp ở nhiều người, đây là phản ứng của cơ thể trước các protein lạ, loại protein này có trong các tế bào da, lông, nước bọt, thậm chí là nước tiểu… của động vật (nhất là chó, mèo). Khi cơ thể phát hiện các protein lạ này sẽ có các phản ứng như: triệu chứng đầu tiên của cơ thể thường là hắt hơi, mũi có cảm giác bị ngứa, chảy nước mũi, nước mắt. Một số trường hợp người bệnh bị ho, nghẹt mũi, ngứa họng; thậm chí là khó thở, đau thắt ngực. Nếu dị ứng nặng có thể đau ở vùng mặt, cảm giác mặt bị tăng áp lực, mắt và mũi sưng đỏ, có quầng thâm. Đôi khi dị ứng có thể làm cho hệ miễn dịch phản ứng mạnh mẽ, tạo các mẩn ngứa dưới da, hoặc viêm da, da dễ bị kích ứng, cũng có thể là nổi mề đay…
Nguyên nhân làm cho cơ thể người bị phản ứng với vật nuôi
Dị ứng loại này chính là do sự phản ứng của hệ miễn dịch, các loại protein động vật được cơ thể người coi là các protein lạ, cần bị tiêu diệt. Do đó hệ thống bảo vệ cơ thể sẽ sản xuất ra một loại kháng thể để chống lại các tác nhân lạ này. Mặc dù protein của nuôi là vô hại, nhưng sự nhầm lẫn của cơ thể sẽ tạo ra các phản ứng dị ứng. Các protein này có thể là lông, da, vảy gàu, tế bào chết trên da, nước bọt, nước tiểu,… của vật nuôi.
Ngoài ra còn có các nguyên nhân làm nguy cơ mắc bệnh cao hơn như: ít tiếp xúc với vật nuôi, người bị mắc bệnh hen, hoặc hệ thống miễn dịch yếu…
Điều trị và khắc phục các phản ứng dị ứng do vật nuôi gây ra
Điều trị và khắc phục các phản ứng dị ứng do vật nuôi gây ra
Theo các bác sĩ điều trị bệnh học chuyên khoa cho biết, đối với những người bị dị ứng với vật nuôi thì cách tốt nhất là tránh xa chúng, hạn chế tiếp xúc với lông… thậm chí những sợi lông dính trên quần áo cũng có thể gây dị ứng. Một số phương pháp đối phó vấn đề dị ứng vật nuôi như:
– Dùng thuốc kháng histamin, thuốc này có tác dụng làm giảm các triệu chứng do dị ứng gây ra. Một số loại thuốc thông dụng như: azelastine dạng xịt, sirô kháng histamin dành riêng cho trẻ em, fexofenadine, loratadin. Ngoài thuốc kháng histamin còn có thể dùng Corticosteroid giúp giảm viêm như: triamcinolone, mometasone furoate, ciclesonide, Flonase Allergy Relief . Ngoài các loại thuốc trên, người bệnh có thể dùng kết hợp với thuốc có tác ụng thông mũi, tuy nhiên cần dùng theo chỉ định của bác sĩ để tránh tác dụng phụ.
– Dùng liệu pháp miễn dịch giúp hệ miễn dịch quen với các protein lạ từ động vật, liệu pháp này là tổ hợp của các mũi tiêm, và kéo dài trong một thời gian dài, có thể phải tiêm nhắc lại trong vòng vài tuần, thậm chí vài tháng hay vài năm.
– Một số trường hợp dị ứng nhẹ có thể dùng phương pháp rửa mũi. Phương pháp này giúp làm sạch không khí đi vào, hạn chế các tác nhân gây bệnh xung quanh.
Đối với những người dị ứng nhưng lại muốn nuôi động vật thì cần làm sạch không khí, quần áo, vật dụng trong nhà thường xuyên, có thể dùng máy lọc không khí, máy hút bụi. Tắm và vệ sinh sạch sẽ cho vật nuôi thường xuyên, nên cạo lông cho chúng để tránh lông dính vào các đồ xung quanh hoặc quần áo. Khi dọn dẹp, làm vệ sinh cho vật nuôi, tốt nhất nên đeo gang tay, bịt khẩu trang, mặc kín quần áo, hoặc có thể nhờ những người không dị ứng hỗ trợ.