Danh mục: Tin Tức Y Dược
Tin Tức Y Dược
Phẫu thuật nội soi hỗ trợ là một phương pháp can thiệp ít xâm lấn, đem lại nhiều lợi ích cho người bệnh như: giảm đau sau mổ, rút ngắn thời gian nằm viện, hạn chế sẹo mổ và phục hồi chức năng sớm.
Ê-kíp tiến hành phẫu thuật nội soi hỗ trợ ghép gan cho người bệnh.
Phẫu thuật nội soi hỗ trợ ghép gan
Vừa qua, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, kíp ghép gan của Bệnh viện đã tiến hành ghép gan cho bệnh nhân nam Đ, 32 tuổi, bằng phẫu thuật nội soi hỗ trợ.
Trước đó, tháng 7/2025, khi đi khám sức khỏe định kỳ, bệnh nhân phát hiện có khối u gan kích thước lớn. Qua khám và thực hiện các xét nghiệm, bệnh nhân được chẩn đoán: Ung thư biểu mô tế bào gan phải (T4N0M0) trên nền viêm gan B mạn tính. Bệnh nhân được nút mạch khối u gan vào ngày 10/7/2025 trong thời gian chờ ghép.
Ghép gan là phương pháp điều trị cuối cùng cho nhiều bệnh lý gan mạn tính giai đoạn cuối.
Ngày 9/9/2025, các bác sĩ tiến hành ghép gan cho bệnh nhân từ người hiến sống. Người hiến được phẫu thuật nội soi lấy mảnh ghép gan phải. Còn người nhận được phẫu thuật nội soi hỗ trợ: cắt gan toàn bộ qua nội soi, sau đó các bác sĩ mở đường trắng giữa trên rốn nhỏ để đưa mảnh ghép và thực hiện miệng nối mạch máu, đường mật.
Trung tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Quang – Phó Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật Gan-Mật-Tụy, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho biết, đây là ca thứ 9 bệnh viện thực hiện phẫu thuật nội soi hỗ trợ ở người nhận gan.
“Ca đầu tiên được thực hiện vào tháng 11/2023 tại bệnh viện và đó cũng là trường hợp đầu tiên tại Việt Nam được áp dụng kỹ thuật này”, bác sĩ Quang cho hay.
Theo chuyên gia ghép tạng này, việc ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ trong ghép gan mang lại nhiều lợi ích vượt trội cho người nhận. Kỹ thuật này kết hợp ưu điểm quan sát phóng đại của nội soi với khả năng thao tác trực tiếp của phẫu thuật mở, giúp phẫu thuật viên thực hiện các bước khó trong không gian hẹp một cách chính xác, đặc biệt trong ghép gan – nơi đòi hỏi thao tác tinh tế và kiểm soát chảy máu nghiêm ngặt.
Bệnh nhân hồi phục sau ca ghép gan.
Ngoài ra, với đường rạch da nhỏ giúp giảm tổn thương cơ thành bụng, từ đó bệnh nhân ít đau, sớm vận động hơn so với phương pháp ghép gan truyền thống vốn cần đường mổ chữ J dài.
Bên cạnh đó, phẫu thuật nội soi hỗ trợ còn giúp giảm nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ và các biến chứng như thoát vị hay dính ruột; rút ngắn thời gian hồi phục, cải thiện chức năng hô hấp và vận động; đồng thời mang lại yếu tố thẩm mỹ cao nhờ sẹo nhỏ, góp phần nâng cao tâm lý và chất lượng cuộc sống lâu dài cho người bệnh.
“Đối với trường hợp này, bệnh nhân có khối u gan lớn, gan xơ khiến việc dị động gan, đặc biệt quanh tĩnh mạch chủ phức tạp hơn. Chúng tôi cần bảo đảm các mạch máu và đường mật tốt nhất để thực hiện các miệng nối một cách thuận lợi. Dù có khó khăn, nhưng chúng tôi có những thuận lợi nhất định như: phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm trong cắt gan bệnh lý và xử trí mạch máu bằng phẫu thuật nội soi, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chuyên khoa trong Bệnh viện,… vì vậy, ca ghép gan đã diễn ra thành công”, bác sĩ Vũ Văn Quang chia sẻ.
