Danh mục: Tin Tức Y Dược
Tin Tức Y Dược
Giới thiệu về những điểm mới của Luật Phòng bệnh tại buổi họp báo Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về các luật vừa được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương cho biết, việc ban hành Luật Phòng bệnh xuất phát từ yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn.
Chiều 5/1/2026, tại buổi họp báo Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 13 luật được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương đã thông tin các nội dung cơ bản của Luật Phòng bệnh.
Đánh dấu bước chuyển căn bản của hệ thống y tế
Thứ trưởng Nguyễn Thị Liên Hương cho biết, ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã chính thức thông qua Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15. Đây là đạo luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể chế hóa kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; đánh dấu bước chuyển căn bản của hệ thống y tế từ tư duy “đáp ứng khám bệnh, chữa bệnh” sang “chủ động phòng bệnh”, lấy phòng bệnh làm nền tảng.
Họp báo Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 13 luật được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10.
Việc ban hành Luật Phòng bệnh xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn. Trước hết, Luật nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, đổi mới toàn diện hệ thống y tế.
Bên cạnh đó, mô hình bệnh tật tại Việt Nam đang có sự thay đổi nhanh chóng, phức tạp, với sự xuất hiện của nhiều bệnh truyền nhiễm mới, các bệnh truyền nhiễm tái nổi, đồng thời tỷ lệ bệnh không lây nhiễm và rối loạn tâm thần ngày càng gia tăng. Những thách thức do biến đổi khí hậu, nguy cơ dịch bệnh quy mô lớn và những bài học sâu sắc từ đại dịch COVID-19 cũng đặt ra yêu cầu cấp bách phải nâng cao năng lực y tế dự phòng, tăng cường phòng bệnh một cách chủ động, bền vững.
Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho công tác phòng bệnh
Luật Phòng bệnh được ban hành với mục tiêu hoàn thiện cơ sở pháp lý về phòng bệnh, góp phần nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của người Việt Nam. Luật quy định toàn diện các nội dung liên quan đến phòng, chống bệnh truyền nhiễm; phòng, chống bệnh không lây nhiễm; phòng, chống rối loạn tâm thần; dinh dưỡng trong phòng bệnh; cũng như các điều kiện bảo đảm để triển khai hiệu quả công tác phòng bệnh.
Luật áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, thể hiện tính bao quát, thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế. Luật Phòng bệnh gồm 6 chương, 46 điều, được xây dựng trên cơ sở kế thừa, sửa đổi, bổ sung và phát triển các quy định còn phù hợp của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương thông tin tại buổi họp báo.
Theo đó, Luật kế thừa 5 điều liên quan đến phạm vi điều chỉnh, giải thích từ ngữ và chế độ dự trữ quốc gia về thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế; sửa đổi 38 điều về các quy định chung và biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm như giám sát an toàn sinh học, sử dụng vắc xin, kiểm dịch y tế biên giới, khai báo và báo cáo dịch, các biện pháp bảo vệ cá nhân, tổ chức cách ly y tế.
Đồng thời, Luật bổ sung mới 17 điều quan trọng về an ninh sinh học trong xét nghiệm, phát triển dịch vụ phòng bệnh, nghiên cứu – ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phòng bệnh; phòng, chống bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng trong phòng bệnh.
Nhiều điểm mới mang tính đột phá
Một trong những điểm nhấn nổi bật của Luật Phòng bệnh là sự thay đổi căn bản về tư duy. Luật khẳng định phòng bệnh chủ động là chính, lấy người dân làm trung tâm, chú trọng chăm sóc sức khỏe toàn diện theo vòng đời. Phạm vi điều chỉnh được mở rộng, không chỉ tập trung vào bệnh truyền nhiễm mà bao quát đầy đủ các vấn đề sức khỏe cộng đồng đang nổi lên hiện nay.
Luật cũng thiết lập cơ chế tài chính bền vững cho phòng bệnh, trong đó ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí thường xuyên và chi đầu tư cho y tế dự phòng; đồng thời thành lập Quỹ phòng bệnh nhằm tạo nguồn lực ổn định, lâu dài cho các hoạt động phòng bệnh. Quyền lợi của người dân được nâng cao rõ rệt, với các chính sách chăm sóc sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho nhóm đối tượng ưu tiên, bảo đảm công bằng trong tiếp cận vắc xin, sinh phẩm y tế, đặc biệt chú trọng dinh dưỡng trong 1.000 ngày đầu đời.
