Bệnh võng mạc và phù hoàng điểm do đái tháo đường đang là một gánh nặng y tế nghiêm trọng nhưng thực tế hiện nay số ca bệnh được phát hiện sớm, quản lý và điều trị còn thấp.
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, Chữa bệnh (Bộ Y tế) trao đổi tại toạ đàm.
Ngày 21/8/2025, Cục Quản lý Khám, Chữa bệnh (Bộ Y tế) phối hợp Tổng hội Y học Việt Nam và Công ty TNHH Roche Pharma Việt Nam tổ chức Tọa đàm khoa học “Hướng đến xây dựng mô hình quản lý toàn diện người bệnh mắc bệnh lý võng mạc và phù hoàng điểm do đái tháo đường tại bệnh viện” với sự tham gia của các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nhãn khoa và nội tiết.
Tại Việt Nam có khoảng 7 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, nhưng hơn 50% trong số đó chưa được chẩn đoán, tạo ra một “tảng băng chìm” rất lớn của các biến chứng tiềm ẩn.
Các ý kiến trao đổi tại tọa đàm cho rằng, một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là tỷ lệ người bệnh có biến chứng mắt do đái tháo đường được quản lý và điều trị còn thấp. Một số nghiên cứu cho thấy, cứ 10 bệnh nhân đái tháo đường thì có đến 6 người có biến chứng tại mắt, nhưng chỉ một phần nhỏ trong số này được sàng lọc và chẩn đoán sớm.
Rào cản dẫn đến tình trạng nêu trên bao gồm nhận thức của người dân còn hạn chế, khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế và gánh nặng chi phí, khiến nhiều người không được can thiệp sớm. Điều này dẫn đến hậu quả nặng nề là suy giảm thị lực không thể phục hồi và mù lòa, đặt ra yêu cầu cấp thiết về các giải pháp đồng bộ để cải thiện tỷ lệ sàng lọc và điều trị hiệu quả. Và việc xây dựng một mô hình quản lý toàn diện, phối hợp đa chuyên khoa là vô cùng cấp thiết.
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng, Cục Quản lý Khám, Chữa bệnh đánh giá cao tầm quan trọng của việc xây dựng mô hình quản lý toàn diện người bệnh võng mạc và phù hoàng điểm do đái tháo đường tại bệnh viện.
Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng điều trị cho người bệnh mà còn góp phần quan trọng cho sự phát triển chuyên khoa mắt tại các bệnh viện công, nhất là ở tuyến tỉnh. Việc ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI) trong khám phát hiện sớm là một hướng đi tích cực.
Được biết, để hiện thực hóa mục tiêu này, chương trình hợp tác đã đề ra một lộ trình cụ thể. Giai đoạn 2025-2027 sẽ tập trung xây dựng và thí điểm mô hình quản lý toàn diện tại một số bệnh viện trọng điểm. Dựa trên kết quả thí điểm, các hướng dẫn quốc gia sẽ được ban hành vào năm 2027, làm cơ sở để nhân rộng trên toàn quốc trong giai đoạn 2028-2030.
Mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ tăng tỷ lệ người bệnh đái tháo đường được khám và theo dõi bệnh lý về mắt lên trên 75% vào năm 2030, theo chiến lược quốc gia phòng chống mù lòa.
Các chuyên gia tham gia buổi toạ đàm.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Đông, Giám đốc Bệnh viện Mắt Trung ương khẳng định: Bệnh viện Mắt Trung ương sẵn sàng chung tay xây dựng mô hình quản lý toàn diện, nhất là trong việc xây dựng và hoàn thiện các hướng dẫn chuyên môn, chính sách liên quan đến quản lý bệnh lý võng mạc và phù hoàng điểm do đái tháo đường.
Các đại biểu tham gia buổi tọa đàm cũng thống nhất về sự cần thiết phải thành lập một nhóm chuyên gia và xây dựng cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các bên.
Kết quả của sự kiện là bước đi quan trọng để triển khai các hoạt động tiếp theo, hy vọng mang lại những thay đổi tích cực trong việc quản lý người bệnh mắc bệnh lý võng mạc và phù hoàng điểm do đái tháo đường, góp phần giảm gánh nặng mù lòa và nâng cao chất lượng sống cho người dân Việt Nam.
Lực lượng Quân y đã huy động hàng trăm cán bộ, nhân viên; 50 xe cứu thương chia thành 12 trạm cấp cứu sẵn sàng cho công tác sơ cứu, cấp cứu, phòng chống dịch… đảm bảo sức khoẻ cho lực lượng vũ trang và tham gia chăm sóc sức khoẻ cho người dân dịp đại lễ.
Không khí chuẩn bị cho Đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (A80) đang diễn ra khẩn trương trên khắp Thủ đô Hà Nội.
Cùng với đó, lực lượng Quân y đã huy động hàng trăm cán bộ, nhân viên; 50 xe cứu thương chia thành 12 trạm cấp cứu sẵn sàng cho công tác sơ cứu, cấp cứu, phòng chống dịch… đảm bảo sức khoẻ cho lực lượng vũ trang và tham gia chăm sóc sức khoẻ cho người dân dịp đại lễ.
Chuẩn bị máy móc trang thiết bị y tế tại trạm cấp cứu quân y.
Chuẩn bị máy móc trang thiết bị y tế tại trạm cấp cứu quân y.
Chuẩn bị máy móc trang thiết bị y tế tại trạm cấp cứu quân y.