Sau ghép, sức khỏe của người hiến và người nhận đều hồi phục tốt. Người nhận gan ăn uống, vận động tốt, tiêu hóa lưu thông, vết mổ khô.
Hạnh phúc sau khi được ghép gan từ người hiến sống, bệnh nhân Đ. xúc động nói: “Trước đó, tôi chưa có triệu chứng, biểu hiện bệnh mà do tình cờ phát hiện bệnh. Sau khi ghép gan, bác sĩ thông báo khối u đã được loại bỏ, tôi rất mừng, rất vui vì được tái sinh lần thứ 2”.
Tiến tới ghép gan hoàn toàn bằng phẫu thuật nội soi
Trường hợp đầu tiên trên thế giới phẫu thuật nội soi ghép gan hoàn toàn ở người nhận được thực hiện tại Hàn Quốc vào năm 2022. Cho đến nay, chỉ có rất ít các Trung tâm Ghép gan tại các quốc gia có nền y học phát triển mới có thể thực hiện phẫu thuật nội soi hỗ trợ và hoàn toàn trong ghép gan ở người nhận.
Hiện nay, tại Việt Nam, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là đơn vị tiên phong ứng dụng phẫu thuật nội soi lấy mảnh gan ghép từ người hiến sống và phẫu thuật nội soi hỗ trợ ở người nhận gan.
Với việc ứng dụng thành công phương pháp phẫu thuật nội soi ghép gan hỗ trợ ở người nhận gan tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã ghi một bước tiến mới trong lĩnh vực ghép gan, góp phần nâng cao trình độ chuyên ngành ghép tạng Việt Nam và mở ra hy vọng cho hàng nghìn bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo có cơ hội sống khỏe mạnh.
Từ thành công này, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 tiếp tục phát huy kỹ thuật này và tiến tới ghép gan hoàn toàn bằng phẫu thuật nội soi cho cả người hiến và người nhận, nhằm giảm xâm lấn tối đa, rút ngắn thời gian hồi phục và nâng cao chất lượng cuộc sống sau ghép.
(Nguồn: nhandan.vn)
Kế hoạch hành động quản lý bệnh hiếm 2025-2026 hướng tới mục tiêu xây dựng, hoàn thiện và triển khai hiệu quả các chính sách quản lý bệnh hiếm tại Việt Nam; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, truyền thông nâng cao nhận thức về bệnh hiếm.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Chí Dũng Trung tâm Nội tiết, chuyển hoá, Di truyền và liệu pháp phân tử (Bệnh viện Nhi Trung ương) trao đổi về kế hoạch xây dựng hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh hiếm nhi khoa.
Ngày 16/9/2025, Bộ Y tế và Tổng hội Y học Việt Nam phối hợp tổ chức Tọa đàm khoa học triển khai “Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý bệnh hiếm 2025-2026”.
Tại Tọa đàm đã công bố “Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý bệnh hiếm giai đoạn 2025-2026” vừa được Bộ Y tế ban hành và thảo luận các giải pháp và hành động cụ thể hướng tới nâng cao chất lượng quản lý, chẩn đoán và điều trị bệnh hiếm tại Việt Nam.
Theo thống kê, trên thế giới hiện có hơn 300 triệu bệnh nhân mắc khoảng 7.000 loại bệnh hiếm chiếm khoảng 3,5 đến 5,9% số dân toàn thế giới. Tại Việt Nam, cứ trong 15 người thì có 1 người bị ảnh hưởng của bệnh hiếm, tương đương khoảng 6 triệu người chịu ảnh hưởng do bệnh hiếm.
Tuy nhiên, việc chẩn đoán và điều trị bệnh hiếm vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu thông tin, thiếu chuyên gia và thiếu các phương pháp điều trị hiệu quả. Nhiều người mắc bệnh hiếm phải đối mặt với tình trạng chẩn đoán muộn, điều trị không đúng cách và chi phí điều trị cao. Thực trạng này khiến người mắc bệnh hiếm phải chịu nhiều thiệt thòi và đặt ra thách thức lớn cho hệ thống y tế và đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt từ các cơ quan chức năng và cộng đồng y tế.
Quang cảnh buổi Tọa đàm.
