Trong hai ngày 13-14/11/2025, tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, Bộ Y tế đã tổ chức Hội nghị công tác truyền thông y tế năm 2025, định hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2026, kết hợp Tập huấn chuyên sâu về chuyển đổi số trong công tác truyền thông y tế. Sự kiện nhằm đánh giá toàn diện kết quả triển khai công tác truyền thông thời gian qua, đồng thời xác định rõ phương hướng đổi mới trong giai đoạn tới.
Ông Đoàn Hữu Thiển – Chánh Văn phòng Bộ Y tế – phát biểu khai mạc hội nghị.
Hội nghị có sự tham dự của lãnh đạo Văn phòng Bộ Y tế; đại diện Ban Tuyên giáo và Ban Dân vận Trung ương; lãnh đạo Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh; các Vụ, Cục, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ; Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh/thành phố cùng hơn 300 cán bộ phụ trách truyền thông y tế trên toàn quốc.
Truyền thông Y tế 2025: Toàn diện, sâu rộng và phản ứng nhanh
Báo cáo tổng kết tại hội nghị cho thấy công tác truyền thông y tế năm 2025 đạt kết quả toàn diện, sâu rộng và phản ứng nhanh, bám sát chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Y tế. Nhiều hoạt động lớn được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, nổi bật như chương trình kỷ niệm 70 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam được tổ chức với quy mô rộng, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong toàn hệ thống y tế; các tuyến bài trọng tâm về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, thực phẩm giả, thuốc giả, chuyển đổi số y tế, an toàn thực phẩm, phòng chống dịch… được thực hiện kịp thời, chính xác, góp phần định hướng dư luận và củng cố niềm tin của người dân.
Ông Nguyễn Toàn Thắng, Phó Chánh Văn phòng Bộ Y tế, trình bày tổng kết công tác truyền thông y tế năm 2025 và triển khai Kế hoạch thông tin, truyền thông y tế năm 2026.
Ngành Y tế cũng tăng cường điều phối giữa Văn phòng Bộ và các đơn vị, gắn kết hệ thống báo chí ngành, duy trì hiệu quả mô hình phối hợp liên ngành, đẩy mạnh truyền thông số và truyền thông nguy cơ.
Phát biểu tại hội nghị, ông Đoàn Hữu Thiển – Chánh Văn phòng Bộ Y tế – nhấn mạnh truyền thông y tế là cầu nối quan trọng giữa cơ quan quản lý và người dân, góp phần lan tỏa chủ trương, chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về y tế. Do đó, Bộ Y tế đề nghị các đơn vị cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch; tăng cường kết nối mạng lưới truyền thông y tế các cấp; đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức truyền thông theo hướng đa phương tiện, phát huy vai trò của chuyển đổi số; đồng thời tiếp tục củng cố cơ chế phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và cơ quan báo chí.
Ông Vũ Mạnh Cường, Giám đốc Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe trung ương trình bày báo cáo: “Truyền thông may đo” và marketing du kích trong truyền thông y tế” tại hội nghị.
Tăng tốc chuyển đổi số, đẩy mạnh truyền thông chính sách
Bước sang năm 2026, Bộ Y tế xác định đây là năm bản lề triển khai các văn bản định hướng quan trọng, đặc biệt là Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/09/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết này (Nghị quyết số 282/NQ-CP), cùng với Chỉ thị số 07/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác truyền thông chính sách.
Theo đó, ngành Y tế định hướng tập trung đẩy mạnh truyền thông chính sách y tế; nâng cao khả năng tiếp cận thông tin cho người dân; tăng cường truyền thông cải cách hành chính, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo; chủ động truyền thông phòng chống dịch, an toàn thực phẩm, thuốc giả; tổ chức truyền thông các ngày lễ và sự kiện y tế quan trọng. Mục tiêu là hiện đại hóa phương thức truyền thông dựa trên dữ liệu, công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Việc vận hành hiệu quả mạng lưới truyền thông y tế đa tầng từ Trung ương đến địa phương tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, bên cạnh công tác đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ truyền thông y tế.
Chuyên gia báo cáo tại sự kiện.
Tập huấn chuyên sâu về kỹ năng số và truyền thông nguy cơ
Tại hội nghị và chương trình tập huấn, các chuyên gia, diễn giả trình bày nhiều nội dung chuyên sâu, phản ánh xu hướng truyền thông y tế trong bối cảnh chuyển đổi số. Các bài tham luận tập trung vào ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý và sản xuất thông tin; xây dựng mạng lưới chuyên gia y tế phục vụ truyền thông giáo dục sức khỏe; triển khai truyền thông theo từng nhóm đối tượng; tăng cường truyền thông nguy cơ; đổi mới phương thức truyền thông tại tuyến cơ sở trong bối cảnh sắp xếp tổ chức chính quyền hai cấp; đồng thời nâng cao kỹ năng xử lý, khai thác và xác minh thông tin y tế trong thời đại số.
Đặc biệt, nhằm hiện thực hóa yêu cầu tăng tốc chuyển đổi số toàn diện trong công tác truyền thông, Tập huấn về chuyển đổi số trong công tác truyền thông y tế năm 2025 được Bộ Y tế tổ chức nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng số, thúc đẩy đổi mới toàn diện hoạt động truyền thông theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp và lấy người dân làm trung tâm. Bộ Y tế nhận định chuyển đổi số là xu thế tất yếu, giúp thông tin y tế nhanh hơn, chính xác hơn, song vẫn còn thách thức về năng lực ứng dụng công nghệ và kết nối dữ liệu. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải tăng tốc chuyển đổi số toàn diện trong truyền thông, lấy công nghệ làm nền tảng.
Chuyên gia báo cáo tại Tập huấn về chuyển đổi số trong công tác truyền thông y tế năm 2025.
Để cụ thể hóa, ngày 19/8, Bộ Y tế đã ban hành Kế hoạch số 1138/KH-BYT triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương; và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ, thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ, tập trung vào tuyên truyền chính sách, lan tỏa các mô hình chuyển đổi số hiệu quả, phát triển hệ sinh thái truyền thông số và huy động sự vào cuộc của toàn xã hội trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Chuỗi sự kiện khép lại với sự thống nhất cao trong toàn ngành về định hướng đổi mới công tác truyền thông y tế năm 2026. Những nội dung được thảo luận và chia sẻ tại hội nghị là nền tảng quan trọng để hệ thống truyền thông y tế phát triển chuyên nghiệp hơn, hiện đại hơn và bám sát yêu cầu thực tiễn, tiếp tục giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Hiện nay, việc đăng ký lưu hành thuốc cổ truyền trong nước đã có khá đầy đủ văn bản pháp quy hướng dẫn thực thi. Tuy nhiên, để phát triển bền vững và khai thác thị trường quốc tế, ngành dược cổ truyền cần hướng tới xuất khẩu, nhất là trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Thuốc cổ truyền là kết tinh trí tuệ và kinh nghiệm hàng nghìn năm của dân tộc, góp phần quan trọng trong công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.