Chuẩn bị thuốc, dụng cụ y tế sẵn sàng cho công tác sơ cứu, cấp cứu
tại trạm cấp cứu quân y.
Lắp giường tại trạm cấp cứu quân y.
Chuẩn bị thuốc, dụng cụ y tế sẵn sàng cho công tác sơ cứu, cấp cứu
tại trạm cấp cứu quân y.
Chuẩn bị thuốc, dụng cụ y tế sẵn sàng cho công tác sơ cứu, cấp cứu
tại trạm cấp cứu quân y.
Chuẩn bị thuốc, dụng cụ y tế sẵn sàng cho công tác sơ cứu, cấp cứu
tại trạm cấp cứu quân y.
Chuẩn bị thuốc, dụng cụ y tế sẵn sàng cho công tác sơ cứu, cấp cứu
tại trạm cấp cứu quân y.
Chuẩn bị thuốc, dụng cụ y tế sẵn sàng cho công tác sơ cứu, cấp cứu
tại trạm cấp cứu quân y.
Chuẩn bị thuốc, dụng cụ y tế sẵn sàng cho công tác sơ cứu, cấp cứu
tại trạm cấp cứu quân y.
Chuẩn bị trang thiết bị sẵn sàng phục vụ đại lễ.
Chuẩn bị thuốc, dụng cụ y tế sẵn sàng cho công tác sơ cứu, cấp cứu
tại trạm cấp cứu quân y.
Trạm cấp cứu quân y chuẩn bị sẵn sàng cho đại lễ A80.
Cũng tại hội nghị, Hội Phụ sản Việt Nam phối hợp Công ty TNHH Pfizer Việt Nam tổ chức hội thảo chuyên đề “Tiêm chủng cho phụ nữ mang thai hiện nay tại Việt Nam và trên thế giới”. Sự kiện nhằm cập nhật tiến bộ khoa học về dự phòng cho thai phụ, nâng cao năng lực tư vấn và triển khai tiêm chủng an toàn, hiệu quả cho đội ngũ y tế sản phụ khoa.
Hội thảo có sự tham dự của GS.TS.BS. Nguyễn Viết Tiến – Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam; TTND.PGS.TS.BS. Huỳnh Nguyễn Khánh Trang – Trưởng khối Sản, Bệnh viện Hùng Vương; BS.CKI Bạch Thị Chính – Giám đốc Y khoa Trung tâm Tiêm chủng VNVC; BS.CKI Phạm Thị Thùy Trang – Bộ phận Y khoa, Pfizer Việt Nam cùng nhiều chuyên gia sản phụ khoa trên cả nước.
GS.TS.BS. Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam cùng các chuyên gia đầu ngành tham gia hội thảo chuyên đề.
Các diễn giả tập trung thảo luận ba chủ đề: vai trò – thách thức – triển vọng của tiêm chủng cho thai phụ; giải pháp miễn dịch từ mẹ dự phòng viêm phổi do virus hợp bào hô hấp (RSV) ở trẻ sơ sinh; và chiến lược tối ưu bảo vệ cộng đồng trước RSV.
Theo các chuyên gia, thai phụ có nhiều thay đổi sinh lý và miễn dịch nên dễ mắc bệnh truyền nhiễm, ảnh hưởng đến mẹ, thai nhi và trẻ sơ sinh. Trong khi đó, những tháng đầu đời, hệ miễn dịch của trẻ chưa hoàn thiện, việc tiêm chủng trực tiếp ít hiệu quả, trẻ chủ yếu dựa vào kháng thể thụ động từ mẹ. Kháng thể này có thể duy trì ít nhất 6 tháng sau sinh, giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc và tử vong do nhiễm trùng.
RSV là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm trùng hô hấp dưới ở trẻ sơ sinh. WHO cho biết hầu như tất cả trẻ đều từng nhiễm RSV trước 2 tuổi. Năm 2019, RSV gây ra khoảng 33 triệu ca nhiễm, hơn 3,6 triệu ca nhập viện và trên 100.000 ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó 97% xảy ra tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình.
GS.TS.BS. Nguyễn Viết Tiến nhấn mạnh: “Tạo miễn dịch cho phụ nữ mang thai, đặc biệt dự phòng RSV, là hướng đi mới nhằm giảm gánh nặng bệnh tật cho trẻ nhũ nhi. Tuy nhiên, cần tăng cường truyền thông vì thực tế còn nhiều thai phụ thiếu kiến thức về RSV. Nhân viên y tế đóng vai trò then chốt trong tư vấn, giáo dục cộng đồng.”
Hiện nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã phê duyệt giải pháp tạo miễn dịch dự phòng RSV cho phụ nữ mang thai. WHO cũng khuyến nghị thực hiện từ tuần 24–36 của thai kỳ. Theo BS.CKI Bạch Thị Chính, trẻ sinh ra từ mẹ đã được tạo miễn dịch có thể được bảo vệ khỏi RSV ngay từ khi chào đời và kéo dài ít nhất 6 tháng.
PGS. TS. BS. Vũ Văn Tâm – Phó Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng báo cáo tại hội thảo.
– phát biểu tại hội nghịTTND.PGS.TS.BS. Huỳnh Nguyễn Khánh Trang cho biết: “Nhập viện do RSV tập trung nhiều nhất trong 3–6 tháng đầu đời. Nhiễm RSV có thể gây biến chứng ngắn hạn và dài hạn như viêm tiểu phế quản, viêm phổi, hen suyễn, suy giảm chức năng phổi. Tạo miễn dịch cho thai phụ là giải pháp y tế quan trọng, giúp truyền kháng thể đặc hiệu sang con, bảo vệ trẻ trong suốt 6 tháng đầu sau sinh.”