Bên cạnh đó, Luật dành nhiều ưu đãi cho nhân lực làm công tác phòng bệnh, nhất là tại tuyến y tế cơ sở và y tế dự phòng; khuyến khích khu vực ngoài công lập tham gia cung ứng dịch vụ phòng bệnh; cho phép cơ sở y tế dự phòng được quyết định mức thu nhập tăng thêm từ nguồn thu hợp pháp. Nhiều chính sách ưu tiên được thiết kế riêng cho khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và vùng đặc biệt khó khăn.
Luật Phòng bệnh có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Hiện nay, Bộ Y tế đang khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật; đồng thời đẩy mạnh công tác truyền thông để người dân, gia đình hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm trong việc chủ động phòng bệnh.
Với tinh thần “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, Luật Phòng bệnh thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đối với sức khỏe nhân dân, hướng tới xây dựng một hệ thống y tế bền vững, công bằng và hiệu quả, lấy sức khỏe của nhân dân làm thước đo thành công.
(Nguồn: suckhoedoisong.vn)
Mùa lạnh, người cao tuổi, trẻ nhỏ dễ gặp những vấn đề về sức khỏe như các bệnh lý hô hấp, thần kinh. Vì thế, khi có bất kỳ dấu hiệu bất thường nào, các chuyên gia khuyến cáo cần phải đến cơ sở y tế khám bệnh để được điều trị kịp thời.
Bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương.
Phòng bệnh hô hấp cho người cao tuổi
Người cao tuổi là nhóm đối tượng dễ mắc các bệnh lý hô hấp do sức đề kháng và hệ miễn dịch suy giảm. Khi thời tiết có sự chênh lệch nhiệt độ lớn trong ngày, độ ẩm cao, kèm theo tình trạng khói bụi đặc trong không khí, nguy cơ mắc các bệnh như viêm mũi, viêm xoang, viêm phế quản cấp, viêm phổi là phổ biến. Đặc biệt, nguy cơ trở nên nghiêm trọng hơn ở những người cao tuổi có bệnh nền tim mạch, tăng huyết áp hoặc bệnh phổi mạn tính.
Mới đây, Bệnh viện Lão khoa Trung ương đã tiếp nhận một người bệnh 83 tuổi, trú tại Ninh Bình, nhập viện trong tình trạng khó thở tăng dần, sốt, ho kéo dài 5 ngày và mệt mỏi nhiều. Người bệnh có tiền sử bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhiều năm, kèm theo suy tim, tăng huyết áp và đã từng đặt stent động mạch vành. Trước đó, người bệnh đã xuất hiện các triệu chứng ho, sốt tại nhà nhưng chủ quan điều trị, đến khi tình trạng nặng lên gia đình mới đưa đến bệnh viện.
Thăm khám cho bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh lý hô hấp.
Theo bác sĩ chuyên khoa II Lê Chung Thủy, Phó Trưởng khoa Tim mạch-Hô hấp, Bệnh viện Lão khoa Trung ương, người cao tuổi mắc các bệnh hô hấp mạn tính, đặc biệt là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết và chất lượng không khí.
“Khi nhiệt độ thay đổi đột ngột hoặc môi trường ô nhiễm, đường hô hấp dễ bị kích ứng. Chỉ cần nhiễm lạnh, viêm họng, nhiễm virus hoặc không tuân thủ điều trị thuốc đều có thể khiến bệnh chuyển sang đợt cấp, diễn biến nhanh và nặng, buộc phải nhập viện điều trị”, bác sĩ Thủy chia sẻ.
Bác sĩ cũng cho biết, nhiều trường hợp bệnh trở nặng liên quan đến thói quen sinh hoạt như thay đổi nhiệt độ đột ngột từ nóng sang lạnh; chủ quan khi ngủ đêm, không giữ ấm; tiếp xúc với khói thuốc lá, thuốc lào, khói bụi và ô nhiễm không khí. Những yếu tố này làm tăng nguy cơ viêm phổi, suy hô hấp và các biến chứng tim mạch, đặc biệt nguy hiểm với người cao tuổi có nhiều bệnh nền phối hợp.
Để phòng ngừa các bệnh lý hô hấp và hạn chế biến chứng trong điều kiện thời tiết thất thường và ô nhiễm không khí, các bác sĩ khuyến cáo người cao tuổi và gia đình cần giữ ấm cơ thể khi sáng sớm và ban đêm, chú ý bảo vệ vùng cổ, ngực, mũi, họng; hạn chế ra ngoài vào thời điểm không khí ô nhiễm nặng; đeo khẩu trang khi ra ngoài.