1. Một số văn bản pháp quy liên quan đến công tác đăng ký lưu hành thuốc cổ truyền
Theo thông tin từ Cục Quản lý Y Dược cổ truyền, Bộ Y tế một số văn bản pháp quy liên quan đến công tác đăng ký lưu hành thuốc cổ truyền như:
1.1 Luật Dược sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược số 105/2016/QH13 đã được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2024, trong đó quy định nhiều chính sách liên quan đến đăng ký thuốc, nguyên liệu làm thuốc:
– Chính sách ưu tiên trong đăng ký lưu hành thuốc cổ truyền:
+ Đối với các thuốc được mua từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn từ nguồn thu hợp pháp khác của cơ sở y tế công lập thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu và ưu đãi trong mua thuốc đối với thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền được sản xuất từ nguồn dược liệu trong nước đáp ứng Thực hành tốt nuôi trồng, thu hái dược liệu.
+ Thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền được sản xuất trên cơ sở nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ hoặc cấp tỉnh đã được nghiệm thu; thuốc thuộc Danh mục sản phẩm quốc gia do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
+ Ưu tiên về trình tự, thủ tục, thời gian cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc đối với thuốc sản xuất từ nguồn dược liệu đáp ứng Thực hành tốt nuôi trồng, thu hái dược liệu; thuốc và nguyên liệu làm thuốc được sản xuất trên cơ sở nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia đã được nghiệm thu; thuốc phục vụ yêu cầu quốc phòng, an ninh, khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai, thảm họa, phòng, chống dịch bệnh.
+Áp dụng các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ từ Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia và các quỹ khác hỗ trợ cho hoạt động khoa học và công nghệ trong nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm lâm sàng, chuyển giao công nghệ, sản xuất và thương mại hóa thuốc cổ truyền dưới dạng bào chế hiện đại, thuốc dược liệu được sản xuất trên cơ sở nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ.
Ưu tiên về trình tự, thủ tục, thời gian cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc đối với thuốc sản xuất từ nguồn dược liệu đáp ứng Thực hành tốt nuôi trồng, thu hái dược liệu.
+ Kết hợp đầu tư ngân sách nhà nước với huy động các nguồn lực khác cho phát triển công nghiệp sản xuất thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền, thuốc sản xuất từ nguồn dược liệu trong nước; nuôi trồng, sản xuất dược liệu; phát hiện, bảo tồn và ứng dụng khoa học, công nghệ trong nghiên cứu, phát triển nguồn gen dược liệu quý, hiếm, đặc hữu.
+ Hỗ trợ, tạo điều kiện phát hiện, thử lâm sàng, đăng ký lưu hành, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có liên quan và kế thừa đối với thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu được sản xuất trên cơ sở nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ hoặc cấp tỉnh đã được nghiệm thu; tìm kiếm, khai thác, sử dụng dược liệu mới; xuất khẩu dược liệu nuôi trồng; di thực dược liệu; khai thác dược liệu thiên nhiên hợp lý; nghiên cứu, khảo sát, điều tra loài dược liệu phù hợp để nuôi trồng tại địa phương; phát triển các vùng nuôi trồng dược liệu; hiện đại hóa sản xuất và có chính sách xúc tiến thương mại để xuất khẩu thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền.
+ Có chính sách bảo vệ bí mật trong bào chế, chế biến và dữ liệu thử nghiệm lâm sàng thuốc cổ truyền; đãi ngộ hợp lý đối với người hiến tặng bài thuốc cổ truyền quý cho Nhà nước; tạo điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề cho người sở hữu bài thuốc gia truyền được Bộ Y tế công nhận.
+ Có chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dược, hỗ trợ hoạt động đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong nghiên cứu, phát triển, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, sản xuất, thử nghiệm thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền.
Cần có chính sách bảo vệ bí mật trong bào chế, chế biến và dữ liệu thử nghiệm lâm sàng thuốc cổ truyền.
– Chính sách gia hạn ‘bán tự động’:
Chính sách gia hạn “bán tự động” cho các thuốc cổ truyền, cơ sở sau khi nộp hồ sơ đúng quy định được tiếp tục sử dụng cho đến khi được gia hạn hoặc khi cơ quan tiếp nhận có văn bản thông báo không gia hạn hoặc thông báo tạm dừng sử dụng giấy đăng ký lưu hành do phát hiện thuốc cổ truyền, vị thuốc cổ truyền, dược liệu có nguy cơ không an toàn cho người sử dụng hoặc nghi ngờ giả mạo tài liệu pháp lý.
– Đơn giản hóa thành phần hồ sơ gia hạn:
Giảm thành phần hồ sơ từ 06 thành phần xuống còn 03 thành phần hồ sơ đối với thuốc nước ngoài và 02 thành phần hồ sơ đối với thuốc trong nước.
1.2 Bộ Y tế cũng đã ban hành Thông tư số 29/2025/TT-BYT ngày 01/7/2025 quy định về việc đăng ký lưu hành thuốc cổ truyền, vị thuốc cổ truyền, dược liệu (thay thế Thông tư số 21/2018/TT-BYT, Thông tư số 39/2021/TT-BYT, Thông tư số 54/2024/TT-BYT) và chỉnh sửa một số nội dung theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký lưu hành thuốc cổ truyền.
Trong đó, thuốc cổ truyền được miễn thử lâm sàng chia làm 03 nhóm:
(1) Bài thuốc cổ truyền trong sách của Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh do nhà xuất bản uy tín trong nước và ngoài nước xuất bản quy định tại Quyết định phê duyệt danh mục tạp chí khoa học được tính điểm của Hội đồng giáo sư nhà nước đối với ngành dược học và ngành y học.
Chúng ta đã biết, Việt Nam có 02 Đại danh y lớn là Hải Thượng Lãn Ông và Tuệ Tĩnh, được coi là 02 ông tổ của ngành y học cổ truyền Việt Nam. Đặc biệt, Hải Thượng Lãn Ông đã được UNESCO vinh danh là danh nhân văn hóa thế giới. Đây là sự khẳng định của thế giới đối với sự đóng góp của ông đối với nền y học cổ truyền Việt Nam và thế giới. Hải Thượng Lãn Ông và Tuệ Tĩnh đã để lại nhiều bài thuốc quý, nổi bật là các bộ sách: Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh của Hải Thượng Lãn Ông và Nam Dược Thần Hiệu của Tuệ Tĩnh.
(2) Bài thuốc có trong chuyên luận dược điển Việt Nam hoặc dược điển một trong các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Đây là những quốc gia có nền y học cổ truyền phát triển lâu đời và có nhiều điểm tương đồng trong lý luận của y học cổ truyền Việt Nam. Việc sử dụng kho tàng các bài thuốc đã được nghiên cứu này giúp đóng góp cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Phát huy ưu thế của các bài thuốc gia truyền góp phần chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
(3) Bài thuốc gia truyền đã được cấp giấy chứng nhận bài thuốc gia truyền theo quy định của pháp luật được đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn. Để phát huy kinh nghiệm truyền thống, nhiều bài thuốc gia truyền đã được công nhận và đưa vào sản xuất phát huy tính đặc thù của y học cổ truyền trong dân gian. Có nhiều bài thuốc rất hiệu quả trên lâm sàng góp phần không nhỏ vào công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Tuy nhiên, hiện nay số lượng chuyên luận cho thuốc cổ truyền trong Dược điển Việt Nam còn ít; hệ thống kiểm nghiệm thuốc cổ truyền chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức; tại địa phương chưa có cán bộ chuyên trách theo dõi công tác y học cổ truyền.