Toàn cảnh hộ thảo.
Ông Darrell Oh – Tổng Giám đốc Pfizer Việt Nam – chia sẻ: “Pfizer cam kết đồng hành cùng ngành y trong phòng ngừa và điều trị các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt ở nhóm dễ tổn thương như phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh. Việc dự phòng RSV trong thai kỳ sẽ góp phần bảo vệ sức khỏe mẹ và bé ngay từ những ngày đầu đời.”
Sáng 22/8/2025, tại tỉnh Quảng Ninh, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị tập huấn chuyên sâu về kỹ năng, nghiệp vụ công tác Bảo vệ bí mật Nhà nước. Dự lớp tập huấn có đồng chí Đoàn Hữu Thiển, Chánh Văn phòng Bộ Y tế, lãnh đạo Văn phòng Bộ, một số Cục, Vụ thuộc Bộ, đơn vị trực thuộc Bộ Y tế và đông đảo cán bộ, chuyên viên kiêm nhiệm công tác bí mật nhà nước; chuyên viên trực tiếp làm văn thư, lưu trữ của các Cục,Vụ, Văn phòng Bộ, khối bệnh viện và 34 sở Y tế tỉnh, thành phố trong cả nước.
Toàn cảnh chương trình tập huấn Bảo vệ bí mật Nhà nước do Bộ Y tế tổ chức
Phát biểu khai mạc chương trình tập huấn, đồng chí Đoàn Hữu Thiển, Chánh Văn phòng Bộ khẳng định: Trong thời gian qua, thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, Chính phủ và chỉ đạo của Bộ Y tế, toàn ngành Y tế đã và đang tích cực triển khai nhiều giải pháp sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, gắn với cải cách hành chính, tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy sẽ phát sinh các thủ tục như: Chuyển giao hồ sơ, tài liệu, cơ sở dữ liệu; bố trí, sắp xếp lại cán bộ, công chức, viên chức, nhất là trong giai đoạn tổ chức bộ máy đang có sự thay đổi, nên việc quản lý hồ sơ, tài liệu đầy đủ theo quy định, đặc biệt trong môi trường mạng là rất cấp thiết.
Chánh Văn phòng Bộ Y tế Đoàn Hữu Thiển phát biểu khai mạc
chương trình tập huấn
Để Hội nghị tập huấn đạt kết quả thiết thực, đồng chí Chánh Văn phòng Bộ đề nghị: Đại biểu tham dự tập huấn nêu cao tinh thần trách nhiệm, nghiêm túc tiếp thu, thảo luận thẳng thắn, nắm vững quy định pháp luật và kỹ năng xử lý tình huống phát sinh trong thực tế. Sau hội nghị, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị tiếp tục quán triệt và cụ thể hóa bằng việc sửa đổi, bổ sung nội quy, quy trình nội bộ, gắn trách nhiệm của tập thể, cá nhân với từng khâu, từng bước trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước. Chủ động rà soát lại toàn bộ quy trình nội bộ có liên quan, chủ động đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế, thiếu sót; tổ chức tập huấn nội bộ, lồng ghép tuyên truyền thường xuyên để nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức, viên chức.
Trung tá Nguyễn Tuấn Anh, cán bộ Cục An ninh chính trị nội bộ,
Bộ Công an triển khai các chuyên đề tại chương trình tập huấn
Tại chương trình tập huấn, Trung tá Nguyễn Tuấn Anh, Cục an ninh chính trị nội bộ, Bộ Công an, đã triển khai, trao đổi các chuyên đề về: Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và các văn bản Nghị định hướng dẫn thi hành; các hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ bí mật nhà nước và xử lý vi phạm về bảo vệ bí mật nhà nước; kỹ năng cần thiết trong công tác tham mưu, triển khai các nhiệm vụ về công tác bảo vệ bí mật nhà nước; xây dựng nội quy bảo vệ bí mật nhà nước của cơ quan, đơn vị; quy trình xử lý văn bản chứa bí mật nhà nước: Xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước; soạn thảo, ban hành văn bản chứa bí mật nhà nước; sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ. Thống nhất nhận thức và hành động, xây dựng tác phong làm việc kỷ cương, chặt chẽ, không để xảy ra sơ suất, chủ quan.
Đại biểu tham dự Chương trình tập huấn về Bảo vệ bí mật Nhà nước
Công tác bảo vệ bí mật nhà nước là nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài, gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh toàn ngành, toàn hệ thống chính trị đang triển khai sắp xếp, tinh gọn bộ máy, nhiệm vụ này càng trở nên cấp bách, đòi hỏi Bộ Y tế phải thực hiện quyết liệt, đồng bộ, chặt chẽ và hiệu quả công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong tình hình mới./.
Cục Quản lý Dược vừa cấp mới, gia hạn gần 800 loại thuốc, nguyên liệu làm thuốc trong và ngoài nước để đáp ứng nhu cầu điều trị, phòng chống dịch bệnh.
Ngày 22/8/2025, Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) thông tin đã công bố danh mục gần 800 loại thuốc, nguyên liệu làm thuốc sản xuất trong nước và nước ngoài được cấp mới, gia hạn giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam để phục vụ nhu cầu điều trị, phòng chống dịch bệnh.