Tháng 5 vừa qua, Đại hội đồng Y tế Thế giới lần đầu thông qua nghị quyết WHA 78 với trọng tâm “Bệnh hiếm: ưu tiên y tế toàn cầu về tính công bằng và hòa nhập”. Nghị quyết kêu gọi mỗi quốc gia ban hành chính sách và chương trình dựa trên bằng chứng nhằm phòng ngừa, chẩn đoán sớm và điều trị bệnh hiếm, bảo đảm mọi người, đặc biệt trẻ sơ sinh qua sàng lọc được tiếp cận dịch vụ chẩn đoán kịp thời, chính xác, chi phí hợp lý cùng các hỗ trợ y tế và xã hội cần thiết.
Nghị quyết WHA 78 mở ra hành lang chính sách toàn cầu, và tạo động lực cho Việt Nam chuyển thông điệp “không ai bị bỏ lại phía sau” thành hành động cho cộng đồng bệnh hiếm.
Nhằm tăng cường công tác quản lý bệnh hiếm tại Việt Nam một cách toàn diện, Ban Chỉ đạo tăng cường và quản lý bệnh hiếm đã được công bố theo Quyết định số 337/QĐ-BYT ngày 25/1/2025 của Bộ trưởng Y tế.
Ban Chỉ đạo sẽ đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy cải thiện toàn diện công tác quản lý bệnh hiếm tại Việt Nam. Nhiệm vụ của Ban không chỉ dừng lại ở việc tham mưu chính sách mà còn bao gồm việc chỉ đạo, điều phối và giám sát việc thực hiện các kế hoạch hành động quốc gia về bệnh hiếm.
Tại Tọa đàm, Bộ Y tế cũng đã công bố ban hành Quyết định về việc phê duyệt Kế hoạch hành động quản lý bệnh hiếm 2025-2026”. Kế hoạch hướng tới mục tiêu xây dựng hoàn thiện và triển khai hiệu quả các chính sách quản lý bệnh hiếm tại Việt Nam; đồng thời tăng cường công tác phổ biến, truyền thông nâng cao nhận thức của người dân, nhân viên y tế về bệnh hiếm.
Kế hoạch đặt ra các nội dung nhiệm vụ trọng tâm bao gồm hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực quản lý bệnh hiếm như ban hành danh mục bệnh hiếm, cập nhật các hướng dẫn tiêu chuẩn về chẩn đoán, điều trị và quản lý một số bệnh hiếm; xây dựng Thông tư sửa đổi cập nhật danh mục thuốc hiếm; truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh hiếm; thúc đẩy nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế hỗ trợ, nâng cao năng lực quản lý và điều trị bệnh hiếm.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuyên, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam khẳng định: Tổng hội Y học Việt Nam cam kết sẽ tiếp tục đồng hành cùng Bộ Y tế và các cơ quan liên quan trong việc triển khai các hoạt động quản lý bệnh hiếm.
Thông qua buổi Tọa đàm này, các chính sách và kế hoạch hành động sẽ được triển khai một cách hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của những người mắc bệnh hiếm.
Cục trưởng Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) Hà Anh Đức phát biểu tại Tọa đàm.
Cục trưởng Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) Hà Anh Đức nhấn mạnh: Việc xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý bệnh hiếm là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách. Buổi Tọa đàm khoa học không chỉ là cơ hội để các chuyên gia đầu ngành chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức, mà còn là dịp để các chuyên gia cùng nhau thảo luận, đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng quản lý, chẩn đoán và điều trị bệnh hiếm tại Việt Nam.
Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý bệnh hiếm cũng đã được xây dựng và phê duyệt theo Quyết định 2885/QĐ-BYTcủa Bộ Y tế ban hành ngày 12/9/2025 cho thấy Bộ Y tế cam kết đồng hành cùng các tổ chức trong và ngoài nước, tất cả cùng chung tay vì người mắc bệnh hiếm theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới.
TS Hà Anh Đức cho rằng, để giải quyết vấn đề bệnh hiếm và nâng cao hiệu quả quản lý bệnh hiếm, sự tham gia của toàn hệ thống chính trị và xã hội là hết sức cần thiết, bởi đây là những vấn đề đòi hỏi nguồn lực lớn và sự hợp tác của nhiều bên. Việc xây dựng một chính sách cần một tầm nhìn xa và những bằng chứng khoa học.
Bộ Y tế mong muốn lắng nghe hơn nữa các tiếng nói từ nhiều bên, các đóng góp chia sẻ của các chuyên gia để Bộ Y tế có thể thực hiện được hiệu quả Kế hoạch hành động quốc gia năm 2025-2026 về quản lý bệnh hiếm cũng như xây dựng và ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh hiếm, Tiêu chí và Danh mục bệnh hiếm, Tiêu chí và Danh mục Thuốc hiếm tại Việt Nam, cũng như nghiên cứu các cơ chế, chính sách hỗ trợ chi trả cho bệnh nhân bệnh hiếm, nhằm giúp bệnh nhân có thể tiếp cận được các liệu pháp điều trị tiên tiến, tăng cường chất lượng cuộc sống cũng như giảm gánh nặng chi trả của cá nhân và gia đình.
(Nguồn: nhandan.vn)
UBND cấp xã tại Hà Nội chịu trách nhiệm toàn diện về quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn.
UBND thành phố Hà Nội vừa có Quyết định số 53/2025/QĐ-UBND quy định phân công, phân cấp quản lý về an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Cơ quan chức năng thành phố Hà Nội kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm tại một cửa hàng bán sữa chua trân châu. Ảnh: HNMO
Theo đó, thành phố phân cấp quản lý cơ sở an toàn thực phẩm theo 2 cấp (cấp thành phố và cấp xã), trong đó, cấp nào cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì cấp đó chịu trách nhiệm quản lý cơ sở đó.
Sở Y tế là đầu mối thường trực Ban Chỉ đạo công tác an toàn thực phẩm thành phố (Ban Chỉ đạo); quản lý an toàn thực phẩm đối với sản phẩm thực phẩm do ngành Y tế phụ trách, đặc biệt là sản phẩm bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, dụng cụ chứa đựng thực phẩm…
Sở Y tế cấp các loại giấy phép gồm: Bản công bố sản phẩm, giấy xác nhận quảng cáo, giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm, CFS (lưu hành tự do), giấy chứng nhận xuất khẩu, chỉ định cơ sở kiểm nghiệm… Đồng thời, Sở Y tế chủ trì xử lý khi có sự cố an toàn thực phẩm nghiêm trọng, kiểm tra liên ngành, hậu kiểm, giám sát lưu thông trên thị trường…
Sở Nông nghiệp và Môi trường quản lý quá trình sản xuất ban đầu, từ trồng trọt, chăn nuôi đến sơ chế, bảo quản, vận chuyển… các sản phẩm nông, lâm, thủy sản; quản lý an toàn thực phẩm tại các chợ đầu mối, chợ đấu giá nông sản.
Đồng thời, Sở Nông nghiệp và Môi trường được cấp các loại giấy phép liên quan đến an toàn thực phẩm, CFS, công bố sản phẩm…; tổ chức kiểm tra, hậu kiểm, xử lý vi phạm, phối hợp liên ngành; tuyên truyền, đề xuất xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương.
Sở Công Thương phụ trách quản lý an toàn thực phẩm trong suốt chuỗi sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh sản phẩm, gồm cả hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, thương mại điện tử.
Đồng thời, Sở Công Thương cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm (khi được phân cấp), CFS, thực hiện kiểm nghiệm, kiểm tra xuất, nhập khẩu an toàn thực phẩm…; chủ trì phòng, chống thực phẩm giả, hàng nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ…; phối hợp kiểm tra định kỳ, kiểm tra chuyên đề về an toàn thực phẩm; tham mưu báo cáo về công tác quản lý an toàn thực phẩm tại các chợ.
UBND cấp xã chịu trách nhiệm toàn diện về quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn; quản lý điều kiện an toàn thực phẩm với: Cơ sở không thuộc diện cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/đầu tư; cơ sở dịch vụ ăn uống quy mô nhỏ, các bếp ăn trường học, bệnh viện hạng hai trở xuống…; cấp, thu hồi giấy chứng nhận an toàn thực phẩm (khi được ủy quyền), tiếp nhận bản cam kết an toàn thực phẩm.
Bên cạnh đó, UBND cấp xã chủ động kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm; tuyên truyền, phối hợp liên ngành, triển khai các chương trình về an toàn thực phẩm…
(Nguồn: hanoimoi.vn)
Chuyên mục