Ngoài ra, chưa có hướng dẫn riêng cho thử nghiệm lâm sàng thuốc cổ truyền. Một số bài thuốc lưu truyền rất lâu đời trong dân gian được nhân dân truyền tai có hiệu quả nhưng chưa được đánh giá đầy đủ an toàn và hiệu quả trên lâm sàng, dẫn đến khó khăn trong việc hoàn thiện hồ sơ đăng ký.
2. Cần cơ chế riêng cho thuốc cổ truyền
Cũng theo thông tin từ Cục Quản lý Y Dược cổ truyền, Bộ Y tế, các quy định, hướng dẫn về thuốc cổ truyền hiện vẫn đang nằm rải rác trong Luật Dược và các thông tư, hướng dẫn, quy định chung. Điều này khiến cho người dân, các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp dược cổ truyền khó khăn, lúng túng trong quá trình thực thi các công việc liên quan đến Luật và các quy định, hướng dẫn dưới Luật.
Để phát huy được tinh hoa của Y học cổ truyền Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý đặc thù cho thuốc cổ truyền, sớm ban hành Luật Y Dược cổ truyền chuyên biệt với những chính sách và quy định riêng theo đúng tinh thần chỉ đạo tại Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Hoàn thiện quy định về đăng ký lưu hành thuốc cổ truyền không chỉ là nhiệm vụ quản lý nhà nước, mà còn là bước đi chiến lược để bảo tồn và phát huy tinh hoa Y học cổ truyền Việt Nam.
Một cơ chế quản lý linh hoạt, khoa học, đặc thù sẽ giúp thuốc cổ truyền phát triển bền vững, vươn ra thế giới, góp phần khẳng định vị thế của y học cổ truyền trong nền y học hiện đại, hội nhập nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc.
Mô hình “làng dược liệu” đang mở ra hướng phát triển mới cho kinh tế xanh Việt Nam – nơi kết hợp giữa bảo tồn tri thức y học cổ truyền và du lịch sinh thái chữa lành.
Giữa xu thế phát triển kinh tế xanh và du lịch gắn với chăm sóc sức khỏe, mô hình “làng dược liệu” đang được nhiều địa phương ở Việt Nam hướng tới như một hướng đi bền vững. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn tri thức y học cổ truyền, phát triển kinh tế cộng đồng và gìn giữ hệ sinh thái tự nhiên, mở ra một cách tiếp cận mới cho phát triển địa phương gắn với bản sắc văn hóa dân tộc.
Tiềm năng từ vùng đất và tri thức bản địa
Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, với hàng nghìn loài cây thuốc quý sinh trưởng tự nhiên ở vùng núi, rừng sâu, đặc biệt tại khu vực Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên. Bên cạnh đó, tri thức y học dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số – như Dao, Thái, Mông, Tày – là kho tàng vô giá được truyền lại qua nhiều thế hệ. Họ biết cách nhận diện cây thuốc, kết hợp các vị thảo dược trong điều trị và chăm sóc sức khỏe hàng ngày.
Chính sự kết hợp giữa điều kiện tự nhiên thuận lợi và tri thức truyền thống đã tạo nên lợi thế đặc biệt để hình thành các “làng dược liệu” – nơi vừa trồng trọt, chế biến, bảo tồn cây thuốc, vừa đón du khách đến trải nghiệm văn hóa và khám phá y học cổ truyền.
Cấu trúc mô hình “làng dược liệu”
Một làng dược liệu hoàn chỉnh thường bao gồm các khu vực trồng cây thuốc, vườn sưu tầm và bảo tồn, khu chế biến thảo dược, không gian trải nghiệm và khu lưu trú cộng đồng. Người dân địa phương là chủ thể tham gia ở mọi công đoạn: từ chăm sóc cây thuốc, chế biến lá tắm, pha chế trà thảo mộc đến hướng dẫn du khách tham quan, tắm thuốc hay xông hơi.
Du khách đến đây không chỉ ngắm cảnh, nghỉ dưỡng mà còn có thể trực tiếp hái lá thuốc, học cách chế biến, nghe kể về công dụng của từng vị dược liệu. Một số nơi còn phát triển các dịch vụ trị liệu cổ truyền như massage thảo dược, xông hơi, tắm lá thuốc Dao đỏ… mang lại trải nghiệm vừa thư giãn vừa chữa lành.
Lợi ích đa chiều của mô hình “làng dược liệu”
Về kinh tế, mô hình này giúp người dân có thêm nguồn thu nhập ổn định nhờ kết hợp giữa nông nghiệp và du lịch. Việc trồng cây thuốc dưới tán rừng giúp tận dụng đất đai, tạo sinh kế xanh và góp phần giảm khai thác rừng tự nhiên. Các sản phẩm dược liệu như tinh dầu, trà thảo mộc, cao thuốc, lá tắm được đóng gói và thương mại hóa, trở thành sản phẩm đặc trưng của địa phương.
Về xã hội, mô hình “làng dược liệu” giúp bảo tồn và phát huy tri thức y học dân gian. Những bài thuốc, kinh nghiệm quý được ghi chép, hệ thống hóa và truyền dạy cho thế hệ trẻ, tránh nguy cơ mai một. Người dân bản địa, đặc biệt là phụ nữ, được tạo việc làm ngay tại quê hương, góp phần giữ chân lao động và phát triển du lịch cộng đồng.
Về môi trường, trồng dược liệu dưới tán rừng giúp duy trì độ che phủ, chống xói mòn và bảo tồn đa dạng sinh học. Việc khai thác hợp lý còn tạo động lực cho người dân tham gia bảo vệ rừng, chuyển đổi từ “khai thác” sang “nuôi dưỡng” tài nguyên thiên nhiên.
Về y học, du khách và người dân có cơ hội tiếp cận phương pháp chăm sóc sức khỏe tự nhiên, an toàn, mang tính phòng ngừa cao. Y học cổ truyền được kết nối với du lịch nghỉ dưỡng tạo nên xu hướng mới – du lịch chăm sóc sức khỏe toàn diện (wellness tourism).
Mô hình “làng dược liệu” giúp bảo tồn và phát huy tri thức y học dân gian.
Những thách thức đặt ra
Dù có nhiều tiềm năng, việc triển khai mô hình “làng dược liệu” vẫn còn gặp khó khăn. Nhiều vùng trồng quy mô nhỏ lẻ, chưa đạt chuẩn trồng dược liệu sạch (GACP-WHO). Việc chế biến, bảo quản và kiểm soát chất lượng còn hạn chế, khiến giá trị sản phẩm chưa cao.
Cơ sở hạ tầng du lịch ở nhiều bản làng còn thiếu, nguồn nhân lực am hiểu cả y học cổ truyền lẫn kỹ năng du lịch chưa nhiều. Ngoài ra, việc bảo tồn tri thức dân gian vẫn còn rời rạc, thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cộng đồng.
Hướng phát triển bền vững
Để “làng dược liệu” thực sự trở thành mô hình kinh tế xanh, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, người dân, nhà khoa học và doanh nghiệp. Trước hết, cần xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, chọn giống cây thuốc phù hợp từng vùng sinh thái, đồng thời tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc và sơ chế dược liệu an toàn.
Bên cạnh đó, nên phát triển sản phẩm du lịch chuyên biệt gắn với y học cổ truyền – như “tour trải nghiệm dược liệu”, “tour tắm lá thuốc”, “ngày sống cùng người Dao” – kết hợp nghỉ dưỡng và ẩm thực bản địa có sử dụng thảo mộc. Việc xây dựng thương hiệu cho từng “làng dược liệu” cũng rất quan trọng, có thể gắn với chương trình OCOP hoặc phát triển nhãn hiệu tập thể để quảng bá rộng rãi.
Cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực trẻ, đặc biệt là người dân bản địa, để họ trở thành hướng dẫn viên, kỹ thuật viên trị liệu hoặc chuyên gia truyền dạy tri thức cây thuốc. Đồng thời, ứng dụng công nghệ số trong quảng bá, bán sản phẩm dược liệu, liên kết với các doanh nghiệp du lịch và y học cổ truyền để mở rộng thị trường.
Mô hình “làng dược liệu” không chỉ là hướng đi kinh tế mà còn là con đường bảo tồn tri thức y học dân gian và phát triển bền vững. Khi được quy hoạch và đầu tư đúng mức, mô hình này có thể trở thành điểm sáng của kinh tế xanh Việt Nam – nơi con người sống hài hòa với thiên nhiên, gìn giữ văn hóa dân tộc và lan tỏa giá trị chữa lành của y học cổ truyền.
Đó không chỉ là một mô hình phát triển kinh tế, mà còn là hành trình khơi dậy sức mạnh của bản sắc Việt trong từng tán rừng, từng nắm lá thuốc và trong niềm tự hào của những con người sống nhờ núi rừng – và gìn giữ núi rừng bằng chính tri thức của mình.
Trung bình mỗi năm Việt Nam có 75 người chết do bệnh dại, với chi phí điều trị dự phòng lên tới hơn 300 tỷ đồng cho khoảng 400.000 người. Năm 2024, cả nước ghi nhận 89 ca tử vong do bệnh dại, tất cả đều không tiêm phòng, chủ yếu do chó, mèo lây bệnh.
Năm 2024, cả nước ghi nhận 89 ca tử vong do bệnh dại, tất cả đều không tiêm phòng, chủ yếu do chó, mèo lây bệnh. (Ảnh: nhandan.vn)
Đây là nội dung được đưa ra thảo luận tại Hội nghị “Tăng cường vai trò các bên liên quan trong thực hiện các giải pháp của Chương trình quốc gia phòng chống bệnh dại giai đoạn 2022-2030” diễn ra ngày 12/11 ở Hà Nội.
75 người chết mỗi năm, chi phí phòng bệnh lên tới hàng trăm tỷ đồng
Chia sẻ tại hội nghị, ông Phạm Thành Long, đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết: bệnh dại là bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người do virus Rhabdovirus gây ra. 99% trường hợp mắc ở người là do chó dại cắn.
Theo thống kê, mỗi năm thế giới có khoảng 59.000 người tử vong và hơn 10 triệu người phải tiêm vaccine phòng dại tại hơn 150 quốc gia, trong đó 95% các ca xảy ra ở châu Phi và châu Á. Đông Nam Á là điểm nóng của bệnh dại do lượng chó thả rông lớn, tỷ lệ tiêm phòng thấp, cùng với việc buôn bán thịt chó, mèo vẫn diễn ra. Trẻ em và người dân nông thôn chiếm tỷ lệ cao trong số ca tử vong.
Ông Phạm Thành Long, đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phát biểu tại Diễn đàn.
Tại Việt Nam, trung bình mỗi năm có 75 người chết vì bệnh dại, khoảng 400.000 người phải điều trị dự phòng bằng vaccine và huyết thanh kháng dại, chi phí ước tính hơn 300 tỷ đồng. Năm 2024, cả nước ghi nhận 89 người tử vong, tăng so với các năm trước. Tất cả nạn nhân đều không tiêm phòng, nguồn lây chủ yếu từ chó và mèo. Chín tháng đầu năm 2025, cả nước đã có 58 người tử vong tại 18 tỉnh, thành phố.
Nguyên nhân chủ yếu là do người dân chủ quan, không đi tiêm phòng sau khi bị chó hoặc mèo cắn, hoặc sử dụng các phương pháp chưa được kiểm chứng như thuốc đông y. Trẻ em thường không báo cho người lớn khi bị cắn. Nếu không áp dụng biện pháp phòng ngừa kịp thời, tỷ lệ tử vong gần như 100% khi triệu chứng bệnh xuất hiện.
Ông Long cho biết, tổng đàn chó cả nước trên 7 triệu con, nuôi tại hơn 3 triệu hộ gia đình. Cục Chăn nuôi và Thú y đã triển khai phần mềm quản lý thông tin đàn chó, tích hợp vào Hệ thống báo cáo dịch bệnh trực tuyến VAHIS, đồng thời xây dựng bản đồ phân bố đàn chó và dịch tễ bệnh dại. Nhiều địa phương như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An đã lập đội bắt chó thả rông và đường dây nóng tiếp nhận thông tin về bệnh dại.
Tỷ lệ đàn chó, mèo được tiêm phòng vaccine dại trên toàn quốc từ năm 2024 đến 2025 đạt hơn 56%, cao hơn gần 17% so với trung bình giai đoạn 2022-2023.
Phấn đấu không còn ca tử vong nhờ tiêm phòng và kiểm soát vật nuôi
Là một trong số các địa phương có số ca tỷ vong cao vì bệnh dại, bác sĩ Hoàng Hải Phúc-Giám đốc Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Đắk Lắk cho biết, hiện nay tổng đàn chó mèo trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và cả nước rất lớn, có xu hướng gia tăng do người dân nuôi canh giữ tài sản và làm thực phẩm nhiều.
Để kiểm soát được bệnh dại trên người, Giám đốc CDC Đắk Lắk kiến nghị Cục Chăn nuôi và Thú y, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần có biện pháp kiểm soát chặt chẽ đàn chó mèo và thống kê chính xác số lượng vật nuôi để có giải pháp tiêm phòng và khống chế dịch bệnh đạt hiệu quả cao hơn.
Toàn cảnh Hội nghị “Tăng cường vai trò các bên liên quan trong thực hiện các giải pháp của Chương trình quốc gia phòng chống bệnh dại giai đoạn 2022-2030”.
Ông Võ Hải Sơn, Phó Cục trưởng Phòng bệnh (Bộ Y tế), khẳng định: Chương trình quốc gia phòng, chống bệnh dại giai đoạn 2022-2030 đặt mục tiêu kiểm soát bệnh Dại ở chó mèo và phấn đấu không còn người tử vong vào năm 2030. Bộ Y tế phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai nhiều giải pháp, trong đó có Chỉ thị số 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường biện pháp phòng, chống bệnh dại.
Tại Hội nghị các chuyên gia khuyến cáo người dân cần nhận thức rõ mối nguy hiểm của bệnh dại. Nếu bị chó, mèo cắn, cần xử lý vết thương ngay và đến cơ sở y tế để tiêm phòng kịp thời; tuyệt đối không sử dụng thuốc nam, thuốc gia truyền hay phương pháp mê tín dị đoan. Việc tiêm phòng đầy đủ cho chó, mèo nuôi cũng rất quan trọng. Nhóm nguy cơ cao như nhân viên thú y, người làm việc tại cơ sở nuôi giữ động vật cũng cần tiêm phòng dự phòng trước khi phơi nhiễm.
Bà Jennifer Horton, đại diện Tổ chức WHO cho hay: Khi triệu chứng bệnh dại xuất hiện, tỷ lệ làm chết người lên tới 100%, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể phòng ngừa nếu điều trị dự phòng kịp thời bằng vaccine phòng dại sau phơi nhiễm.
Do vậy, Tổ chức Y tế thế giới đã trao tặng 9.000 liều vaccine phòng dại cho 2 tỉnh có nguy cơ cao là Phú Thọ và Tuyên Quang nhằm bảo vệ nhóm người dễ bị tổn thương, nhất là nhóm đồng bào dân tộc thiểu số và trẻ em.
Tại hội nghị, đại diện WHO kêu gọi các cơ quan liên quan, các địa phương của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới cùng vào cuộc mạnh mẽ hơn để ngăn chặn bệnh dại lây lan trên người nhằm phấn đấu không còn người tử vong do bệnh này vào năm 2030.
“WHO cam kết sẽ chung tay cùng với các quốc gia để thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp đến ngăn chặn bệnh dại trên thế giới. Trong đó bao gồm giải pháp giảm giá vaccine, bảo đảm nguồn cung sản phẩm này giúp mọi quốc gia đều có thể tiếp cận được để tiêm phòng đầy đủ”, bà Jennifer Horton khẳng định.
Lịch sử y học biển đảo vừa ghi nhận một ca phẫu thuật đặc biệt khi các bác sĩ mở lồng ngực ngay tại quần đảo Trường Sa để cứu nam công nhân trong tình trạng nguy cấp.
Giữ lại sự sống cho ngư dân bên lằn ranh sinh tử
Ngày 11/11, thông tin từ Bệnh viện Quân y 175 cho biết, tổ cấp cứu hàng không của bệnh viện vừa thực hiện một ca cấp cứu đặc biệt tại quần đảo Trường Sa. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, các bác sĩ thực hiện phẫu thuật mở lồng ngực ngay tại đảo xa để cứu sống nam công nhân bị tràn khí, tràn máu màng phổi nguy kịch sau khi lặn sâu dưới biển.
Các bác sĩ thực hiện cuộc đại phẫu khẩn cấp cứu người bệnh giữa đảo xa
Theo bệnh sử, trước khi rơi vào nguy cấp anh H.N.K. (35 tuổi, quê Đà Nẵng) công nhân Công ty TCDG đang làm việc trên đảo đã lặn ở độ sâu khoảng 11m. Anh K. bất ngờ xuất hiện đau ngực trái dữ dội, khó thở và nhanh chóng kiệt sức. Rạng sáng 9/11, anh được đưa vào Bệnh xá đảo Trường Sa Lớn trong tình trạng mạch nhanh, huyết áp tụt, X-quang cho thấy tràn máu và tràn khí màng phổi bên trái lượng nhiều.
Sau khi được bác sĩ phẫu thuật dẫn lưu, lượng máu ra tới 1,4 lít, bệnh nhân bắt đầu sốc mất máu, nguy cơ tử vong rất cao. Ngay sau đó, hệ thống Telemedicine được kích hoạt, kết nối trực tiếp giữa Bệnh xá Trường Sa Lớn và Bệnh viện Quân y 175.
Ê kíp bác sĩ đã khắc phục tình trạng thiếu thốn của y tế trên đảo, thành công giúp người bệnh qua nguy kịch
Từ đất liền, các chuyên gia hướng dẫn đội ngũ y bác sĩ trên đảo hồi sức tích cực, truyền dịch, sử dụng thuốc vận mạch. Trong đêm, các chiến sĩ trên đảo đã tự nguyện hiến máu, truyền bổ sung cho bệnh nhân, giúp duy trì sự sống trong giai đoạn nguy kịch trước khi tổ cấp cứu đường không đến nơi.
Ca phẫu thuật sinh tử giữa trùng khơi
Sáng 9/11, sau hội chẩn trực tuyến, các bác sĩ Bệnh viện Quân y 175 kết luận, bệnh nhân bị sốc mất máu do tổn thương nhu mô phổi khi lặn sâu, cần phẫu thuật khẩn cấp. Ban Giám đốc bệnh viện quyết định triển khai tổ cấp cứu đường không do Trung tá, BS Phạm Trường Thanh làm tổ trưởng; Thiếu tá, BS Nguyễn Việt Cường – Khoa Phẫu thuật lồng ngực – làm tổ phó, cùng 6 bác sĩ chuyên khoa gây mê hồi sức và hồi sức tích cực.
Sau phẫu thuật, bệnh nhân được trực thăng chuyển cấp cứu về đất liền
Lúc 14 giờ 12 phút, trực thăng EC225 số hiệu VN-8622 của Binh đoàn 18 cất cánh từ Tân Sơn Nhất, mang theo đầy đủ dụng cụ mổ, vật tư gây mê hồi sức và thiết bị theo dõi chuyên dụng. “Ra đảo xa, chúng tôi xác định chắc chắn phải phẫu thuật mở ngực tại chỗ, vì nếu không, bệnh nhân sẽ không thể sống sót trong hành trình bay về đất liền” – Thiếu tá, BS Nguyễn Việt Cường chia sẻ.
Lúc 17 giờ 45 phút, trực thăng tiếp cận đảo Trường Sa. Thời điểm này, tổng lượng máu dẫn lưu từ màng phổi đã lên tới hơn 3 lít, bệnh nhân suy kiệt, mạch yếu, nguy cơ tử vong bất kỳ lúc nào. Ca phẫu thuật mở lồng ngực khẩn cấp được tiến hành ngay tại phòng mổ dã chiến của đảo, dưới sự giám sát trực tuyến từ đất liền qua hệ thống Telemedicine.
Trong quá trình phẫu thuật, các bác sĩ phát hiện máu chảy từ nhánh động mạch đỉnh phổi bên trái, kèm nhiều kén khí đã vỡ. Khoang màng phổi chứa khoảng 500 ml máu đông, tổng lượng máu bệnh nhân đã mất ước tính 3,6 lít. Ê kíp tiến hành khâu cầm máu, cắt bỏ kén khí và hút sạch máu đông. Mọi thao tác được thực hiện trong điều kiện thiếu thốn trang thiết bị, song vẫn đảm bảo chuẩn kỹ thuật.
Hiện người bệnh đang được các bác sĩ theo dõi, điều trị tích cực
Sau gần hai giờ phẫu thuật, tình trạng xuất huyết ở người bệnh được kiểm soát, phổi bệnh nhân giãn nở tốt, sinh hiệu bệnh nhân ổn định. Sau cuộc mổ, bệnh nhân được dẫn lưu màng phổi và chuẩn bị vận chuyển khẩn cấp về đất liền. 23 giờ cùng ngày, trực thăng VN-8622 cất cánh đưa bệnh nhân vượt hơn 400 km về TP.HCM.
Trong suốt chuyến bay kéo dài hơn ba giờ, hai bác sĩ túc trực liên tục theo dõi chỉ số sinh tồn, truyền dịch, duy trì thở máy và an thần để tránh biến chứng do thay đổi áp suất. 1 giờ 45 phút, rạng sáng sáng 10/11 trực thăng đã đáp an toàn xuống nóc tòa nhà Viện Chấn thương Chỉnh hình của Bệnh viện Quân y 175, bệnh nhân được nhập viện, tiếp tục theo dõi, điều trị chuyên sâu.
Đại tá Phan Đình Mừng, Phó Giám đốc Bệnh viện Quân y 175, cho biết: “Đây là ca đặc biệt nhất trong 82 nhiệm vụ vận chuyển cấp cứu đường không mà chúng tôi từng thực hiện. Bệnh nhân bị vỡ kén khí phổi do thay đổi áp lực khi lặn sâu, gây tràn khí, tràn máu màng phổi nặng. Việc mở lồng ngực tại Trường Sa là quyết định vô cùng khó khăn nhưng chính xác, cứu bệnh nhân thoát khỏi cửa tử”.
Sở Y tế TPHCM cho biết, đã xác định được tác nhân gây ngộ độc thực phẩm hàng loạt liên quan đến chuỗi cửa hàng Bánh mì cóc cô B. thông qua kết quả xét nghiệm mẫu cấy phân và cấy máu.
Ngày 12/11, Sở Y tế TPHCM cho biết đã xác định được tác nhân gây ngộ độc thực phẩm vụ Bánh mì cóc cô B.
Theo đó, tính tới 9h ngày 12/11, đã có 304 trường hợp rối loạn tiêu hoá sau ăn bánh mì tại Bánh mì cóc cô B. cơ sở 1 Nguyễn Thái Sơn (phường Hạnh Thông) và cơ sở 2 Lê Quang Định (phường Bình Lợi Trung) nhập 14 bệnh viện trên địa bàn.
Trong đó, đã có 244 trường hợp ổn định, đã xuất viện và hiện còn 60 bệnh nhân đang tiếp tục điều trị tại các bệnh viện trên địa bàn. Riêng trường hợp nặng phải điều trị hồi sức tích cực tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định sáng nay đã cai được máy thở, sinh hiệu ổn.
Sở Y tế TPHCM cho biết, kết quả xét nghiệm từ mẫu cấy máu và cấy phân cho thấy tác nhân là Salmonella enteritidis và Salmonella spp. Đây chính là tác nhân gây ra các triệu chứng ngộ độc.
Cả 2 cơ sở Bánh mì cóc cô B. đã ngưng hoạt động.
Sở Y tế TPHCM chỉ đạo các bệnh viện và Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TPHCM (HCDC) tiếp tục phối hợp với Đơn vị Nghiên cứu lâm sàng Đại học Oxford (OUCRU) tiến hành thực hiện xét nghiệm nuôi cấy vi sinh và giải trình tự gen các chủng phân lập được để làm rõ nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến chùm ca ngộ độc thực phẩm này.
Riêng 1 trường hợp có kết quả xét nghiệm cấy máu dương tính với Staphylococcus coagulase-negative theo báo cáo của Bệnh viện Nhân Dân Gia Định đã được bệnh viện xác định lại là do ngoại nhiễm khi làm xét nghiệm vi sinh. Được biết, nhóm Staphylococcus coagulase-negative không sinh độc tố ruột, không gây ngộ độc thực phẩm.
Sau khi nắm thông tin sự việc, UBND phường Hạnh Thông cùng Sở An toàn Thực phẩm TPHCM đã tiến hành kiểm tra cơ sở Bánh mì cóc cô B., niêm phong và lấy mẫu nguyên liệu, lấy mẫu kiểm nghiệm và mở rộng kiểm tra xác minh nguyên nhân và xử lý theo quy định.
Bệnh nhân ngộ độc bánh mì điều trị tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Ảnh: BVCC
TS.BS Võ Hồng Minh Công – Phó Giám đốc Bệnh viện Nhân dân Gia Định cho biết, vi khuẩn Salmonella – là loại vi khuẩn có thể phát triển trong thực phẩm như pate, thịt nguội, rau củ muối. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến nhiễm trùng máu và suy đa tạng.
Để phòng tránh ngộ độc thực phẩm, TS.BS Võ Hồng Minh Công khuyến cáo người dân nên ăn chín uống sôi, không ăn đồ sống hoặc quá hạn sử dụng; tách biệt thực phẩm sống và chín; đậy kín thức ăn; hâm nóng lại thức ăn thừa trên 70°C trước khi ăn; bảo quản lạnh thực phẩm, không để ở nhiệt độ thường quá 2 giờ; rửa tay bằng xà phòng trước khi chế biến, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh; giữ vệ sinh bếp và dụng cụ nấu nướng sạch sẽ.
Người dân chỉ nên sử dụng thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, được bảo quản đúng cách và đến ngay cơ sở y tế khi xuất hiện các triệu chứng bất thường như sốt, tiêu chảy, nôn ói, đau bụng…
Sáng 11/12, với 425/436 ĐBQH có mặt tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 89,85%), Quốc hội chính thức thông qua Luật Đầu tư (sửa đổi). Một trong những điểm đáng chú ý là luật cấm các hoạt động đầu tư, kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Một trong những điểm đáng chú ý tại Luật Đầu tư (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua là quy định cấm các hoạt động đầu tư, kinh doanh gồm: kinh doanh các chất ma túy; kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật; kinh doanh mẫu vật các loài thực vật, động vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên; kinh doanh mại dâm; mua bán người, mô, xác, bộ phận cơ thể người, bào thai người; hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người; kinh doanh pháo nổ; kinh doanh dịch vụ đòi nợ; kinh doanh mua bán bảo vật quốc gia; kinh doanh xuất khẩu di vật, cổ vật; kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV sáng 11/12.
Trước khi các đại biểu bấm nút biểu quyết, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi).
Về điều kiện đầu tư kinh doanh, Bộ trưởng cho biết tiếp thu ý kiến của UBTVQH, Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan để rà soát quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, nhằm sàng lọc và phân định các ngành, nghề thực sự cần thực hiện “tiền kiểm”, đồng thời chuyển các ngành, nghề đang quy định điều kiện đầu tư kinh doanh áp dụng đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra mà có thể kiểm soát bằng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật sang cơ chế “hậu kiểm”, bảo đảm theo đúng tinh thần Nghị quyết số 68 và Nghị quyết số 198.
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng trình bày báo cáo tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật.
Dự thảo Luật cắt giảm, sửa đổi, bổ sung ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Theo đó, rà soát và cắt giảm 38 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không đáp ứng tiêu chí theo Điều 7 Luật Đầu tư, bao gồm: kinh doanh làm thủ tục về thuế; kinh doanh dịch vụ làm thủ tục hải quan; dịch vụ phụ trợ bảo hiểm; kinh doanh dịch vụ giám định thương mại; kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa có thuế tiêu thụ đặc biệt; kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng thực phẩm đông lạnh; kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa đã qua sử dụng…
Ngoài ra, Luật cũng quy định ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo đó, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam mà việc thực hiện hoạt động trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng. Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Luật này.
Kết quả biểu quyết thông qua Luật Đầu tư (sửa đổi).
Chính phủ công bố Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cần thiết phải cấp phép, chứng nhận trước khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh; và Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải chuyển phương thức quản lý điều kiện kinh doanh từ cấp phép, chứng nhận sang công bố yêu cầu, điều kiện kinh doanh để quản lý theo phương thức hậu kiểm.
Điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND, UBND các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh. Điều kiện đầu tư kinh doanh phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, tiết kiệm thời gian và chi phí tuân thủ của nhà đầu tư.
Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện tương ứng phải được đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Chính phủ quy định chi tiết việc công bố và kiểm soát điều kiện đầu tư kinh doanh.
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vừa thực hiện ca lấy ghép đa tạng từ người hiến chết não thứ 4 trong năm 2025, hồi sinh thêm 6 cuộc đời.
Các bác sĩ tiến hành lấy tạng hiến.
Ngày 9/11, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 tổ chức ca lấy ghép đa tạng từ người hiến chết não, cứu sống 6 bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo và 2 bệnh nhân chờ ghép.
Người hiến chết não là nam quân nhân, 55 tuổi. Bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp, đột quỵ nhồi máu não cũ 2 lần, rối loạn lipid máu. Ngày 4/11, bệnh nhân vào viện vì rối loạn ý thức, khó nói giờ thứ 2, được chẩn đoán nhồi máu não cấp hố sọ sau do tắc đỉnh động mạch thân nền, hẹp khít V4 động mạch đốt sống hai bên giờ thứ 2, can thiệp cấp cứu lấy huyết khối.
Sau can thiệp, tình trạng không cải thiện, chuyển dạng xuất huyết cầu não phải. Các bác sĩ đã điều trị tích cực cho bệnh nhân, song điều kỳ diệu đã không đến với người bệnh.
Sau khi nhận được thông tin về tình trạng của bệnh nhân và với tấm lòng thiện nguyện, nhân đạo, gia đình bệnh nhân đã đồng ý hiến tặng tạng để cứu những người bệnh khác đang chờ đợi cơ hội sống.
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới gia đình người bệnh, những người đã vượt qua nỗi đau mất mát để trao đi hy vọng sống cho nhiều cuộc đời khác.
Ngay lập tức, sáng 9/11, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 khẩn trương tổ chức hội chẩn liên viện, các chuyên khoa trong bệnh viện thống nhất phương án lấy và ghép các tạng.
Cuộc hội chẩn kéo dài 2 giờ đồng hồ, dưới sự chủ trì của Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hữu Song – Giám đốc Bệnh viện. Toàn bộ các kíp, phòng, khoa trong Bệnh viện được huy động tối đa, dốc toàn tâm, toàn lực, “tất cả vì người bệnh”.
Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hữu Song chỉ đạo, với ca lấy ghép đa tạng từ người hiến chết não này, ê-kíp bệnh viện ngay lập tức tiến hành: Ghép tim cho 1 bệnh nhân; chia gan để ghép cho 2 bệnh nhân (một bệnh nhân tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; vận chuyển thùy gan trái cho Bệnh viện Vinmec); 2 thận ghép cho 2 bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối; lấy và vận chuyển phổi cho Bệnh viện Phổi Trung ương. Riêng 2 giác mạc được lấy để bảo quản, chờ ghép cho 2 bệnh nhân phù hợp.
“Các kíp, bộ phận cần phối hợp hiệp đồng chặt chẽ, nhịp nhàng, vì tất cả người bệnh trông chờ vào chúng ta”, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hữu Song yêu cầu khẩn trương.
Chia sẻ về ca lấy-ghép đa tạng này, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hữu Song cho biết, từ một lá gan của người hiến chết não, kíp phẫu thuật đã thực hiện chia thành 2 mảnh ghép gan hoàn chỉnh, đủ chức năng để ghép cho 2 bệnh nhân cùng lúc: một người lớn (ghép tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) và một trẻ em (được vận chuyển cho Bệnh viện Vinmec).
Bác sĩ chia lá gan người hiến.
Theo các chuyên gia ghép tạng, kỹ thuật chia gan trong bụng để ghép (In-Situ Split Liver Transplantation) là kỹ thuật phức tạp bậc nhất trong lĩnh vực ghép gan, đòi hỏi phẫu thuật viên phải đánh giá chính xác giải phẫu gan và các biến thể mạch máu-đường mật; tính toán thể tích mảnh ghép bảo đảm đủ chức năng sau ghép; phối hợp đồng bộ giữa kíp lấy tạng, kíp chia gan và hai kíp ghép gan.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Quang – Phó Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật Gan-Mật-Tụy cho biết, việc chia gan trong ổ bụng để ghép có ưu điểm: Bảo tồn tưới máu gan trong quá trình chia; Hạn chế thời gian thiếu máu lạnh; Kiểm soát tốt giải phẫu mạch máu và đường mật; Giảm nguy cơ tổn thương mảnh ghép do thao tác ngoài cơ thể.
Là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam thực hiện thành công kỹ thuật chia gan trong bụng vào tháng 4/2024, đến nay, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã thực hiện thành công 7 ca chia gan để ghép, cứu sống đồng thời bệnh nhân người lớn và trẻ em từ một lá gan của người hiến chết não.
Đối với ca ghép tim, bệnh nhân được chẩn đoán suy tim giai đoạn D do bệnh cơ tim thể giãn và đã cấy thiết bị thất trái nhằm kéo dài thời gian chờ ghép.
Theo Tiến sĩ Ngô Vi Hải – Chủ nhiệm khoa Ngoại lồng ngực, trường hợp này từng được đặt dụng cụ hỗ trợ thất trái, vì vậy cuộc mổ sẽ khó khăn vì rất dính, cần phải bảo đảm, tính toán về mặt chiến thuật, kỹ thuật rất kỹ càng.
“Do đã có kinh nghiệm, cùng sự phối hợp giữa các khâu phù hợp, chúng tôi đã rút ngắn thời gian thiếu máu của quả tim chỉ còn 80 phút, từ lúc kẹp động mạch chủ ở người hiến đến khi tim được tái tưới máu ở người nhận”, Tiến sĩ Hải cho hay.
Ca ghép tim cho người nhận.
Cùng thời điểm, tại 2 phòng mổ khác, các kíp ghép thận đang khẩn trương tiến hành ghép thận cho hai bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối. Đối với 2 ca ghép thận, cả 2 thận ghép đều hoạt động tốt, tốc độ dòng tiểu mỗi thận khoảng 300ml/giờ đầu, nước tiểu trong. Các bệnh nhân đều trong tình trạng tốt.
Sau ghép, các bệnh nhân được chăm sóc, điều trị tích cực, 24/24. Hiện nay, sức khỏe của các bệnh nhân ghép gan, ghép thận diễn biến thuận lợi, chức năng gan và thận đang cải thiện tốt. Ca ghép tim tiếp tục được theo dõi, chăm sóc tích cực.
Vận chuyển phổi hiến sang Bệnh viện Phổi Trung ương.
Theo Tiến sĩ, bác sĩ Lê Trung Hiếu – Phó Giám đốc phụ trách quản lý, điều hành Trung tâm Ghép tạng, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, việc tăng cường năng lực phát hiện và quản lý nguồn hiến tạng chết não tiềm năng giữ vai trò then chốt trong chiến lược phát triển ghép tạng của bệnh viện. Đây không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn, mà còn là nền tảng giúp mở rộng cơ hội cứu sống những bệnh nhân nặng đang chờ đợi nguồn tạng phù hợp.
Sau ngày 1/7/2025, cùng với việc sắp xếp lại mô hình chính quyền địa phương theo hướng 2 cấp, công tác chăm sóc, giáo dục sức khỏe cộng đồng và phòng chống bệnh mạn tính trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã có nhiều chuyển biến tích cực. Những nỗ lực đồng bộ từ cơ quan chuyên môn đến từng cộng đồng dân cư đang góp phần bảo vệ, nâng cao sức khỏe nhân dân, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Sức khỏe cộng đồng được đặt ở trung tâm
Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, hệ thống y tế của Phú Thọ được tinh gọn và thống nhất hơn, giúp nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành trong lĩnh vực y tế dự phòng và giáo dục sức khỏe.
Các đơn vị trực thuộc Sở Y tế đã chủ động xây dựng kế hoạch, tăng cường hoạt động tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức tự chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh hơn chữa bệnh.
Chăm sóc người bệnh với tinh thần “Lương y như từ mẫu” là phương châm hành động cốt lõi, xuyên suốt của ngành Y tế Phú Thọ
Thực tế cho thấy, trong những tháng cuối năm 2025, các chương trình giáo dục sức khỏe đã được triển khai rộng khắp. Nhiều địa bàn miền núi, vùng sâu trước đây ít được tiếp cận thông tin y tế, nay đã có cán bộ y tế cơ sở trực tiếp hướng dẫn, tổ chức các buổi truyền thông về dinh dưỡng hợp lý, phòng chống tăng huyết áp, tiểu đường, béo phì và các bệnh không lây nhiễm khác. Việc đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý hồ sơ sức khỏe cá nhân cũng giúp công tác dự phòng và điều trị sớm bệnh mạn tính trở nên hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giáo dục sức khỏe cộng đồng vẫn còn không ít khó khăn. Nguồn nhân lực y tế dự phòng còn thiếu, nhất là ở các xã miền núi, vùng xa; cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu; một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý chủ quan, ngại đi khám định kỳ hoặc chưa coi trọng phòng bệnh.
Theo thống kê của ngành Y tế tỉnh, các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, ung thư… đang có xu hướng gia tăng, nhất là ở nhóm người trung niên và cao tuổi. Tỷ lệ người mắc bệnh không lây nhiễm chiếm hơn 70% tổng số ca tử vong hằng năm. Trong bối cảnh đó, công tác phòng chống bệnh mạn tính được xem là nhiệm vụ trọng tâm, gắn liền với chiến lược bảo vệ sức khỏe nhân dân trong giai đoạn mới.
Từ đầu tháng 7/2025 đến nay, các cơ sở y tế trên địa bàn đã tổ chức hàng trăm buổi khám, tư vấn và sàng lọc sức khỏe miễn phí cho người dân. Mô hình “Trạm y tế thân thiện” tiếp tục được nhân rộng, kết hợp truyền thông trực tiếp với hướng dẫn thực hành các kỹ năng kiểm soát huyết áp, đường huyết, chế độ ăn uống và luyện tập thể dục khoa học. Một số địa phương còn thí điểm xây dựng “Câu lạc bộ người bệnh mạn tính”, tạo diễn đàn để người dân chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe, đồng thời nhận được hỗ trợ từ nhân viên y tế.
Công tác phối hợp giữa ngành Y tế với các tổ chức chính trị – xã hội được tăng cường, đặc biệt là với Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và Hội Người cao tuổi. Nhiều phong trào như “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ”, “Khu dân cư khỏe mạnh”, “Mỗi gia đình – một tủ thuốc an toàn” đã được triển khai rộng rãi, tạo hiệu ứng lan tỏa trong cộng đồng.
Giải pháp đồng bộ, hướng tới sức khỏe bền vững
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác giáo dục sức khỏe và phòng chống bệnh mạn tính trong thời gian tới, ngành Y tế Phú Thọ xác định tập trung vào một số nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết là đẩy mạnh truyền thông thay đổi hành vi, đưa kiến thức y học thường thức đến từng hộ dân thông qua hệ thống thông tin cơ sở, các nền tảng mạng xã hội và đội ngũ cộng tác viên y tế.
Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, tăng cường đầu tư trang thiết bị cho trạm y tế, đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ y tế dự phòng, đặc biệt là kỹ năng truyền thông và quản lý bệnh mạn tính. Ngành Y tế tỉnh cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% người dân trên địa bàn có hồ sơ sức khỏe điện tử, đảm bảo theo dõi liên tục, kết nối giữa cơ sở và tuyến chuyên sâu.
Việc lồng ghép giáo dục sức khỏe vào các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh sẽ tiếp tục được duy trì, giúp hình thành nếp sống lành mạnh, chủ động phòng bệnh trong toàn dân. Đồng thời, tỉnh khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức xã hội tham gia các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng, nhất là trong lĩnh vực y tế dự phòng, tư vấn dinh dưỡng và thể chất.
Từ nhận thức đến hành động, công tác giáo dục sức khỏe cộng đồng và phòng chống bệnh mạn tính ở Phú Thọ đang từng bước khẳng định vai trò then chốt trong chiến lược phát triển con người của tỉnh. Một cộng đồng khỏe mạnh không chỉ là nền tảng cho năng suất lao động và chất lượng cuộc sống, mà còn là thước đo cho sự phát triển bền vững, nhân văn của một địa phương.