Theo đó, có 432 sản phẩm thuốc sản xuất trong nước được cấp mới giấy đăng ký lưu hành; 69 thuốc sản xuất trong nước được gia hạn giấy đăng ký lưu hành; 292 thuốc nước ngoài được cấp giấy gia hạn đăng ký lưu hành và 4 thuốc có chứng minh tương đương sinh học được cấp giấy gia hạn.
Trong số 432 sản phẩm thuốc trong nước được cấp mới giấy đăng ký lưu hành có 422 thuốc được cấp giấy đăng ký lưu hành trong 5 năm; 10 sản phẩm còn lại được cấp giấy đăng ký lưu hành trong 3 năm.
Lấy thuốc chữa bệnh tại cơ sở y tế. Ảnh: T.G/Vietnam+
Trong số 69 thuốc sản xuất trong nước được gia hạn giấy đăng ký lưu hành có 44 sản phẩm thuốc, nguyên liệu làm thuốc được cấp giấy gia hạn lưu hành trong 5 năm; 20 sản phẩm thuốc, nguyên liệu làm thuốc được gia hạn lưu hành trong 3 năm; 5 sản phẩm còn lại có giá trị gia hạn lưu hành đến 31/12/2025.
Trong số 229 thuốc nước ngoài được cấp giấy gia hạn đăng ký lưu hành dịp này có 187 thuốc được gia hạn 5 năm; 38 thuốc cấp gia hạn trong 3 năm và 1 sản phẩm thuốc cấp gia hạn đến ngày 31/12/2025.
Cục Quản lý Dược yêu cầu cơ sở sản xuất và cơ sở đăng ký thuốc có trách nhiệm sản xuất thuốc theo đúng các hồ sơ, tài liệu đã đăng ký với Bộ Y tế và phải in hoặc dán số đăng ký được Bộ Y tế Việt Nam cấp lên nhãn thuốc; Chỉ được sản xuất, đưa ra lưu hành các thuốc kiểm soát đặc biệt khi có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược phạm vi kinh doanh thuốc phải kiểm soát đặc biệt phù hợp với phạm vi hoạt động.
Cục Quản lý Dược yêu cầu cơ sở đăng ký thuốc phải bảo đảm duy trì điều kiện kinh doanh dược theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 42 Luật Dược trong thời hạn hiệu lực của giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc…
Các sản phẩm thuốc sản xuất trong nước và nước ngoài được cấp mới, gia hạn giấy đăng ký lưu hành lần này khá đa dạng về nhóm tác dụng dược lý gồm: nhóm thuốc điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp, thuốc điều trị thoái hóa khớp, thuốc điều trị tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường, điều trị ung thư, thuốc kháng virus, thuốc kháng sinh, giảm đau, kháng viêm, thuốc tương đương sinh học…/.
Ung thư đang trở thành thách thức y tế lớn nhất của thế kỷ 21, khi mỗi năm thế giới ghi nhận 19 triệu ca mắc mới và 10 triệu ca tử vong. Dự báo đến năm 2050, con số này có thể tăng gấp đôi nếu không có giải pháp can thiệp kịp thời.
Hội nghị nhận hoa chúc mừng của Bộ Y tế, địa phương và nhiều cơ sở y tế
có cùng mối quan tâm.
Tại Việt Nam, tình hình cũng đáng lo ngại với hơn 180.000 ca mắc mới và hơn 120.000 ca tử vong trong năm 2022. Trung bình cứ 100.000 người thì có 159 ca mắc và 106 ca tử vong, cho thấy tỷ lệ tử vong còn rất cao. Hiện có hơn 350.000 người Việt Nam đang sống chung với ung thư, trong đó ngày càng nhiều bệnh nhân trẻ tuổi, tạo gánh nặng lớn cho y tế và xã hội.
Dù vậy, những năm gần đây, công tác chẩn đoán và điều trị ung thư đã đạt nhiều tiến bộ. Đặc biệt, công nghệ xạ trị proton được đánh giá là bước tiến vượt bậc so với xạ trị truyền thống đang mở ra hy vọng mới. Proton có khả năng tập trung năng lượng tiêu diệt khối u, đồng thời hạn chế tổn hại đến mô lành, rất quan trọng cho bệnh nhi và các khối u phức tạp.
Bộ Y tế đang xúc tiến xây dựng 3 trung tâm xạ trị proton tại Bệnh viện K, Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Trung ương Huế, dự kiến hoàn thành giai đoạn 2026–2030.
Theo Thứ trưởng Y tế Trần Văn Thuấn, ung thư không phải là “án tử” nếu được phòng ngừa, phát hiện sớm và điều trị chuẩn hóa. Ông nhấn mạnh 4 định hướng trọng tâm: Thay đổi lối sống để phòng bệnh từ gốc; mở rộng sàng lọc ung thư như một quyền lợi bảo hiểm y tế; cá thể hóa điều trị dựa trên y học chính xác; và chăm sóc toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần.
Hội nghị Khoa học Phòng chống Ung thư Thường niên Huế lần thứ 13 và Hội nghị Quốc tế về Xạ trị Proton lần thứ nhất vừa diễn ra đã cho thấy Việt Nam đang nỗ lực hội nhập với y học thế giới. Với sự đồng hành của các chuyên gia trong và ngoài nước, cùng những định hướng mới, ngành ung bướu Việt Nam đang mở ra con đường hiện đại, nhân văn và bền vững để đem lại nhiều hy vọng sống cho người bệnh.
Ông Vũ Tuấn Cường – Cục trưởng Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) cho biết, Cục này vừa công bố danh mục gần 800 loại thuốc, nguyên liệu làm thuốc sản xuất trong nước và nước ngoài được cấp mới, gia hạn giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam để phục vụ nhu cầu điều trị, phòng chống dịch bệnh.