Người cao tuổi cần tuân thủ điều trị các bệnh mạn tính theo đúng chỉ định, không tự ý bỏ thuốc; tiêm phòng đầy đủ các loại vaccine như cúm, phế cầu; đồng thời duy trì chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, uống đủ nước để tăng cường sức đề kháng.
Khi xuất hiện các dấu hiệu như ho, sốt, khó thở, mệt nhiều, người cao tuổi cần đến cơ sở y tế sớm để được thăm khám và điều trị kịp thời, tuyệt đối không tự ý điều trị tại nhà.
Liệt dây thần kinh số VII ngoại biên trái vô căn
Bệnh viện đa khoa Medlatec vừa tiếp nhận anh T.V.S (45 tuổi) đến khám do tê bì nửa mặt trái. Qua thăm khám, các bác sĩ ghi nhận anh S. có dấu hiệu liệt dây thần kinh mặt bên trái, biểu hiện bằng méo miệng, mờ nếp nhăn vùng má, khó nhắm kín mắt và tê bì nửa mặt.
Đáng chú ý, khi yêu cầu bệnh nhân nhắm chặt hai mắt, lông mi bên mặt yếu lộ ra rõ hơn, một dấu hiệu thường gặp trong liệt dây thần kinh mặt ngoại biên.
Chụp MRI sọ não cho thấy hình ảnh thoái hóa myelin chất trắng dưới vỏ bán cầu đại não bên hai bên (phân loại Fazekas độ 1), không thấy tổn thương cấp tính nội sọ.
Với kết quả trên, anh S. được chẩn đoán liệt dây thần kinh số VII ngoại biên trái vô căn (liệt Bell). Bệnh nhân được kê đơn điều trị ngoại trú, hướng dẫn tập các bài tập cơ vùng mặt, chăm sóc mắt, phối hợp châm cứu sau 1 tuần.
Theo Thạc sĩ, bác sĩ Bùi Thị Thanh, chuyên khoa Thần kinh, liệt dây thần kinh số VII ngoại biên là một bệnh tương đối phổ biến trên lâm sàng, chiếm 2,95% bệnh thần kinh (23/10.000 người/năm), thường gặp ở mùa đông-xuân và ở mọi lứa tuổi.
Nguyên nhân thường do lạnh, nhiễm trùng, chấn thương, khối u hoặc các rối loạn trong xương đá, trong đó có nguyên nhân do lạnh chiếm 80%.
Dây thần kinh số VII có chức năng liên quan đến cảm giác, vị giác, chi phối vận động của khuôn mặt. Khi bị liệt dây thần kinh số VII người bệnh thường có các biểu hiện sau: Có thể khô mắt do giảm tiết nước mắt, mi mắt nhắm không kín do liệt cơ vòng mi; một bên miệng khó hoặc không mỉm cười được, ăn nhai thường đọng thức ăn bên bị bệnh; miệng bị kéo lệch về bên lành; bệnh nhân bị đau ở góc hàm, thái dương, tai,…; vị giác thay đổi; nhạy cảm với âm thanh.
Hình ảnh chụp MRI của bệnh nhân.
Trường hợp tổn thương dây thần kinh số VII ngoại biên do virus Varicella-zoster có thể kèm theo đau nhức tai nhiều, sốt, có mụn nước vành tai, ống tai.
Nếu không được phát hiện ngay từ sớm và điều trị kịp thời có thể sẽ dễ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Với biến chứng mắt, bệnh nhân có thể viêm kết mạc, viêm giác mạc, khô mắt do không nhắm được mắt,… Về lâu dài sẽ gây ảnh hưởng nặng nề đến tầm nhìn. Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể bị co thắt cơ vòng mi hoặc gặp hội chứng nước mắt cá sấu, thường xuyên tự chảy nước mắt.
Tình trạng co thắt nửa mặt sau liệt mặt gặp ở bệnh nhân bị liệt nặng. Dây thần kinh đã tổn thương nặng, tái phân bố thần kinh không phù hợp. Biến chứng này khiến bệnh nhân không chỉ đau đớn mà còn ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt thường ngày.
Bác sĩ Thanh khuyến cáo, để phòng ngừa bệnh, người dân cần lưu ý giữ ấm cơ thể, đặc biệt là vùng đầu, mặt, cổ khi đi ngoài trời lạnh hoặc sáng sớm/đêm khuya; tránh thay đổi nhiệt độ đột ngột, không tắm nước lạnh quá khuya, không để quạt hoặc điều hòa thổi thẳng vào mặt khi ngủ; nâng cao đề kháng bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý, hạn chế rượu bia trong mùa lạnh; chủ động tiêm vaccine phòng virus Varicella-zoster.
Người dân khi xuất hiện các triệu chứng nghi ngờ bệnh, cần đến ngay cơ sở y tế có chuyên khoa thần kinh để được thăm khám và điều trị kịp thời.
(Nguồn: nhandan.vn)
Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa, Đảng ta sẽ tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Đây là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Trong bối cảnh thế giới đang có những thay đổi nhanh chóng, sâu sắc, khó lường; trong nước đang triển khai mạnh mẽ các quyết sách chiến lược rất quan trọng, các văn kiện trình Đại hội XIV không chỉ tổng kết chặng đường phát triển 5 năm qua, xác định mục tiêu, nhiệm vụ trong 5 năm tới mà còn định hình tư duy chiến lược, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI.
Lần đầu tiên Đảng ta xác định “lý luận về đường lối đổi mới” là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng
Các dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV với kết cấu, nội dung có nhiều đổi mới đã thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan tình hình, trên cơ sở đó đề ra hệ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển đất nước, các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước, thể hiện khát vọng vươn mình mạnh mẽ của cả dân tộc trong kỷ nguyên mới.
Tổng Bí thư Tô Lâm và lãnh đạo Đảng, Nhà nước cắt băng khai mạc Triển lãm “Đảng Cộng sản Việt Nam – Từ Đại hội đến Đại hội” ngày 26/12/2025. Ảnh: dangcongsan.vn
Qua quá trình đưa ra lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên, Nhân dân và các đại biểu Quốc hội, đã có rất nhiều ý kiến đóng góp xây dựng, hoàn thiện các dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Thông qua việc đưa ra lấy ý kiến rộng rãi, đã giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu đúng tinh thần các dự thảo Văn kiện, đóng góp hiệu quả vào quá trình thảo luận, hoàn thiện các văn kiện, đồng thời lan tỏa tinh thần đổi mới, khát vọng phát triển và quyết tâm xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Báo cáo “Một số vấn đề mới, quan trọng trong Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng”, điểm mới của các dự thảo Văn kiện trình Đại hội thể hiện ngay ở từ chủ đề và kết cấu dự thảo Văn kiện. Đơn cử, so với các kỳ Đại hội gần đây, điểm mới nổi bật của Báo cáo chính trị lần này là sự tích hợp nội dung 3 văn kiện, gồm: Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế – xã hội, Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng. Việc tích hợp này thể hiện tinh thần tiếp tục đổi mới về cách xây dựng văn kiện, xuất phát từ thực tiễn mới của đất nước, sự phát triển nhận thức lý luận và tổ chức thực hiện của Đảng, bảo đảm sự nhất quán về nội dung; ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện.
Với vị trí trung tâm trong các dự thảo Văn kiện trình Đại hội, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV lần này đánh dấu một bước nhảy vọt về tư duy phát triển khi chắt lọc, cập nhật các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, các quyết sách chiến lược đột phá trong các nghị quyết của Bộ Chính trị được ban hành từ cuối năm 2024 đến nay, những nghị quyết mang tính chất “đòn bẩy” để vận hành thực hiện ngay trước và sau Đại hội. Đồng thời, đánh giá rõ kết quả thực hiện, bài học về tổ chức thực hiện, khắc phục được điểm yếu cố hữu của nhiều nhiệm kỳ là “tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu”. Việc tổng kết nhiệm kỳ Đại hội lần này đã chỉ rõ và khái quát toàn diện những kết quả quan trọng, nổi bật đạt được, đặc biệt là các đột phá chiến lược ở cuối nhiệm kỳ.
Nổi bật nhất là việc sắp xếp tổ chức bộ máy và xây dựng mô hình chính quyền địa phương 2 cấp – một quyết định lịch sử, cách mạng, giúp tinh gọn đầu mối, rõ trách nhiệm, mở rộng không gian phát triển, tăng cường hiệu lực quản trị, điều hành từ tỉnh đến cơ sở. Quá trình thực hiện cho thấy rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị gắn với đôn đốc, kiểm tra, giám sát thường xuyên có ý nghĩa quyết định, đặc biệt là cần phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả và có cơ chế giám sát thường xuyên. Nhờ đó, tâm lý “thành tích hình thức” bị đẩy lùi, thay vào đó là tinh thần hướng mạnh về kết quả thực chất, vừa “chạy” vừa “xếp hàng” đúng tiến độ và có hiệu quả.
Về nội dung, dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV đã bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Cụ thể, quan điểm chỉ đạo thứ nhất trong Dự thảo Báo cáo chính trị viết: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới”. Với quan điểm này, lần đầu tiên Đảng ta xác định “lý luận về đường lối đổi mới” là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng.
Toàn cảnh Hội nghị Trung ương 15 Khóa XIII. Ảnh: Phạm Thắng
Việc bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng là một bước phát triển có ý nghĩa lịch sử, thể hiện sự trưởng thành về tư duy lý luận, năng lực tổng kết thực tiễn và bản lĩnh tự đổi mới của Đảng. Đồng thời cho thấy Đảng không giáo điều, không rập khuôn, mà luôn biết kế thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo, gắn lý luận với thực tiễn, làm giàu thêm kho tàng lý luận – tư tưởng của cách mạng Việt Nam.
Lý luận về đường lối đổi mới là sự vận dụng và phát triển sáng tạo, cụ thể hóa các nguyên tắc, nguyên lý phổ quát của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn 40 năm Đổi mới ở Việt Nam, thể hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự đột phá lý luận cơ bản của Đảng ta về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Việc bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng còn là minh chứng cho thấy sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Đặc biệt là khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện, sáng suốt của Đảng kiên định con đường XHCN, đồng thời mở ra khả năng phát triển năng động, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại. Đây chính là ngọn đuốc soi đường tiếp tục dẫn dắt đất nước thực hiện thành công khát vọng, tầm nhìn và các định hướng chiến lược, lập nên những kỳ tích phát triển mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Kinh tế tư nhân – động lực quan trọng nhất của nền kinh tế
Trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV khẳng định: Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thực sự giữ vững vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm các cân đối lớn, định hướng chiến lược, dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng. Đây là một điểm mới rất quan trọng trong dự thảo Văn kiện lần này.
Dự thảo Báo cáo chính trị cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy đầy đủ chức năng và vai trò của từng khu vực kinh tế, nhằm tạo nên bức tranh phát triển toàn diện, bền vững cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Sự phân công, phối hợp và bổ trợ giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác phải được tổ chức chặt chẽ, khoa học và linh hoạt để khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh riêng của mỗi thành phần kinh tế.
Tổng Bí thư Tô Lâm và lãnh đạo Đảng, Nhà nước với các đại biểu tham dự Triển lãm “Đảng Cộng sản Việt Nam – Từ Đại hội đến Đại hội”. Ảnh: dangcongsan.vn
Nhìn lại lịch sử các kỳ Đại hội Đảng có thể thấy, chủ trương, đường lối về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã có chuyển biến lớn. Nếu như Đại hội VI “coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”, thì đến Đại hội XII, Đảng ta đánh giá kinh tế tư nhân là một trong các động lực quan trọng của nền kinh tế.
Và tại Hội nghị Trung ương 5 Khóa XII, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 3/6/2017, khẳng định kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Mới đây nhất, ngày 4/5/2025, trong Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Đảng ta khẳng định: “… kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia…”.
Việc đặt kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế là tiếp cận có tầm chiến lược trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt. Sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp tư nhân đã chứng minh khả năng thích ứng nhanh, sáng tạo mạnh mẽ và linh hoạt trước biến động thị trường, trở thành nơi thu hút chủ yếu lao động xã hội, nguồn cung cấp đa dạng hàng hóa, dịch vụ và giải pháp công nghệ.
Tuy còn một số hạn chế, tồn tại, kinh tế tư nhân có khả năng huy động nguồn lực đa dạng từ trong nước và quốc tế, nhất là khi Nhà nước hoàn thiện cơ chế tín dụng, chính sách thuế, đất đai, tạo điều kiện bình đẳng cho mọi doanh nghiệp. Kinh tế tư nhân có khả năng sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đóng góp lớn vào tăng trưởng và tạo việc làm, thúc đẩy sáng tạo và nâng cao phúc lợi xã hội. Điều này phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin khi coi kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại và kinh tế tư nhân trong chủ nghĩa xã hội là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế.
Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Đây là chủ trương mới, quan trọng trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng, nhằm tận dụng tối đa những động lực phát triển không có trần giới hạn. Việc xác định ưu tiên này xuất phát từ tầm nhìn chiến lược đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư, khi công nghệ số và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết định tốc độ và chất lượng phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia. Đảng ta khẳng định: Chỉ có đột phá mạnh mẽ trong những lĩnh vực này mới giúp Việt Nam bứt phá khỏi giới hạn tăng trưởng truyền thống.
Thực tiễn cho thấy, Việt Nam là quốc gia đi sau nhưng đang nắm bắt cơ hội để gia nhập hàng ngũ các nền kinh tế số phát triển. Ngay trong nhiệm kỳ Khóa XIII này, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.
Thể chế hóa Nghị quyết này, Quốc hội Khóa XV đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/2/2025 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cùng với đó, Quốc hội cũng ban hành nhiều đạo luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện, đưa chủ trương, quyết sách mới của Đảng vào thực tiễn cuộc sống. Trong đó có các luật, như: Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; Luật Công nghiệp Công nghệ số; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử…
Toàn cảnh Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia do Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức. Ảnh: Phạm Thắng
Chính phủ, các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở đã và đang triển khai quyết liệt Đề án Chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đầu tư xây dựng hạ tầng công nghệ, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam thành quốc gia số vào năm 2030. Tập trung đổi mới cơ chế đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, ưu tiên nguồn lực cho các lĩnh vực công nghệ tiên tiến, như: Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật và công nghệ sinh học. Đẩy mạnh hình thành các trung tâm sáng tạo, nâng cao khả năng kết nối giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo, đồng thời hoàn thiện khung pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Cơ chế khuyến khích hợp tác công – tư, liên kết quốc tế và đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư giúp tạo lập môi trường năng động cho hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Bảo đảm an toàn, an ninh mạng được xem là yếu tố nền tảng để chuyển đổi số thành công và bảo vệ lợi ích quốc gia trên không gian số.
Kết quả của đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thể hiện qua việc tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường. Việt Nam có thể gia tăng chỉ số GDP thêm 1 – 1,5 điểm phần trăm mỗi năm nhờ áp dụng hiệu quả khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế được củng cố thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và khả năng tự chủ trong chuỗi cung ứng. Những sản phẩm, dịch vụ mới định hình từ công nghệ cao và giải pháp số không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn tạo sức hút trên thị trường toàn cầu. Việc tham gia sâu vào chuỗi sản xuất quốc tế giúp doanh nghiệp Việt Nam học hỏi công nghệ, nâng cao tiêu chuẩn quản trị và mở rộng mạng lưới đối tác. Từ đó, vị thế của Việt Nam được nâng cao, trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và giá trị toàn cầu.
Dự thảo Báo cáo Chính trị lần này cũng có rất nhiều điểm mới quan trọng khác, như bổ sung “bảo vệ môi trường” cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ “trung tâm”; bổ sung “đối ngoại, hội nhập quốc tế” cùng với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. Đồng thời, khẳng định quan điểm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước – thị trường – xã hội, khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển…
Như nhấn mạnh của Tổng Bí thư Tô Lâm, đó là Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nêu “18 điểm mới, những định hướng được coi là đột phá, thể hiện tinh thần dám đổi mới, dám chuyển đổi mô hình phát triển, dám tổ chức lại bộ máy và phương thức vận hành”.
Đặc biệt, trong dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV, Đảng ta đã xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính để đạt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 – 2030 từ 10%/năm trở lên…
Đại hội XIV là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và Dân tộc ta, là một dấu mốc lịch sử của Đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống nghìn năm văn hiến của Dân tộc để vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cán bộ, Đảng viên và Nhân dân đang rất quan tâm, theo dõi, mong chờ và đặt nhiều kỳ vọng vào sự thành công của Đại hội.
Khẳng định điều này trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 15 Khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị, Trung ương và toàn thể đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục phát huy tinh thần, trách nhiệm đảng viên, nghiêm túc thực hiện và lãnh đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15; tập trung làm tốt công việc thường xuyên, khẩn trương thực hiện những nhiệm vụ còn lại của công tác tổ chức để Đại hội XIV của Đảng thành công tốt đẹp đúng như chương trình, kế hoạch đề ra.
Khối Cờ Đảng, Cờ Tổ quốc tại lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9
(Nguồn: daibieunhandan.vn)
