Bệnh tim là bệnh nguy hiểm, tuy nhiên nếu để ý chúng ta hoàn toàn có thể phát hiện sớm căn bệnh này. Các chuyên gia bệnh họcsẽ chia sẻ những dấu hiệu nhận biết bệnh tim.
Hôi miệng cũng có thể là dấu hiệu bệnh tim.
Bệnh hôi miệng
Nếu bạn có hơi thở hôi – loại gây ra do bệnh nướu – bạn có thể đang có vấn đề về tim. Bệnh nướu kích thích viêm, từ đó có thể gây bệnh tim. Nhưng bằng cách điều trị bệnh nướu và loại bỏ hơi thở hôi, bạn có thể giảm nguy cơ bệnh tim.
Hay ngáp khi tập luyện
Bất chấp những cố gắng nghiên cứu của khoa học, ngáp vẫn là một hiện tượng bí ẩn. Nhưng một số nghiên cứu mới nhất chỉ ra rằng ngáp giúp thúc đẩy oxy trong máu và làm mát não. Điều này có nghĩa bạn có thể ngáp trong khi tập luyện, đặc biệt trong những ngày nóng. Tuy nhiên, ngáp không ngừng trong khi tập luyện có thể là báo hiệu cơ chế làm mát trong cơ thể hoạt động chưa đúng. Và đó cũng có thể là dấu hiệu bệnh tim hoặc tuần hoàn.
Ở dái tai xuất hiện nếp nhăn
Bệnh tim có thể nhận biết qua dái tai.
Theo nghiên cứu của ĐH Pennsylvania, thậm chí nếu bạn không có bất cứ triệu chứng bệnh tim điển hình nào như chỉ số cholesterol thấp hoặc bệnh tiểu đường, các vết gấp ở dái tai một hoặc hai bên là dấu hiệu tim không hoạt động tốt như bình thường. Nghiên cứu của Penn không phải là nghiên cứu đầu tiên kể về mối liên quan giữa nếp nhăn ở dái tai và bệnh tim. Đôi khi nó được gọi là dấu hiệu Frank sau khi nhà nghiên cứu này phát hiện ra nó.
Ở tuổi thiếu niên có làn da trắng sáng
Mặc dù đây có thể là nỗi xấu hổ của bạn khi bước vào tuổi mới lớn nhưng nếu bạn có mụn trứng cá khi ở độ tuổi này, nguy cơ mắc bệnh mạch vành giảm 33%. Hàm lượng testosterone lưu thông cao hơn ở độ tuổi thanh thiếu niên gây nên mụn trứng cá nhưng nó bảo vệ bạn khỏi bệnh tim trong cuộc sống sau này.
Khi bạn đứng lên cảm thấy chóng mặt
Chóng mặt khi đứng dậy đột ngột được gọi là “hạ huyết áp tư thế đứng” và phần lớn chỉ kéo dài 1-2 giây. Nhưng nếu chóng mặt kéo dài vài phút đặc biệt là nếu bạn dưới 55 tuổi, đó có thể là do vấn đề lưu thông máu. Những người bị chóng mặt kéo dài sau này có nguy cơ suy tim cao hơn 54% so với những người không bị chóng mặt.
Ngón tay đeo nhẫn lùn, mập
Qua bàn tay bạn có thể thấy nguy cơ bệnh tim.
Người có ngón tay đeo nhẫn có chiều dài bằng ngón trỏ, nguy cơ bị bệnh tim ở tuổi 40, 50 tăng so với những người có khoảng cách giữa ngón đeo nhẫn và ngón trỏ lớn hơn. Ngón tay đeo nhẫn dài hơn là dấu hiệu tiếp xúc testosterone trong bào thai lớn hơn, điều này có liên quan với tỷ lệ bệnh tim thấp hơn ở nam giới. Mối liên quan này không mạnh mẽ như ở nữ giới. Bạn nên đi kiểm tra nếu ngón tay đeo nhẫn của bạn ngắn hơn so với ngón tay trỏ.
Loãng xương là bệnh cơ xương khớp về rối loạn chuyển hóa xương một cách âm thầm, không dễ phát hiện ở giai đoạn sớm. Đặc trưng của bệnh là sự giảm sút mật độ xương, kết cấu của tổ chức xương bị phá vỡ dẫn đến giòn xương và dễ gãy.
Đặc biệt ở những bệnh nhân đái tháo đường thì càng tạo thành một vòng xoắn bệnh lý, làm cho bệnh nặng lên, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, giảm khả năng lao động và có thể dẫn đến tàn tật suốt đời.
Đái tháo đường ảnh hưởng đến xương như nào?
Ảnh hưởng đến chuyển hóa canxi, photpho và các khoáng chất: ĐTĐ nếu không được điều trị tốt, đường huyết tăng cao, lượng đường bị đào thải ra ngoài theo nước tiểu nhiều kéo theo lượng canxi, photpho cũng bị đào thải ra nhiều, dẫn đến giảm sút mật độ xương gây ra loãng xương. Đường huyết lúc đói và đường trong nước tiểu càng tăng cao thì mật độ xương càng thấp. Nếu đường huyết giảm xuống gần với trị số bình thường thì canxi niệu cũng giảm xuống mức bình thường.
Ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa xương: Ở người ĐTĐ, do sự suy giảm chức năng của tế bào cốt trưởng thành làm cho sự hình thành xương hoặc bị giảm sút, hoặc bị chậm lại nhưng quá trình tiêu hủy của xương hoặc vẫn bình thường, hoặc tăng hoặc giảm. Ngoài ra, trên tế bào cốt trưởng thành có các thụ thể của insulin có thể làm tăng chức năng và tăng sinh tế bào cốt trưởng thành, nếu thiếu insulin sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của xương. Vì vậy người bệnh ĐTĐ có biến chứng bệnh lý về xương, mật độ xương giảm sút hoặc loãng xương.
Ảnh hưởng đến mật độ xương: Đo mật độ xương vùng thắt lưng, đoạn trên xương đùi cho thấy sự thay đổi mật độ xương giữa bệnh nhân ĐTĐ týp I và týp II hoàn toàn khác biệt. Mật độ xương bị giảm sút thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ týp I do bệnh nhân thường ở lứa tuổi trẻ, trước 20 tuổi, lúc này xương đang phát triển mạnh, người bệnh gầy nhiều và sự thiếu hụt insulin đều có liên quan đến sự phát triển của xương.
Các triệu chứng thường gặp ở những người bị loãng xương:
Đau: chiếm 70-80%, chủ yếu là đau ở vùng lưng, thắt lưng. Đau âm ỉ, đau nhiều dọc vùng xương sống lan ra hai bên, đau các xương dài như xương đùi, xương cẳng chân, nhức ở bên trong, cảm giác mơ hồ, nhiều khi có kèm theo chuột rút. Nghỉ ngơi, nằm hoặc ngồi đỡ đau, đứng lâu hoặc ngồi lâu đau tăng, ban ngày đỡ đau, nửa đêm gần sáng đau tăng.
Biến dạng cột sống, gù lưng, chiều cao giảm: thường xuất hiện sau các triệu chứng đau.
Kiểm tra mật độ xương khi có những triệu chứng loãng xương.
Gãy xương khi bị những chấn thương nhẹ là hậu quả cuối cùng của bệnh LX, thường gặp ở cột sống, thắt lưng và đặc biệt là gãy cổ xương đùi rất thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ lớn tuổi do bệnh nhân bị LX trầm trọng, kèm theo có rối loạn về chuyển hóa và nội tiết, có bệnh lý tim mạch, huyết áp,… Người bệnh rất khó liền xương, đa số phải nằm tại chỗ nhiều ngày. Điều đó không những làm LX càng nặng lên mà còn kéo theo nhiều nguy cơ như bội nhiễm đường hô hấp, đường tiết niệu, loét mục ở các điểm tỳ đè.
Những biện pháp phòng ngừa loãng xương
Khống chế bệnh đái tháo đường là biện pháp phòng ngừa quan trọng nhất; duy trì đường huyết ở mức bình thường hay gần như bình thường có thể làm cho canxi, photpho, magie và các chất chuyển hóa khác có thể cân bằng trở lại; đảm bảo đầy đủ các chất dinh dưỡng, vitamin, tổ chức hợp lý bữa ăn: các thành phần dinh dưỡng trong thức ăn không cân đối, hợp lý, dinh dưỡng không đủ hay lượng dinh dưỡng quá dư thừa đều cản trở sự hấp thu canxi, xuất hiện hiện tượng mất xương và phát sinh LX. Cần lựa chọn các loại thực phẩm giàu canxi, photpho, vitamin như sữa, chế phẩm của sữa, thịt nạc, trứng, tôm cá; các loại rau xanh, hoa quả tươi… Chế độ ăn đủ canxi hay vitamin D là cơ sở quan trọng duy trì sự cứng cáp và đậm độ xương. Tuy nhiên, khi điều trị nếu chỉ dùng đơn độc canxi hay vitamin D thì chưa đủ, chúng chỉ có tác dụng hỗ trợ với các thuốc điều trị khác. Bên cạnh đó, cần loại bỏ các thói quen xấu trong sinh hoạt hàng ngày như nghiện rượu, cà phê, thuốc lá…
Vận động và phơi nắng: Phơi nắng rất có ích với người cao tuổi. Tia hồng ngoại có thể xuyên qua tổ chức dưới da làm mạch máu giãn nở, tăng tuần hoàn máu và tăng tổng hợp vitamin D giúp chuyển hóa canxi, photpho làm tăng sự hình thành xương, giúp phòng chống LX. Vận động cơ thể thường xuyên làm tăng chức năng hoạt động của tim, phổi; nâng cao khả năng miễn dịch, phòng chống bệnh tật.
Điều trị loãng xương cần lưu ý:
Hiện vẫn chưa có thuốc đặc trị điều trị loãng xương cũng như bệnh lý loăng xương do đái tháo đường. Khi phát hiện bị loãng xương thì bất kỳ một loại thuốc nào cũng không có tác dụng tái tạo hay khôi phục lại độ cứng của xương cũng như những chất xương đã bị mất đi. Vì vậy, cần phát hiện bệnh và điều trị sớm bằng các thuốc ổn định đường huyết (các thuốc hạ glucose máu); các thuốc có tác dụng thúc đẩy quá trình hình thành xương: vitamin D, D3 hay cancitriol đồng thời bổ sung canxi 500-1.000mg/ngày. Vitamin D có tác dụng quan trọng đối với hấp thu canxi, photpho ở ruột non; tác động trực tiếp vào việc hình thành và cốt hóa xương. Nhưng nếu liên tục dùng vitamin D trong một thời gian quá dài cơ thể sẽ bị ngộ độc vitamin D: đau đầu, mệt mỏi, ngứa ngoài da, buồn nôn, nôn, đau bụng; nặng hơn có thể ảnh hưởng tới chức năng thận, gây khát, đái nhiều, các khớp bị vôi hóa, canxi trong máu tăng cao… Vì vậy, chỉ nên dùng thuốc dưới sự hướng dẫn của bác sĩ, tuyệt đối không tự ý sử dụng một cách bừa bãi.
Đến nay, các chuyên gia bệnh học kết luận đái tháo đường và loãng xương có cơ chế bệnh sinh phức tạp, điều trị nhiều khó khăn, nhiều biến chứng. loãng xương là một trong những biến chứng của đái tháo đường nên điều trị cần phải đồng bộ, toàn diện, bao gồm thuốc men, chế độ ăn uống và vận động.
Các chuyên gia bệnh học cho biết ung thư phổi là bệnh ung thư thường gặp và ngày càng có xu hướng gia tăng. Gần đây, những người trẻ tuổi bị bệnh này nhiều hơn, chiếm tỷ lệ khoảng 12% tổng số ca ung thư trên toàn thế giới.
Những triệu chứng bệnh ung thư phổi
Bạn nên đi khám khi nhận thấy được những dấu hiệu đầu tiên, căn bệnh ung thư có thể được chẩn đoán ở giai đoạn sớm. Khi đó, việc điều trị vẫn có thể có hiệu quả. Những dấu hiệu thường thấy nhất của bệnh ung thư phổi:
Ho không dứt hoặc ngày càng nặng thêm
Ho ra máu hoặc có vết máu khi khạc nhổ ( trong nước bọt hay trong đờm)
Đau ngực, đau hơn khi thở sâu, ho hay cười
Khàn giọng
Sút cân và chán ăn
Thở gấp
Cảm thấy mệt mỏi và đuối sức
Nhiễm viêm cuống phổi hoặc viêm phổi không dứt hay tái đi tái lại nhiều lần
Bắt đầu có chứng thở khò khè
Ung thư phổi di căn có những biểu hiện sau:
Đau xương ( Đau vùng lưng hoặc vùng hông)
Có những thay đổi về hệ thần kinh ( như đau đầu, yếu hay tê cẳng chân, cẳng tay; hoa mắt, gặp vấn đề thăng bằng, lên cơn tai biến,..) do ung thư di căn lên não hay tủy sống
Vàng da và mắt do ung thư di căn tới gan
Nổi các khối u trên bề mặt do ung thư di căn đến da hay các hạch lympho (ung thư tấn công vào các tế bào miễn dịch), như nổi các hạch vùng cổ hay trên xương đòn
Phần lớn các triệu chứng này gây ra bởi các chứng khác nhiều hơn là gây ra bởi ung thư phổi. Vì vậy, nếu bạn gặp bất kì một triệu chứng nào trong số này, điều quan trọng là bạn phải đi khám ngay để được phát hiện và điều trị sớm.
Ung thư phổi gây ra những hội chứng đặc trưng nào?
Hội chứng người thổi tù và
Ung thư phần đỉnh phổi (Pancoast tumors) đôi khi ảnh hưởng đến thần kinh chi phối cho mắt và một phần khuôn mặt, gây ra một nhóm các triệu chứng, gọi là hội chứng người thổi tù và, bao gồm:
Sụp mí hay yếu mí mắt
Mắt và đồng tử (phần đen ở trung tâm mắt) co nhỏ
Giảm hoặc ngưng tiết mồ hôi ở nửa khuôn mặt cùng bên thần kinh ảnh hưởng
Ung thư đỉnh phổi đôi khi cũng gây nên những cơn đau vai
Hội chứng tĩnh mạch chủ trên
Tĩnh mạch chủ trên là một tĩnh mạch lớn mang máu từ đầu và cánh tay trở về tim. Nó đi qua phần trên phổi phải và chuỗi hạch lympho trong ngực. Những khối u ở khu vực này có thể chèn vào tĩnh mạch chủ trên, làm máu trào ngược về tĩnh mạch. Điều này gây sưng phù vùng mặt, cổ, cánh tay và phần trên ngực ( đôi khi đi kèm với da ửng đỏ).
Hội chứng tĩnh mạch trên cũng có thể gây đau đầu, hoa mắt, rối loạn ý thức nếu nó ảnh hưởng tới não. Khi hội chứng này tiến triển từ từ, trong vài trường hợp, nó đe dọa đến tính mạng bệnh nhân và nó cần được điều trị đúng cách.
Hút thuốc lá là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn tới ung thư phổi
Hội chứng cận ung thư
Một vài trường hợp ung thư phổi có thể tạo ra những hormon, vào máu, ảnh hưởng đến các mô và cơ quan, thậm chí khi ung thư chưa di căn đến các nô và cơ quan đó. Những hội chứng này được gọi là hội chứng cận ung thư. Một vài hội chứng có thể là dấu hiệu đầu tiên của ung thư phổi. Bởi vì những triệu chứng ảnh hưởng tới các cơ quan khác nhiều hơn là phổi. Lúc đầu, bác sĩ và bệnh nhân có thể nghi ngờ một bệnh khác đang gây ra chúng hơn là ung thư phổi.
+ Hội chứng tiết ADH không thích hợp
Trong hội chứng này, các tế bào ung thư tiết ADH ( hormon chống thải nước) làm cho thận giữ nước lại. Điều này làm giảm nồng độ muối trong máu.
Hội chứng SIADH bao gồm mệt mỏi, chán ăn, yếu cơ hay chuột rút, nôn, buồn nôn, thao thức và rối loạn. Nếu không được điều trị, nó có thể dẫn đến tai biến và hôn mê.
+ Hội chứng Cushing
Trong hội chứng này, người bệnh có thể thấy các triệu chứng như tăng cân, dễ bị bầm tím, yếu, ngủ li bì và hay quên. Hội chứng cushing cũng gây tăng huyết áp và tăng đường máu ( hay thậm chí dẫn đến bệnh đái tháo đường)
Những vấn đề về hệ thống thần kinh: Ung thư phổi đôi khi có thể làm hệ miễn dịch của cơ thể tấn công hệ thống thần kinh và gây ra những vần đề.
Một ví dụ là sự rối loạn trương lực cơ gôi là hội chứng Lambert-Eaton, làm cho các cơ quanh vùng hông trở nên yếu. Một trong những dấu hiệu đầu tiên là gặp vấn đề khi đứng dậy từ tư thế ngồi. Sau đó, cơ quanh vùng vai trở nên yếu. Một vấn đề hiếm gặp hơn là hội chứng cận ung thư thoái hóa tiểu não, gây nên sự mất cân bằng và run rẩy tay chân khi di chuyển, cũng như là gặp vần đề khi nói và nuốt.
Nồng độ calci trong máu cao (Hypercalcemia) Điều này dẫn đến tiều nhiều, khát nước, táo bón, buồn nôn, đau bụng, yếu, mệt mỏi, hoa mắt, rối loạn và các vần đề thần kinh khác.
Tăng sản quá mức làm dày xương chính thức: Thường xảy ra ở đầu ngón tay, có thể gây đau
Cục máu đông
Tuyến vú phát triển ở nam giới
Nhắc lại là, nếu bạn mắc phải những triệu chứng trên đây, tốt hơn hết bạn nên thi thăm khám bác sĩ để tìm ra nguyên nhân và điều trị đúng cách
Các chuyên gia về bệnh cơ xương khớp cho biết những hành vi hàng ngày có thể khiến bạn đau vùng cổ như: ngồi không đúng tư thế, bị căng thẳng, mang vác nặng,… có thể gây đau vùng cổ mãn tính.
Nhưng trong hầu hết các trường hợp thường lành tính và điều quan trọng là tránh để cơn đau kéo dài vì có thể gây thoái hóa cột sống. Sau đây các chuyên gia bệnh học sẽ chỉ ra 6 nguyên nhân thường gặp gây ra những cơn đau vùng cổ:
Các cơ vùng cổ yếu
Nguyên nhân thường gặp do ít vận đông, bị stress liên tục, ngồi sai tư thế tuy nhiên có thể do cơ thang và các cơ vùng cổ bị suy yếu. Ngoài ra có thể do chế độ ăn uống nghèo các chất dinh dưỡng hoặc có những hoạt động quá gắng sức.
Ngồi sai tư thế
Ngồi hay đứng sai tư thế trong thời gian có thể gây đau ví dụ ngồi sai tư thế trong nhiều giờ trước máy tính làm cơ bị co cứng và dễ bị tổn thương, trong những trường hợp này cần phải thư giãn mỗi 20-30 phút và cần điều chỉnh lại tư thế cho thích hợp.
Do yếu tố tâm lý tình cảm
Các chuyên gia bệnh học nhận thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa trạng thái tình cảm và sức khỏe về thể chất. Nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy đau cổ có thể do căng thẳng tinh thần…Những lo âu, căng thẳng, trầm cảm là nguyên nhân gây đau cổ, vai và lưng…
Nguyên nhân do các phản ứng hóa học
Việc tiêu thụ quá nhiều cà phê, thức uống có cồn hay thịt đỏ đã gây ra sự thay đổi pH của cơ thể, điều này gây ra những phản ứng viêm và những phản ứng có hại khác.
Hút quá nhiều thuốc lá
Các chất độc hại có trong thuốc lá có thể gây nên các bệnh mạn tính. Hút nhiều thuốc lá có thể gây đau lưng và đau cổ vì gây “mất nước” ở đốt sống lưng, cổ và đôi khi gây nên sự thoái hóa.
Thường xuyên sử dụng điện thoại.
Những người có thói quen sử dụng thường xuyên điện thoại có nhiều nguy cơ đau lưng và cổ. Khi phải cúi nhìn màn hình điện thoại gây căng cơ vùng cổ.
Sau đây một số lời khuyên của các chuyên gia về bệnh cơ xương khớp
Ngồi làm việc đúng tư thế sẽ giúp ngăn ngừa đau vùng cổ.
– Có những bài tập cho vùng cổ, vai, lưng và đầu.
– Nên nằm trên nệm chắc và gối tương đối phẳng
– Nên ngồi đúng tư thế, ngồi thẳng dù phải ngồi tương đối lâu.
– Hãy cẩn thận khi mang vật nặng, nếu cần nhờ sự giúp đỡ người khác.
– Bổ sung thêm những thức ăn giàu kali, magiê và canxi, khoáng chất cần thiết cho sức khỏe (đặc biệt cho cơ và khớp…) đây cũng là một yếu tố góp phần ngăn ngừa căn bệnh loãng xương sau này.
Thay khớp gối toàn phần là phương pháp phẫu thuật nhằm khôi phục lại vận động bình thường cho khớp gối và hoạt động của các cơ, dây chằng và cấu trúc mô mềm khác kiểm soát khớp.
Khi nào cần thay khớp gối toàn phần?
Những người bị viêm khớp tiến triển do bệnh khớp gây thoái hóa (rách) hoặc tổn thương khớp do viêm có thể cần phẫu thuật thay khớp gối. Chỉ cần thay khớp gối khi khớp rất đau, biến dạng hoặc cứng khớp khiến người bệnh không thể đi lại thậm chí chỉ vài bước.
Phẫu thuật thay khớp gối toàn phần thực hiện như nào?
Thay khớp gối toàn phần được thực hiện sử dụng thiết bị đặc biệt để tái tạo hoạt động khớp gần với bình thường. Trong hoạt động này, những mảnh vụn của xương cùng với sụn bị tổn thương được cắt bỏ và thay bằng những thành phần nhân tạo, gắn vào bằng xi măng xương. Khớp nhân tạo bao gồm thành phần bằng kim loại xen kẽ với thành phần nhựa, cho phép dễ dàng thực hiện các cử động khớp.
Phẫu thuật thay khớp gối thành công như thế nào?
Nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng 96-98% khớp gối được thay toàn phần có tuổi thọ 20 năm.
Có cần nằm viện?
Thời gian nằm viện trung bình đã giảm cùng với những kỹ thuật thay khớp hiện đại. Thông thường, bạn cần nằm viện khoảng 3 – 7 ngày.
Khi nào có thể hoạt động bình thường sau phẫu thuật?
Bệnh nhân được phép đứng lên và đi bộ vào ngày sau phẫu thuật và trước khi xuất viện, bệnh nhân nên thực hiện được những hoạt động đơn giản hàng ngày. Họ có thể cần sử dụng thiết bị hỗ trợ đi lại trong vài tuần, tuy nhiên, sẽ trở lại bình thường sau khoảng 6-8 tuần.
Các biến chứng có thể sau khi phẫu thuật khớp gối
Ngày nay, phẫu thuật khớp gối là phẫu thuật khá thành công. Tuy nhiên, như bất cứ phẫu thuật nào khác, người bệnh cần lưu ý một số biến chứng sau phẫu thuật như nhiễm trùng, huyết khối tĩnh mạch sâu, lỏng khớp vô trùng và các biến chứng mạch, thần kinh.
Sau phẫu thuật nên và không nên làm gì?
Không cần hạn chế đi bộ, leo cầu thang, nhảy và bơi. Nhìn chung, bạn không nên theo đuổi những môn thể thao tác động mạnh như bóng đá, bóng bầu dục. Chơi tennis, golf là lựa chọn an toàn hơn.
Khớp gối nhân tạo có thể kéo dài được bao lâu?
Tuổi thọ trung bình của khớp gối được thay là khoảng 15-20 năm.
Thê nào là khớp gối có độ linh hoạt cao?
Khớp gối có độ cong cao chính là khớp gối toàn phần, ở đó bệnh nhân có thể gập cong đầu gối khoảng 145 độ. Cần lưu ý rằng sự linh hoạt này có thể chỉ ở vài cá nhân. Do vậy, độ an toàn và tỷ lệ thành công rất cao, kỹ thuật phẫu thuật có thể tái tạo, thuốc gây mê an toàn hơn và tuổi thọ khớp gối 15-20 năm tạo ra một phương pháp phẫu thuật thay thế khớp gối toàn phần có thể chấp nhận được cho người bị viêm khớp nặng.
Các chuyên gia bệnh học chỉ ra nguyên nhân phổ biến nhất của tiêu chảy là nhiễm trùng, mà nhiễm virút chiếm 80%, số còn lại là nhiễm vi khuẩn, nhiễm kí sinh trùng, nhiễm nấm.
Các nguyên nhân tiêu chảy không do nhiễm trùng gồm uống rượu bia, dị ứng thức ăn, ăn phải thức ăn kích thích đường tiêu hóa, một số loại thuốc, bệnh đái tháo đường, bệnh viêm ruột không nhiễm trùng như bệnh Crohn hay bệnh viêm loét ruột, bệnh cường giáp, xạ trị, một vài bệnh ung thư, phẫu thuật đường tiêu hóa, rối loạn hấp thu, lạm dụng thuốc xổ.
Trong bài này, chúng ta nói đến tiêu chảy cấp do nhiễm trùng.
Biểu hiện của bệnh tiêu chảy như thế nào?
Triệu chứng chính của tiêu chảy là đi cầu phân lỏng và tăng số lần đi cầu. Tiêu chảy có nhiều mức độ, mức độ nhẹ có biểu hiện có thể là thay đổi độ đặc của phân, phân trở nên sệt nhão, đi nhiều lần hơn bình thường, có mùi khắm có thể kèm theo đau bụng. Mức độ nặng hơn thì đi tiêu phân lỏng nhiều nước. Số lần đi cầu có thể từ vài lần trong ngày cho tới hàng chục lần (20 – 30 phút/ lần). Tiêu chảy phân nước lỏng đục nhiều, không kèm sốt, không đau bụng cần nghi ngờ nhiễm phẩy khuẩn tả (Vibrio cholerae), bạn phải nhập viện theo dõi điều trị.
Bị tiêu chảy nên kiêng gì?
Không dùng thức uống có cồn, caffein hoặc nước uống có ga vì nó làm tăng xuất tiết và tăng nhu động ruột làm tăng số lần đi cầu.
Không dùng thực phẩm chứa nhiều đường như kẹo, nước ép trái cây vì chúng có tác dụng nhuận trường và tạo nhiều hơi gây chướng bụng.
Không nên uống sữa vì sữa có lactose, nếu bạn không thường xuyên uống sữa, cơ thể bạn sẽ không có men lactase để tiêu hóa đường lactose. Ngoài ra, khi bị tiêu chảy, niêm mạc thành ruột bị tổn thương bởi vi khuẩn, virút hoặc độc tố của chúng, làm mất đi men lactase. Do thiếu men lactase, đường lactose không tiêu hóa được trong ruột gây bất dung nạp lactose. Đường lactose không được tiêu hóa sẽ ứ đọng lại trong ruột, hút nước làm tiêu chảy nặng hơn và bị tiêu chảy kéo dài.
Hạn chế ăn thực phẩm chứa quá nhiều dầu mỡ hay thức ăn chiên vì chúng làm tăng nhu động ruột, làm tăng số lần đi cầu.
Rau là thực phẩm có thể làm nhuận trường, làm tăng nhu động ruột nên làm tăng số lần đi cầu. Khi tiêu chảy, bạn vẫn có thể ăn rau nấu chín với lượng vừa phải. Những loại rau củ chứa nhiều chất xơ, tạo nhiều hơi bạn không nên ăn như: bông cải xanh, tiêu, đậu các loại, quả mọng, mận, rau lá xanh, và ngô.
Bạn không nên ăn rau sống. Vì ăn rau sống có thể bị nhiễm thêm vi sinh vật từ rau và từ nước rửa rau do rau sống được rửa trực tiếp từ nước sinh hoạt. Điều này không có lợi khi bụng bạn đang yếu ớt do bị nhiều vi sinh vật tấn công. Ăn rau sống lại đưa thêm vi sinh vật vào trong lúc bụng yếu là không nên. Bạn cần bụng chóng khỏe để thi cử.
Ở các nước phương Tây, các bác sĩ thường khuyến khích ăn 4 loại thức ăn giúp mau hết bệnh tiêu chảy, đó là chuối, gạo trắng, nước xốt táo, và bánh mì nướng. Ngoại trừ nước xốt táo, các thức ăn còn lại khá phổ biến ở Việt Nam ta.
Ngoài các chú ý về ăn uống trên, các loại thức ăn khác bạn ăn uống bình thường, trừ những thức ăn mà bạn biết chắc chắn là khi ăn vào bị dị ứng thì không nên ăn. Bạn nhớ rằng, ăn uống đầy đủ sẽ cung cấp năng lượng giúp cơ thể khỏe mạnh và mau bình phục.
Bị tiêu chảy nên và không nên dùng thuốc gì?
Khi tiêu chảy cấp, ngày mai lại thi, bạn nóng lòng cho mau khỏi nên bạn ra hiệu thuốc mua ít thuốc cầm chảy. Điều này hoàn toàn cấm kỵ. Thuốc cầm tiêu chảy (loperamid) làm giảm nhu động ruột, làm giảm số lần tiêu chảy; nhưng vi sinh vật và độc tố của vi sinh vật vẫn ở trong ruột. Độc tố có thời gian hấp thu nhiều hơn, bạn bị ngộ độc nặng hơn nên triệu chứng khó chịu kéo dài, bệnh trở nên nguy hiểm hơn. Thuốc cầm tiêu chảy chỉ có lợi cho các bệnh tiêu chảy mãn tính, tiêu chảy không phải do vi sinh vật hoặc do độc tố vi sinh vật.
Thuốc an toàn nhất mà bạn nên dùng là probiotic còn gọi là men vi sinh. Probiotic là các vi khuẩn không gây bệnh, ví dụ như: Lactobacillus acidophilus và Saccharomyces boulardii. Bạn hiểu đơn giản rằng probiotic chứa nhiều vi khuẩn có lợi cho ruột của bạn, khi ruột bạn yếu, bị vi sinh vật có hại chiếm cứ và sinh sôi ào ạt, bạn đưa vào một lực lượng lớn vi sinh vật có lợi, nó sẽ lấn át, cạnh tranh làm cho vi sinh vật có hại không có điều kiện phát triển và sẽ bị đẩy lui. Ngoài ra, các vi khuẩn có lợi trong probiotic sinh trưởng ở ruột bệnh nhân và sản xuất ra các chất chuyển hóa gây tăng độ acid trong phân và ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh. Chúng ngăn ngừa sự xâm nhập của vi khuẩn vào mô ruột và sản xuất ra các axít béo chuỗi ngắn có lợi cho sự hồi phục ruột và tăng tốc độ hấp thu dịch và điện giải.
Có rất nhiều loại men vi sinh trên thị trường như Anbio, Ybio, Biosubtyl, Probio… Bạn chọn loại thuốc tốt phù hợp với khả năng tài chính của mình. Chọn loại thuốc chỉ có vi sinh vật, không có bổ sung các vitamin, vì nếu bạn mua thuốc có bổ sung vitamin sẽ khó khăn cho bạn chỉnh liều.
Để đạt hiệu quả, bạn hãy pha probiotic trong nước lọc, nước chín để nguội, không pha trong nước nóng vì nước nóng sẽ làm chết các vi sinh vật có lợi trong thuốc.
Có cần bù nước khi bị tiêu chảy?
Tiêu chảy mức độ nhẹ có thể không có dấu hiệu mất nước, nhưng tiêu chảy mức độ vừa và nặng thường có mất nước. Nếu bạn cảm thấy khô miệng hoặc khát nước là bạn đã bị mất nước. Khi mất nước, việc bù nước là cần thiết. Hiện nay thị trường có bán các gói oresol. Loại thông thường pha trong 1 lít nước, loại cho em bé pha trong 200ml nước. Bạn nên mua loại cho em bé, dù đắt hơn loại thông thường nhưng sử dụng thuận tiện hơn vì một lần bạn pha đủ cho một vài lần uống nên bạn không cảm thấy ớn. Nếu tiêu chảy mất nước nặng bạn phải đến cơ sở y tế để khám điều trị và truyền dịch.
Cách phòng ngừa tiêu chảy
Nếu bạn thấy đau bụng râm râm, đánh hơi nhiều hơn bình thường, thay đổi số lần đi cầu, tính chất phân thay đổi từ rắn sang sệt, bạn có thể uống probiotic dự phòng. Bạn hãy uống mỗi lần hai gói, ngày hai đến ba lần.
Bạn nên thực hiện ăn sạch, không ăn đồ hôi thiu, nếu thấy thức ăn hôi thiu nên bỏ ngay và từ chối ăn. Không uống nước lã, không uống nước đóng chai có cợn, thay đổi mùi vị, không đảm bảo vệ sinh.
Bạn phải rửa tay sạch sẽ trước khi ăn và rửa tay bằng xà phòng sau mỗi lần đi vệ sinh.
Trước ngày thi, bạn không nên ăn những thức ăn lạ vì có thể bị tiêu chảy hoặc bị dị ứng.
Nếu không thường xuyên uống sữa, bạn không nên uống sữa trước khi thi vì bạn có thể bị tiêu chảy do bất dung nạp lactose.
Sữa chua là một loại thực phẩm lên men đã phân hủy sẵn lactose, cung cấp nhiều vi sinh vật có lợi giúp điều hòa vi khuẩn ruột. Thường xuyên sử dụng sữa chua vừa có lợi cho sức khỏe vừa phòng tiêu chảy.
Dạo gần đây tôi hay bị ho, cảm giác lúc nào cũng có đờm trong cổ và đặc biệt là thở khó khăn. Qua tìm hiểu trên sách báo thì được biết đó là bệnh tâm phế mạn. Vậy xin hỏi bác sĩ dấu hiệu bệnh tâm phế mạn như thế nào?
Tâm phế mạn là tình trạng suy tim phải do tăng áp lực động mạch phổi gây nên bởi các bệnh mạn tính của phổi và hệ cơ, xương của lồng ngực.
Các triệu chứng của bệnh phổi mạn tính thường là ho nhiều và khạc đờm nhiều, đặc biệt là khó thở. Khó thở ban đầu chỉ xuất hiện lúc gắng sức, sau đó thì khó thở thường xuyên, ngay cả những lúc nghỉ ngơi. Suy tim phải do bệnh phổi mạn tính có thể nhầm lẫn với các bệnh tim khác như: suy tim do bệnh của van tim, cơ tim, viêm màng ngoài tim co rút, bệnh mạch vành và xơ tim ở người cao tuổi. Nhìn chung, bệnh tâm phế mạn tiến triển từ từ. Những đợt cấp của bệnh phổi mạn tính làm cho suy tim phải nặng thêm. Nếu người bệnh không được chăm sóc và điều trị tốt, những đợt kịch phát xảy ra ngày càng nhiều và càng nặng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, cuối cùng là suy hô hấp và suy tim không hồi phục. Để hạn chế mắc bệnh tâm phế mạn thì cần phải kiêng không được hút thuốc lá, lào. Nếu làm việc trong môi trường khói bụi thì phải có các phương tiện phòng hộ. Cần chăm chỉ luyện tập thể thao thao phù hợp với sức khỏe của mình. Tránh làm việc gắng sức, nên có chế độ ăn nhạt và khi đã suy tim thì nghỉ ngơi hoàn toàn.
Theo thống kê của các chuyên gia bệnh học tại Mỹ có hơn 3 triệu người mắc bệnh rung nhĩ. Bình thường, hệ thống dẫn truyền điện học của tim phát ra các xung điện đến từng tế bào cơ tim, qua đó khiến quả tim co bóp một cách nhịp nhàng.
Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim thường gặp nhất
Rung nhĩ xuất hiện do sự rối loạn hình thành các xung động điện học của tim. Khi xuất hiện rung nhĩ: tâm nhĩ rung lên với tần số trên 350 chu kì/ phút thay vì co bóp một cách nhịp nhàng. Điều này làm hạn chế lưu chuyển của dòng máu và khiến cho máu bị quẩn lại trong nhĩ qua đó hình thành các cục máu đông và nếu cục máu đông rời khỏi nhĩ trái gây tắc mạch não có thể gây ra đột quỵ.
Thống kê cho thấy bệnh nhân mắc rung nhĩ có nguy cơ bị đột quỵ cao gấp 5 lần người bình thường. Rung nhĩ là nguyên nhân trực tiếp gây ra khoảng 120,000 trường hợp nhồi máu não mỗi năm và chiếm 25% tổng số trường hợp đột quỵ não.
Đột quỵ não ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân, chính vì vậy việc phòng ngừa tai biến đột quỵ là mục tiêu nền tảng trong điều trị rung nhĩ.
Mặc dù có nhiều phương pháp để phòng ngừa đột quỵ, tuy nhiên việc sử dụng các chống đông luôn là phương pháp đầu tay trong điều trị rung nhĩ. Các thuốc chống đông thực sự hiệu quả trong việc làm giảm nguy cơ nhồi máu não.
Ngoài nguy cơ gây đột qụy, rung nhĩ còn là nguyên nhân dẫn đến các tình trạng như suy tim, mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, khó thở. Rung nhĩ là bệnh lý tiến triển, điều này đồng nghĩa với việc nếu không điều trị bệnh sẽ ngày càng nặng lên. Khi đó các triệu chứng sẽ xảy ra thường xuyên và kéo dài hơn. Rung nhĩ bền bỉ sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho việc điều trị vì vậy hãy đi khám bệnh ngay khi có các triệu chứng của rung nhĩ.
Các nguyên nhân gây nên rung nhĩ
Tuổi già là một trong những nguyên nhân gây rung nhĩ.
Kể cả những người có lối sống lành mạnh và không mắc các bệnh lý nào khác cũng có thể bị rung nhĩ. Các yếu tố nguy cơ chính của rung nhĩ bao gồm:
Tuổi trên 60
Tăng huyết áp
Bệnh động mạch vành
Suy tim
Bệnh lý van tim
Tiền sử phẫu thuật tim mở
Ngừng thở khi ngủ
Bệnh lý tuyến giáp
Đái tháo đường
Bệnh phổi mạn tính
Lạm dụng rượu hoặc sử dụng chất kích thích
Tình trạng nhiễm trùng hoặc bệnh lý nội ngoại khoa nặng
Những triệu chứng của rung nhĩ
Rất nhiều bệnh nhân rung nhĩ nhưng hoàn toàn không có triệu chứng, mặt khác nhiều bệnh nhân có triệu chứng ngay từ khi mới mắc. Các triệu chứng của rung nhĩ khác nhau tùy từng bệnh nhân, phụ thuộc vào tuổi, nguyên nhân gây rung nhĩ (do bệnh tim mạch hay bệnh cơ quan khác) và ảnh hưởng của rung nhĩ đến sự co bóp của tim. Các triệu chứng bao gồm:
Cảm giác mệt mỏi hoặc thiếu năng lượng (thường gặp nhất)
Nhịp tim nhanh hơn bình thường và không đều (lúc nhanh lúc chậm)
Khó khăn trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày hoặc giảm khả năng đáp ứng với vận động thể lực
Đau hoặc cảm giác tức nặng ngực
Tiểu tiện nhiều lần
Điều trị và chẩn đoán rung nhĩ
Chẩn đoán xác định rung nhĩ bằng điện tâm đồ – đây là một xét nghiệm thường quy. Ngoài ra rung nhĩ có thể được phát hiện nhờ các thiết bị di động gắn trên người bệnh nhân để theo dõi nhịp tim trong khoảng thời gian dài như Holter điện tâm đồ.
Bệnh nhân được đeo Holter điện tâm đồ theo dõi nhịp tim trong khoảng từ 1-7 ngày có khi vài tuần. Các thiết bị này giúp ghi lại nhịp tim cả ngày lẫn đêm qua đó cung cấp những thông tin chính xác về biến thiên nhịp tim kể cả khi hoạt động lẫn khi nghỉ ngơi. Điều trị rung nhĩ cần được bắt đầu ngay khi xác định được chẩn đoán.
Để điều trị rung nhĩ có hiệu quả chống được đột quỵ với ba mục tiêu chính là kiểm soat tần số thất, chuyển rung nhĩ về nhịp xoang và dùng thuốc chống đông phòng ngừa huyết khối. Có nhiều phương pháp khác nhau để điều trị rung nhĩ. Một số bệnh nhân có thể được sốc điện chuyển nhịp về nhịp xoang.
Triệt đốt rung nhĩ qua đường ống thông là phương pháp mới được chi định cho các bệnh nhân không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác hoặc không muốn điều trị nội khoa. Đây là phương pháp dùng năng lượng tạo ra những vết cắt nhỏ lên bề mặt nội mạc nhĩ trái để cô lập các đường xung động bất thường của rung nhĩ gây ra.
Rung nhĩ có thể dẫn đến đột quỵ do hình thành các cục máu đông, chính vì vậy, các bác sỹ thường phải sử dụng thuốc chống đông máu cho bệnh nhân. Sự lựa chọn cũng như tính toán lợi ích, nguy cơ của việc sử dụng các thuốc chống đông cần được tính toán kĩ lưỡng dựa trên tuổi, bệnh lý kèm theo (như suy tim, tăng huyết áp, tiểu đường).
Theo bệnh học chuyên khoa ung thư bắt đầu ở đại tràng được gọi là ung thư đại tràng, còn ung thư bắt đầu ở trực tràng được gọi là ung thư trực tràng. Ung thư ảnh hưởng tới cả hai phần này được gọi là ung thư đại – trực tràng.
Những yếu tố gây ung thư đại – trực tràng
Nguyên nhân chính gây ra ung thư đại – trực tràng vẫn chưa được xác định. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra các yếu tố nguy cơ dưới đây có thể tăng nguy cơ mắc bệnh:
Độ tuổi: Những người nhiều tuổi có nguy cơ mắc bệnh cao, thường trên 50 tuổi. Nhưng cũng không loại trừ một số trường hợp hiếm gặp ở lứa tuổi thanh niên.
Chế độ ăn: Ung thư đại trực tràng dường như có liên quan tới chế độ ăn có hàm lượng mỡ và calo cao, hàm lượng chất xơ thấp.
Polyp là các u lành tính ở thành trong của đại tràng và trực tràng, thường phổ biến ở những người trên 50 tuổi. Một số loại polyp làm tăng nguy cơ phát triển ung thư đại – trực tràng.
Viêm loét đại tràng cũng làm tăng nguy cơ phát triển ung thư đại – trực tràng.
Tiền sử cá nhân: Những phụ nữ có tiền sử ung thư buồng trứng, tử cung, hay ung thư vú có nguy cơ phát triển ung thư đại – trực tràng cao hơn. Những người đã bị ung thư đại – trực tràng có thể mắc lại bệnh này lần thứ hai.
Tiền sử gia đình: Những người có người thân trong cùng gia đình như bố mẹ, anh chị em ruột, con cái mắc bệnh ung thư đại – trực tràng có nguy cơ mắc bệnh cao.
Các giai đoạn của bênh ung thư đại – trực tràng
Giai đoạn 0: Ung thư ở giai đoạn rất sớm. Nó chỉ mới xuất hiện ở lớp niêm mạc trên cùng của đại tràng hoặc trực tràng.
Giai đoạn I: Ung thư lan rộng ra thành trong của địa tràng hoặc trực tràng
Giai đoạn II: Ung thư đã lan ra bên ngoài đại tràng hoặc trực tràng tới các mô lân cận nhưng chưa tới hạch.
Giai đoạn III: Ung thư đã lan sang các hạch lân cận, nhưng chưa tới các bộ phận khác của cơ thể.
Giai đoạn IV: Ung thư đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Ung thư đại – trực tràng có xu hướng lan tới gan và/hoặc phổi.
Liệu pháp mới trong điều trị ung thư đại – trực tràng
Hiện nay, một số phương pháp điều trị ung thư đại – trực tràng phổ biến là phẫu thuật để cắt bỏ khối u, hóa trị liệu, xạ trị. Nhược điểm của các phương pháp này là gây ra những tác dụng phụ không mong muốn cho người bệnh.
Liệu pháp Fucoidan được coi là liệu pháp thay thế được nhiều người bệnh và gia đình lựa chọn nhờ khả năng tìm và diệt tế bào ung thư trong khi vẫn duy trì chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Những ưu điểm vượt trội của liệu pháp Fucoidan trong việc hỗ trợ điều trị ung thư đại – trực tràng gồm có:
Thúc đẩy các tế bào ung thư tự chết theo chương trình (Apoptosis). Yoho Mekabu Fucoidan không trực tiếp tấn công tế bào ung thư đại – trực tràng mà tìm ra chúng, khiến chúng “đầu hàng vô điều kiện” và tự chết.
Yoho Mekabu Fucoidan không tác động tới các tế bào bình thường trong cơ thể do đó Fucoidan không hề gây ra tác dụng phụ như các phương pháp điều trị khác. Vì vậy, bệnh nhân ung thư đại – trực tràng không phải chịu thêm thương tổn hoặc đau đớn trong quá trình điều trị.
Yoho Mekabu Fucoidan ngăn chặn sự hình thành mạch máu mới quanh tế bào ung thư
Tăng cường khả năng tự làm lành vết thương tự nhiên của bệnh nhân.
Tăng cường hệ miễn dịch của người bệnh.
Sử dụng kèm Yoho Mekabu Fucoidan sẽ giúp giảm tác dụng phụ không mong muốn ở những bệnh nhân đang điều trị bằng phương pháp hóa trị và xạ trị.
Các chuyên gia bệnh học cho biết có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm loét dạ dày nhưng nhìn chung, có 3 nguyên nhân chính dưới đây.
Nguyên nhân chính gây viêm loét dạ dày
Thứ nhất là do dùng các thuốc giảm đau, chống viêm không chứa steroid, aspirin và một số loại thuốc khác. Thứ hai là do stress tâm lý, thói quen sử dụng rượu bia, thuốc lá, các loại thực phẩm gây kích thích niêm mạc dạ dày như trà, cà phê, ớt, tiêu, chanh, dấm… dẫn tới việc dạ dày tiết nhiều axít. Thứ ba và là nguyên nhân quan trọng nhất là sự xuất hiện của 1 loại vi khuẩn có tên là Helicobacter Pylori trong dạ dày.
Viêm loét ung thư dạ dày do 1 vi khuẩn có tên là Helicobacter Pylori
Phần lớn các ca viêm dạ dày – tá tràng đều do vi khuẩn HP gây ra và có thể tiến triển thành ung thư. Chúng có mặt trong cơ thể của một nửa dân số thế giới.
HP là một loại xoắn khuẩn gram âm, dài khoảng 2,5 mm và rộng 0,5 mm, có 4-6 roi nên dễ di chuyển trong lớp chất nhày của niêm mạc dạ dày và đây cũng là môi trường trú ngụ của chúng. Chính lớp chất nhày dạ dày đã bảo vệ cho vi khuẩn khỏi sự tác động của axit có trong dịch vị. HP có nhiều men để giúp chúng tồn tại, phát triển và gây bệnh tại dạ dày như men urease: một loại men thủy phân ure (chất có sẵn trong dạ dày) thành ammoniac và từ đó tạo ra môi trường axit thích hợp cho vi khuẩn phát triển nhưng lại gây tổn thương loét cho niêm mạc dạ dày.
Khoảng 65-85% bệnh nhân viêm loét dạ dày có nhiễm HP và khi dùng thuốc diệt HP thì phần lớn khỏi viêm loét. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy HP là thủ phạm chính gây tổn thương niêm mạc dạ dày. Đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu trên thế giới khẳng định, HP không chỉ gây viêm loét mà còn có vai trò trong nhiều bệnh lý khác ở dạ dày – hành tá tràng như rối loạn tiêu hóa không loét, u lympho ác tính, ung thư.