Theo đó, trong số gần 800 sản phẩm thuốc, nguyên liệu làm thuốc được Cục Quản lý Dược cấp mới, gia hạn giấy đăng ký lưu hành có 432 sản phẩm thuốc sản xuất trong nước được cấp mới giấy đăng ký lưu hành; 69 thuốc sản xuất trong nước được gia hạn giấy đăng ký lưu hành; 292 thuốc nước ngoài được cấp giấy gia hạn đăng ký lưu hành và 4 thuốc có chứng minh tương đương sinh học được cấp giấy gia hạn.
Trong số 432 sản phẩm thuốc trong nước được cấp mới giấy đăng ký lưu hành có 422 thuốc được cấp giấy đăng ký lưu hành trong 5 năm; 10 sản phẩm còn lại được cấp giấy đăng ký lưu hành trong 3 năm;
Trong số 69 thuốc sản xuất trong nước được gia hạn giấy đăng ký lưu hành có 44 sản phẩm thuốc, nguyên liệu làm thuốc được cấp giấy gia hạn lưu hành trong 5 năm; 20 sản phẩm thuốc, nguyên liệu làm thuốc được gia hạn lưu hành trong 3 năm; 5 sản phẩm còn lại có giá trị gia hạn lưu hành đến 31/12/2025;
Gần 800 loại thuốc, nguyên liệu làm thuốc sản xuất trong nước và nước ngoài được Cục Quản lý Dược cấp mới, gia hạn giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam để phục vụ nhu cầu điều trị, phòng chống dịch bệnh.
Trong số 229 thuốc nước ngoài được cấp giấy gia hạn đăng ký lưu hành dịp này có 187 thuốc được gia hạn 5 năm; 38 thuốc cấp gia hạn trong 3 năm và 1 sản phẩm thuốc cấp gia hạn đến ngày 31/12/2025.
Cục Quản lý Dược yêu cầu cơ sở sản xuất và cơ sở đăng ký thuốc có trách nhiệm sản xuất thuốc theo đúng các hồ sơ, tài liệu đã đăng ký với Bộ Y tế và phải in hoặc dán số đăng ký được Bộ Y tế Việt Nam cấp lên nhãn thuốc;
Chỉ được sản xuất, đưa ra lưu hành các thuốc kiểm soát đặc biệt khi có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược phạm vi kinh doanh thuốc phải kiểm soát đặc biệt phù hợp với phạm vi hoạt động của cơ sở đáp ứng quy định tại Điều 37 Nghị định số 163/2025/NĐ-CP ngày 29/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dược;
Đồng thời, thực hiện việc cập nhật tiêu chuẩn chất lượng của thuốc theo quy định tại Thông tư số 30/2025/TT-BYT ngày 01/07/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn chất lượng, kiểm nghiệm thuốc, nguyên liệu làm thuốc và thu hồi, xử lý thuốc vi phạm;
Cập nhật nhãn thuốc và tờ hướng dẫn sử dụng thuốc theo quy định tại Thông tư số 01/2018/TT-BYT ngày 18/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định ghi nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc và tờ hướng dẫn sử dụng thuốc theo hình thức thay đổi, bổ sung giấy đăng ký lưu hành thuốc quy định tại Thông tư số 12/2025/TT-BYT ngày 16/05/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế đối với thuốc chưa cập nhật nội dung nhãn thuốc, tờ hướng dẫn sử dụng thuốc theo quy định tại Thông tư số 01/2018/TT-BYT ngày 18/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế;
Cục Quản lý Dược yêu cầu cơ sở đăng ký thuốc phải bảo đảm duy trì điều kiện kinh doanh dược theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 42 Luật Dược trong thời hạn hiệu lực của giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc…
Các sản phẩm thuốc sản xuất trong nước và nước ngoài được cấp mới, gia hạn giấy đăng ký lưu hành lần này khá đa dạng về nhóm tác dụng dược lý như nhóm thuốc điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp; thuốc điều trị thoái hóa khớp..; thuốc điều trị tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường, điều trị ung thư, thuốc kháng virus, thuốc kháng sinh, giảm đau, kháng viêm… thuốc tương đương sinh học…
Ngày 22/8/2025, tại Hải Phòng, Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) tổ chức hội thảo sơ kết 5 năm thực thi Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự của Liên Hợp Quốc (Thỏa thuận GCM).
Chủ trì hội thảo là TS. Đặng Quang Tấn – Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Y tế), đồng chủ trì là TS. Aiko Kaji – Trưởng Chương trình về sức khỏe và di cư của IOM. Tham dự có đại diện lãnh đạo và chuyên viên các Cục: Dân số, Phòng bệnh, Quản lý Khám chữa bệnh, Bảo trợ xã hội, Bà mẹ và Trẻ em; đại diện các Vụ: Hợp tác quốc tế, Kế hoạch tài chính; đại diện Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao); đại diện Lãnh đạo Sở, ngành các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Hà Tĩnh, Hải Phòng, Tuyên Quang, Quảng Trị; đại diện Bệnh viện Phổi Trung ương, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Phổi Tây Ninh; nhóm làm việc kỹ thuật về sức khỏe và di cư.
Quang cảnh hội thảo sơ kết 5 năm thực thi Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự của Liên Hợp Quốc (Thỏa thuận GCM). Ảnh: ML
Phát biểu tại hội thảo, TS. Đặng Quang Tấn nhấn mạnh: “Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự của Liên Hợp Quốc đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quyết định triển khai. Đây là một lĩnh vực rất hữu ích và quan trọng”.
TS. Đặng Quang Tấn phát biểu khai mạc hội thảo.
Theo Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao, 5 nhiệm vụ trọng tâm trong kế hoạch triển khai Thỏa thuận GCM của Việt Nam bao gồm: Tuyên truyền, phổ biến thông tin về GCM, các vấn đề di cư quốc tế; tăng cường năng lực triển khai GCM; Thu thập thông tin, dữ liệu về di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài và người nước ngoài vào Việt Nam; Hoàn thiện hệ thống, chính sách, pháp luật và triển khai thực hiện; Nghiên cứu, dự báo tình hình chính sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ liên quan đến các vấn đề di cư; Tăng cường hợp tác quốc tế.
Đại diện Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao nhấn mạnh 5 nhiệm vụ trọng tâm trong kế hoạch triển khai Thỏa thuận GCM của Việt Nam.
Nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm trong việc thực hiện thỏa thuận GCM lần này, ông Trần Quang Hưng (Vụ Hợp tác Quốc tế – Bộ Y tế), cho rằng cần hoàn thiện chính sách chăm sóc sức khỏe người di cư, ưu tiên đối tượng dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em và người dân tộc thiểu số. Kế hoạch thực thi thỏa thuận GCM được Bộ Y tế xây dựng dựa trên 5 nhiệm vụ trọng tâm theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ.
Thực tiễn triển khai kế hoạch, về việc tuyên tryền, tất cả cơ quan, đơn vị liên quan tích cực tuyên truyền, phổ biến trên các kênh thông tin truyền thông, báo đài về GCM. Lồng ghép GCM qua các hội thảo, tập huấn quốc tế.
Ông Trần Quang Hưng (Vụ Hợp tác Quốc tế – Bộ Y tế) phát biểu tại hội thảo.
Các đại biểu dự hội thảo.
TS. Aiko Kaji – Trưởng Chương trình về sức khỏe và di cư của IOM phát biểu tại sự kiện.
Về việc thu thập thông tin, dữ liệu về di cư của công dân Việt Nam qua nước ngoài và người nước ngoài vào Việt Nam, Bộ Y tế đã xây dựng biểu mẫu theo hướng dẫn của Bộ Ngoại giao. Hướng dẫm các đơn vị thuộc và trực thuộc cung cấp thông tin liên quan đến di cư. Phối hợp với Tổng cục Thống kê triển khai nghiên cứu lồng ghép các nội dung ưu tiên đến di cư và thu thập thông tin di cư trong các cuộc điều tra dân số. Cục Dân số là đơn vị rất tích cực trong việc triển khai kế hoạch này.
Về hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến các vấn đề di cư quốc tế và triển khai thực hiện, các đơn vị của Bộ Y tế được giao nhiệm vụ cập nhật thường xuyên và sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật. Điển hình như Luật khám chữa bệnh, Luật BHYT sửa đổi, bổ sung, cho phép người lao động di cư được khám chữa bệnh BHYT như công dân Việt Nam.
Về công tác nghiên cứu, dự báo tình hình di cư, chủ trương, chính sách của quốc gia và vùng lãnh thổ về di cư, Bộ Y tế đã triển khai chương trình tư vấn, khám chữa bệnh từ xa tại tuyến y tế cơ sở, bệnh án điện tử, góp phần phát triển hệ thống y tế tinh gọn, hiệu quả.
Về tăng cường hợp tác quốc tế, thành lập nhóm kỹ thuật sức khỏe người di cư Việt Nam do Cục Dân số và trưởng đại diện IOM tại Việt Nam đồng chủ trì. Bên cạnh đó, Cục Dân số Bộ Y tế dưới sự hỗ trợ của IOM và các đơn vị liên quan đã xây dựng 3 cuốn “Sổ tay Sức khỏe” tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), cung cấp thêm thông tin về y tế, sức khỏe cho người di cư tại các khu vực này. Ngoài ra, Bộ cũng tích cực tham gia các hội thảo quốc tế về sức khỏe di cư, dưới sự hỗ trợ của IOM.
Bên cạnh những thành tựu trên, vẫn tồn tại những khó khăn như không có nguồn lực, kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động kỹ thuật sức khỏe di cư, sổ tay sức khỏe; hạn chế trong tiếp cận dịch vụ; sự tham gia của nhiều cơ quan, lĩnh vực, địa phương do di cư là một vấn đề toàn cầu với những đối tượng dễ bị tổn thương.
Trong phiên thảo luận, nhiều đại biểu cho rằng, về việc quản lý tốt nhóm di cư hợp pháp và bất hợp pháp theo 5 nhóm nội dung, xây dựng mô hình quản lý và tạo kế sinh nhai cho lao động sau khi di cư về, tăng cường công tác bảo trợ, trang bị cho người di cư. Đồng thời đại diện Sở Y tế Quảng trị mong muốn IOM hỗ trợ kế sinh nhai, đào tạo nghề và mở rộng địa bàn hỗ trợ cho người di cư về Quảng Trị.
Ca sốt xuất huyết trong tuần 33 tại TPHCM tăng 38% so với trung bình 4 tuần trước. Đáng lo ngại, nhiều trẻ nhập viện trong tình trạng nguy kịch do biến chứng nặng, thậm chí bị chẩn đoán nhầm với các bệnh hô hấp, tiêu hóa.
Tính từ ngày 11/08- 17/08 (tuần 33), trên địa bàn TPHCM ghi nhận 2.517 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết ( tăng 38% so với trung bình 4 tuần trước). Tổng số ca sốt xuất huyết tích lũy từ đầu năm 2025 đến tuần 33 là 25.578 ca. Các phường xã có số ca mắc cao bao gồm Thới Hòa, Củ Chi và Tân Hiệp.
Hiện dịch đang diễn biến phức tạp tại TPHCM và các tỉnh phía Nam, đáng lo ngại khi nhiều bệnh nhân nhập viện muộn trong tình trạng nặng. Sốt xuất huyết có thể gây biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong, đặc biệt ở người có bệnh nền, trẻ béo phì và các nhóm nguy cơ cao.
Cứu nhiều ca nguy kịch do sốt xuất huyết
Ngày 22/8, BS.CKII Nguyễn Minh Tiến – Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Thành phố cho biết, mới đây, bệnh viện đã cứu sống bệnh nhi N. Q. T., (7 tháng tuổi, nữ, ngụ Tây Ninh) bị sốc sốt xuất huyết nặng, suy hô hấp nặng, rối loạn đông máu nặng.
Bệnh nhi N. Q. T., (7 tháng tuổi, nữ, ngụ Tây Ninh) bị sốc sốt xuất huyết nặng, suy hô hấp nặng, rối loạn đông máu nặng. Ảnh: BVCC.
Khai thác bệnh sử được biết, trẻ bị sốt cao liên tục 2 ngày, ho sổ mũi ít, tiêu lỏng 2 lần, khám bệnh viện tư chẩn đoán viêm hô hấp trên, rối loạn tiêu hóa. Ngày thứ 3, trẻ bớt sốt, bỏ bú, mệt, tay chân lạnh, da tay chân nổi bông nên cho trẻ nhập Bệnh viện Nhi đồng Thành phố.
Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Thành phố cho hay, tại bệnh viện, trẻ lừ đừ, quấy khóc, mạch quay nhẹ, chi mát, huyết áp tụt 60/40mmHg, nổi chấm xuất huyết ở chân, tay, bụng, da nổi bông.
Kết quả các xét nghiệm cho thấy test nhanh NS1 kháng nguyên dương tính, dung tích hồng cầu tăng cao 48% (bình thường chỉ 28 – 35%) tiểu cầu 21000/mm3 (bình thường 200000 – 300000/mm3), men gan tăng. Trẻ được chẩn đoán sốc sốt xuất huyết nặng và được điều trị chống sốc tích cực theo phác đồ.
Trẻ li bì, ói dịch nâu đen, được truyền dịch chống sốc, truyền máu và các chế phẩm máu, hỗ trợ gan, hỗ trợ hô hấp, thở oxy, CPAP, thở máy, đặt nội khí quản. Diễn tiến suy hô hấp nặng, bụng căng, áp lực bàng quang tăng 34 cmH2O, được chọc dò ổ bụng giải áp.
Kết quả sau gần 10 ngày điều trị, tình trạng huyết động, hô hấp, tổn thương gan trẻ cải thiện, không thấy xuất huyết thêm, được cai máy thở, tỉnh táo, bú khá, tiểu khá.
Một trường hợp khác, bệnh nhi N.S. (12 tuổi, quốc tịch Campuchia) được chuyển cấp cứu tới Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á Tây Ninh trong tình trạng đau bụng dữ dội, sốt cao liên tục.
ThS.BS. Nguyễn Thị Quỳnh Trâm – Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á Tây Ninh cho biết, kết quả xét nghiệm cho thấy bạch cầu và tiểu cầu giảm đáng kể, huyết thanh chẩn đoán sốt xuất huyết dương tính, kèm dịch ổ bụng trên siêu âm. Bệnh nhi được chẩn đoán mắc sốt xuất huyết Dengue ngày 4 – 5, đang trong giai đoạn nguy hiểm của bệnh.
Nhiều trường hợp nhập viện trong tìnhtrạng nặng do chẩn đoán nhầm. Ảnh: BVCC.
Được biết, bệnh nhi từng mắc sốt xuất huyết, làm tăng nguy cơ diễn tiến nặng. Đúng như dự liệu, chỉ sau vài giờ, bệnh nhi rơi vào sốc sốt xuất huyết với hematocrit tăng, mạch nhanh, huyết áp kẹp, túi mật dày thành, tĩnh mạch chủ dưới xẹp biểu hiện thoát dịch trầm trọng do tăng tính thấm thành mạch. Chỉ một ngày sau, bệnh nhi tái sốc.
Sau 9 ngày được theo dõi sát sao, bé đã dần hồi phục, các chỉ số sinh tồn ổn định và được xuất viện trong niềm vui vỡ òa của gia đình lẫn ê-kíp điều trị.
Tuyệt đối không lơ là dù ở giai đoạn nào của bệnh!
Các bác sĩ lưu ý nhiều gia đình thường chủ quan vì nghĩ sốt chỉ là sốt siêu vi thông thường. Nhưng thực tế, sốt xuất huyết có thể diễn tiến rất nhanh và gây sốc, suy tạng, thậm chí tử vong nếu không được xử trí kịp thời”.
Người nhà của bệnh nhân tuyệt đối không chủ quan ở bất kỳ giai đoạn nào của bệnh. Ngay khi phát hiện các dấu hiệu cảnh báo như: Sốt cao liên tục không rõ nguyên nhân; đau bụng, buồn nôn, nôn ói nhiều; chảy máu cam, chảy máu chân răng hoặc nổi mẩn xuất huyết trên da; mệt mỏi, tay chân lạnh, tiểu ít, lơ mơ, lừ đừ, bỏ bú… cần nhanh chóng đưa bệnh nhân tới cơ sở y tế để được hỗ trợ kịp thời.
BS.CKII Nguyễn Minh Tiến nhấn mạnh: “Phụ huynh cần đặc biệt lưu ý, sốt xuất huyết rất nguy hiểm đối với nhóm trẻ nhũ nhi. Trẻ có thể có biểu hiện không điển hình như: Sốt kèm ho, sổ mũi, hắt hơi, tiêu chảy, nôn ói,… dễ lầm tưởng với các bệnh lý hô hấp, tiêu hóa hay nhiễm trùng hoặc lầm tưởng với bệnh tay chân miệng… Do đó, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế có chuyên khoa Nhi để thăm khám xét nghiệm, xác định bệnh chính xác để điều trị thích hợp cho trẻ.
Để bảo vệ sức khỏe và phòng ngừa sốt xuất huyết, mỗi gia đình cần thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh như diệt muỗi, lăng quăng, ngủ mùng, dọn dẹp vật chứa…
Điểm nhấn đặc biệt của Hội nghị khoa học thường niên VUNA 19 – HUNA 22 là phiên phẫu thuật thị phạm các kỹ thuật tiên tiến, mang lại cơ hội học hỏi thực tế quý báu cho các y bác sĩ.
Hội nghị đã thu hút hơn 1.500 giáo sư, bác sĩ, điều dưỡng trong nước và hơn 30 chuyên gia quốc tế.
Hội nghị Khoa học thường niên VUNA 19 – HUNA 22 do Hội Tiết niệu – Thận học Việt Nam và Hội Tiết niệu – Thận học TP.HCM phối hợp cùng Bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa tổ chức với sự tham gia của hơn 1.500 giáo sư, bác sĩ, điều dưỡng trong nước cùng hơn 30 chuyên gia quốc tế đến từ các nền y học phát triển như Đức, Pháp, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, và các nước trong khu vực.
Buổi lễ khai mạc có sự tham dự của các lãnh đạo như PGS.TS.BS. Lê Đình Khánh (Chủ tịch Hội Tiết niệu – Thận học Việt Nam) và PGS.TS.BS. Nguyễn Tuấn Vinh (Chủ tịch Hội Tiết niệu – Thận học TP.HCM).
Trong 3 ngày, hội nghị diễn ra 54 phiên làm việc với hơn 300 báo cáo khoa học chất lượng cao. Nội dung các phiên thảo luận tập trung cập nhật những tiến bộ y khoa mới nhất trong lĩnh vực tiết niệu – thận học, bao gồm các chủ đề thời sự như: phẫu thuật robot, phẫu thuật ít xâm lấn, ung thư tiết niệu, ghép thận, niệu nữ, niệu nhi và chăm sóc điều dưỡng chuyên sâu. Một trong những điểm nhấn của chương trình là khóa đào tạo chuyên sâu về Ung bướu tiết niệu do các giáo sư từ Hội Niệu khoa châu Âu (EAU) trực tiếp giảng dạy.
Hội nghị đã có 54 phiên làm việc với hơn 300 báo cáo khoa học chất lượng cao.
Một điểm nhấn khác là khóa đào tạo chuyên sâu về Ung bướu tiết niệu do các giáo sư từ Hội Niệu khoa châu Âu (EAU) trực tiếp giảng dạy.
Trước thềm khai mạc, vào ngày 21/8, một phiên phẫu thuật thị phạm tiền hội nghị đã được các bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa thực hiện thành công dưới sự hướng dẫn chuyên môn của nhiều chuyên gia đầu ngành như GS.TS.BS. Trần Ngọc Sinh, PGS.TS.BS. Nguyễn Tuấn Vinh, PGS.TS.BS. Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng và nhiều chuyên gia khác.
Nhiều kỹ thuật can thiệp ít xâm lấn tiên tiến đã được trình diễn và áp dụng thành công trên 6 bệnh nhân có bệnh lý phức tạp. Các kỹ thuật nổi bật bao gồm: Nội soi tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ (mini-PCNL); Nội soi bóc nhân tuyến tiền liệt (HoLEP); Cắt bướu bảo tồn thận tình cờ phát hiện; Nội soi ống soi mềm kết hợp PCNL (eCIRS).
Các bác sĩ đã trình diễn phẫu thuật trực tiếp tại Hội nghị VUNA-HUNA 2025.
Toàn bộ phiên phẫu thuật được truyền hình trực tiếp từ phòng mổ đến hội trường, thu hút gần 200 đại biểu tham dự. Hình thức này đã giúp các bác sĩ theo dõi chi tiết từng thao tác kỹ thuật, lắng nghe phân tích lâm sàng và cách xử lý tình huống linh hoạt từ các chuyên gia. Đây là cơ hội học hỏi quý báu để đội ngũ y bác sĩ tại Khánh Hòa và trên cả nước tiếp cận những tiến bộ y học hiện đại một cách trực quan và thực tiễn nhất.
Thành công của Hội nghị VUNA 19 – HUNA 22 và phiên phẫu thuật thị phạm không chỉ là một diễn đàn khoa học uy tín mà còn thể hiện tinh thần hợp tác, hội nhập mạnh mẽ giữa các hội chuyên ngành và các cơ sở y tế. Sự kiện đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển của chuyên ngành tiết niệu – thận học tại Việt Nam, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng.