Danh mục: Tin Tức Y Dược
Tin Tức Y Dược
Gần đây, bệnh tay chân miệng có dấu hiệu gia tăng mạnh trong cả nước, đặc biệt tại các tỉnh, thành phía nam. Thống kê của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh, trong tuần gần nhất, thành phố đã ghi nhận 896 ca mắc mới, tăng hơn 63% so với trung bình bốn tuần trước.
Số ca bị tay chân miệng đang gia tăng tại nhiều bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố cho biết, tính chung từ đầu năm đến nay, số ca tay chân miệng tích lũy đã vượt 23.000 trường hợp, tập trung chủ yếu ở địa bàn đông dân cư như phường Dĩ An, phường Hiệp Bình, phường Tân Thới Hiệp,.. Sự gia tăng nhanh chóng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về phòng ngừa chủ động, không để dịch bệnh lan rộng.
Mùa cao điểm bệnh tay chân miệng
Theo Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Phó Chủ tịch Liên chi hội Truyền nhiễm Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh tay chân miệng thường bùng phát theo mùa, đặc biệt từ tháng 10 đến tháng 12 hằng năm. Đây là thời điểm giao mùa, khi thời tiết ẩm và virus dễ lây lan.
“Trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là dưới 3 tuổi chiếm phần lớn số ca mắc tay chân miệng do hệ miễn dịch của trẻ còn yếu và chưa hình thành kháng thể tự nhiên”, Bác sĩ Khanh cho biết.
Những biểu hiện rõ của bệnh tay chân miệng ở trẻ em.
Bệnh tay chân miệng có thể khởi phát đột ngột với triệu chứng sốt nhẹ, đau họng, nổi bóng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân hoặc trong miệng. Tuy nhiên nếu phụ huynh chủ quan, bệnh có thể chuyển biến nguy hiểm, đặc biệt là khi do virus EV-A71 gây ra, đây là loại virus có thể dẫn đến biến chứng thần kinh nghiêm trọng như viêm màng não, liệt chi hoặc thậm chí tử vong.
Bác sĩ Khanh cho biết thêm: “Điều đáng lo ngại là nhiều phụ huynh dễ nhầm bệnh tay chân miệng với sốt siêu vi thông thường. Khi thấy trẻ sốt cao, nổi ban nhưng chưa được thăm khám sớm, bệnh có thể diễn tiến nặng chỉ trong 24-48 giờ”.
Trước diễn tiến phức tạp của bệnh tay chân miệng, Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động triển khai hàng loạt biện pháp kiểm soát, trong đó tập trung công tác phối hợp ngành giáo dục để truyền thông phòng bệnh hiệu quả trong học sinh.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Phó Giám đốc Sở Y tế Thành phố cho biết: “Chúng tôi đã đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các trường mẫu giáo, nhà trẻ tăng cường vệ sinh, khử khuẩn hàng ngày, trang bị đầy đủ xà phòng, dung dịch rửa tay, đồ dùng riêng cho từng trẻ và đặc biệt là phát hiện sớm trẻ có dấu hiệu bệnh để cách ly ngay”.
Không chỉ ở trường học, công tác giám sát bệnh tay chân miệng được ngành y tế yêu cầu tăng cường tại phường, xã, khu dân cư.
Trẻ em khám bệnh tay chân miệng tại Bệnh viện Nhi đồng 1.
Chính quyền địa phương phải phối hợp với y tế cơ sở để tuyên truyền, kiểm tra và xử lý ổ dịch kịp thời, tránh để bệnh lây lan trong cộng đồng.
Hiện Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố cũng đang thực hiện giám sát liên tục trên hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm của ngành, đồng thời phối hợp với các bệnh viện Nhi đồng 1, Nhi đồng 2, Nhi đồng Thành phố tổ chức tập huấn chuyên môn cho các cơ sở y tế nhằm nâng cao năng lực chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa lây nhiễm chéo.
Phòng bệnh ngay từ gia đình
Các chuyên gia y tế nhấn mạnh, cách phòng bệnh tay chân miệng hiệu quả nhất chính là lưu tâm đến thói quen sinh hoạt hằng ngày, người dân cần thực hiện nghiêm túc “3 sạch”.
Gồm ăn uống sạch: Ăn chín, uống chín, dùng nước sạch, dụng cụ ăn uống phải được tráng nước sôi, không dùng chung.
Ở sạch: Thường xuyên lau rửa đồ chơi, tay nắm cửa, bàn ghế, sàn nhà bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.
Bàn tay sạch: Rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi chăm trẻ, sau khi thay tã, đi vệ sinh, trước khi ăn hoặc chế biến thức ăn.
Ngoài ra khi trẻ nhiễm bệnh, phụ huynh cần cho trẻ nghỉ học để tránh lây cho bạn học. Lưu ý, không làm vỡ các nốt phỏng vì dễ gây nhiễm trùng và phát tán virus, đồng thời, phụ huynh cần tăng cường dinh dưỡng cho trẻ ăn thức ăn mềm, dễ nuốt để nhanh hồi phục.
Theo hướng dẫn của ngành y tế, trẻ cần được đưa đến cơ sở y tế ngay khi có các dấu hiệu cảnh báo như sốt cao không hạ, nôn ói nhiều, lên cơn co giật, lơ mơ, khó thở hoặc giật mình liên tục, trên da nổi bóng nước lan rộng, chảy dịch, có mùi hôi.
Phụ huynh cần lưu tâm những triệu chứng của bệnh tay chân miệng ở trẻ.
Thực hiện khuyến cáo của Sở Y tế, các bệnh viện nhi tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chuẩn bị sẵn sàng khu điều trị riêng cho bệnh tay chân miệng, bảo đảm hạn chế tối đa nguy cơ lây nhiễm chéo.
Các mẫu bệnh phẩm nghi nhiễm virus EV-A71 được các cơ sở y tế gửi đến Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh để xét nghiệm, giúp cơ quan y tế nắm rõ diễn biến chủng virus, có biện pháp đối phó hiệu quả.
Chuyên gia y tế cho biết, đến nay bệnh tay chân miệng chưa có vắc xin phòng ngừa đặc hiệu nhưng ý thức cộng đồng và thói quen vệ sinh cá nhân có thể giúp giảm nguy cơ lây nhiễm đến 70%.
Trong bối cảnh số ca mắc trên toàn quốc đã vượt 50.000 ca, tay chân miệng không còn là câu chuyện của riêng ngành y tế mà là thước đo ý thức phòng bệnh của cả cộng đồng.
Mỗi hành động nhỏ khi rửa tay bằng xà phòng, khử khuẩn đồ chơi, giữ trẻ ở nhà khi có bệnh, có thể góp phần ngăn chặn nguy cơ một ổ dịch bùng phát.
(Nguồn: nhandan.vn)
Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 7 của Việt Nam vừa thực hiện thành công ca phẫu thuật nối gân gót, đồng thời là ca phẫu thuật thứ ba chỉ trong tháng đầu tiên kể từ ngày xuất quân thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan.
Các bác sĩ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 7 của Việt Nam thực hiện ca phẫu thuật nối gân gót cho bệnh nhân người Mông Cổ. (Ảnh: TIẾN PHÚC)
Bệnh nhân là một sĩ quan chỉ huy cao cấp thuộc đơn vị Mông Cổ, bị đứt hoàn toàn gân Achilles chân trái trong quá trình huấn luyện. Sau khi được đội ngũ bác sĩ của Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 7 thăm khám, tư vấn kỹ lưỡng, bệnh nhân bày tỏ sự tin tưởng và mong muốn được phẫu thuật ngay tại bệnh viện để thuận lợi cho công tác điều trị và chỉ huy nhiệm vụ.
Sau khi báo cáo tình hình, xin phép và được sự chấp thuận của Trưởng y tế phái bộ (FMO – Force medical officer) vì đây là trường hợp mở rộng phạm vi cứu chữa, Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 7 đã lên lịch và tiến hành phẫu thuật.
Bác sĩ thăm hỏi, thông báo tình hình ca mổ cho bệnh nhân sau phẫu thuật. (Ảnh: TIẾN PHÚC)
Trực tiếp đảm nhiệm ca phẫu thuật là Tiến sĩ, bác sĩ Trần Đức Tài – Giám đốc Bệnh viện. Sau gần một giờ làm việc tập trung và chính xác, ekip phẫu thuật đã nối liền hai đầu gân bị đứt bằng kỹ thuật khâu gân theo phương pháp Krackow cải biên, bảo đảm độ vững chắc, giảm thiểu chảy máu và giúp gân phục hồi đúng chiều sinh lý. Toàn bộ ca mổ diễn ra trong điều kiện vô khuẩn tuyệt đối, được hỗ trợ bởi hệ thống gây mê-hồi sức và kiểm soát nhiễm khuẩn chặt chẽ.
Sau phẫu thuật, bệnh nhân được đưa về phòng hồi tỉnh và theo dõi sát sao. Bác sĩ Trần Đức Tài trực tiếp kiểm tra, hướng dẫn chăm sóc, tập vận động phục hồi chức năng sớm để bảo đảm gân liền tốt và bệnh nhân có thể trở lại công việc trong thời gian ngắn nhất. Đến nay, sức khỏe bệnh nhân ổn định, vết mổ khô, liền tốt, phục hồi thuận lợi.
Bác sĩ Trần Đức Tài thăm khám và hướng dẫn bệnh nhân sau phẫu thuật. (Ảnh: TIẾN PHÚC)
Như vậy, tính đến ngày 22/10, tròn một tháng kể từ ngày xuất quân (22/9/2025), Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 7 đã thực hiện 3 ca phẫu thuật thành công, trong đó có 2 ca cấp cứu, và 1 ca nối gân gót cho các sĩ quan quốc tế; thực hiện 1 ca vận chuyển y tế bằng đường không (Medevac); tiếp nhận, khám và điều trị cho 200 lượt bệnh nhân (số liệu tính tới 21 giờ ngày 22/10); tham gia đầy đủ các khóa huấn luyện chuyên ngành gìn giữ hòa bình do Phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc ở Nam Sudan tổ chức; ổn định toàn diện công tác chuyên môn, hậu cần, văn hóa- tinh thần, sẵn sàng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn tiếp theo.
Những kết quả này một lần nữa khẳng định năng lực chuyên môn, tinh thần tận tụy và hình ảnh đẹp của người thầy thuốc-người lính mũ nồi xanh Việt Nam, góp phần lan tỏa giá trị hòa bình và nhân ái giữa lòng châu Phi.
(Nguồn: nhandan.vn)
Sáng 23/10/2025, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 10, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan trình bày Tờ trình dự án Luật Phòng bệnh; Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật Phòng bệnh.
Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan trình bày Tờ trình dự án Luật Phòng bệnh
Trình bày Tờ trình dự án Luật Phòng bệnh, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết về cơ sở thực tiễn: Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm 2007 (có hiệu lực từ 01/7/2008) đã góp phần kiểm soát dịch bệnh. Tuy nhiên, sau hơn 17 năm, luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập và phát sinh vấn đề mới về: chất lượng sống, gánh nặng bệnh tật, dinh dưỡng, yếu tố môi trường, và khoảng trống chính sách cho bệnh không lây nhiễm và rối loạn sức khỏe tâm thần.
Do đó việc xây dựng luật mới là cần thiết. Mục đích ban hành Luật nhằm: Hoàn thiện cơ sở pháp lý về phòng bệnh. Nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam qua việc kiểm soát hiệu quả bệnh tật và các yếu tố nguy cơ.
Về phạm vi điều chỉnh dự án Luật quy định về phòng, chống bệnh truyền nhiễm; phòng, chống bệnh không lây nhiễm, các rối loạn sức khỏe tâm thần và các yếu tố nguy cơ khác; dinh dưỡng trong phòng bệnh và các điều kiện bảo đảm.
Toàn cảnh Hội trường
Quy định về giám sát trong phòng bệnh: Quy định đối tượng giám sát cho bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm, dinh dưỡng; Phòng, chống thương tích, quản lý rối loạn sức khỏe tâm thần. Giao Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết.
Quy định về cách ly y tế: Người mắc, nghi ngờ mắc, mang mầm bệnh, tiếp xúc với tác nhân gây bệnh nhóm A và một số bệnh nhóm B phải được cách ly (tại nhà, cơ sở y tế hoặc nơi khác). Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tổ chức cách ly. Trường hợp không thực hiện yêu cầu sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cách ly theo quy định của Chính phủ.
Quy định về kiểm dịch y tế: Thực hiện tại cửa khẩu đối với người, phương tiện, hàng hóa, thi thể, mẫu bệnh phẩm… xuất, nhập, quá cảnh Việt Nam. Nội dung bao gồm khai báo, giám sát, kiểm tra, xử lý y tế. Giao Chính phủ quy định chi tiết.
Quy định về bảo đảm an toàn, an ninh sinh học trong xét nghiệm đã bổ sung quy định về an toàn sinh học: Cơ sở xét nghiệm phải đáp ứng điều kiện, có giấy chứng nhận , bảo đảm quản lý mẫu bệnh phẩm và bảo vệ người làm việc. Đồng thời bổ sung quy định về an ninh sinh học: Cơ sở xét nghiệm phải đáp ứng yêu cầu ; quản lý tác nhân sinh học, thiết bị, dữ liệu để ngăn chặn tiếp cận trái phép, thất thoát, lấy cắp, sử dụng sai mục đích hoặc phát tán. Bên cạnh đó quy định về vắc xin, sinh phẩm và tiêm chủng: Mọi người có quyền được sử dụng và bảo đảm công bằng trong tiếp cận vắc xin, sinh phẩm. Tiêm chủng mở rộng và tiêm chủng chống dịch là tiêm chủng bắt buộc do ngân sách nhà nước bảo đảm. Giao Chính phủ quy định chi tiết.
Các Đại biểu Quốc hội tham dự tại hội trường
Các nội dung bổ sung mới so với quy định hiện hành bao gồm:
Phòng, chống bệnh không lây nhiễm: Quy định biện pháp phòng, chống yếu tố nguy cơ, phát hiện sớm, dự phòng và quản lý điều trị tại cộng đồng. Giao Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về đảm bảo dinh dưỡng, tăng cường thể lực….
Phòng, chống các rối loạn sức khỏe tâm thần: Quy định về yếu tố nguy cơ, phát hiện sớm, biện pháp phòng ngừa, quyền và trách nhiệm. Giao Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết.
Bảo đảm dinh dưỡng trong phòng bệnh: Quy định nguyên tắc thực hiện ; dinh dưỡng cho các nhóm đối tượng (phụ nữ có thai, bà mẹ cho con bú, trẻ dưới 24 tháng tuổi, trẻ em và dinh dưỡng học đường, người lao động, người cao tuổi). Giao Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn.
Các điều kiện bảo đảm để phòng bệnh: Quy định về nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số ; chế độ đối với người làm công tác phòng, chống dịch; đào tạo nhân lực ; kinh phí và Quỹ Phòng bệnh.
Quỹ Phòng bệnh: Là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, có tư cách pháp nhân, do Thủ tướng Chính phủ thành lập. Nguồn hình thành: Ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn điều lệ ; vốn điều lệ ban đầu từ toàn bộ kinh phí kết dư của Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá đến hết 30/6/2026 ; khoản đóng góp bắt buộc 2% trên giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất, nhập khẩu thuốc lá ; tài trợ, đóng góp tự nguyện ; viện trợ không hoàn lại ; các nguồn thu hợp pháp khác. Giao Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quản lý và sử dụng Quỹ.
Dự thảo Luật không có nội dung liên quan thủ tục hành chính. Các thủ tục hành chính hiện quy định tại các văn bản dưới luật. Việc rà soát, đơn giản hóa sẽ được thực hiện khi xây dựng các văn bản chi tiết. Dự thảo Luật không trực tiếp quy định nguyên tắc bình đẳng giới nhưng đã thể hiện nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử. Việc lồng ghép đã được thực hiện nghiêm túc. Dự thảo Luật có lồng ghép chính sách dân tộc. Cụ thể: ưu tiên hỗ trợ chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em dân tộc thiểu số, nghèo, cận nghèo, vùng khó khăn; yêu cầu thông tin truyền thông phải phù hợp với văn hóa, phong tục các dân tộc.
Các Đại biểu Quốc hội tham dự tại hội trường
Về Nội dung phân quyền, phân cấp: Dự thảo Luật phân định rõ thẩm quyền của Quốc hội, đồng thời giao Chính phủ, bộ, ngành quy định các vấn đề thực tiễn thường xuyên biến động để bảo đảm linh hoạt. Thể chế hóa việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thể hiện vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương các cấp (tỉnh, xã) có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo, giám sát, đánh giá nguy cơ, cảnh báo và áp dụng biện pháp phòng bệnh. Khi có dịch, chính quyền địa phương có thẩm quyền huy động lực lượng, phương tiện để thực hiện cách ly, kiểm dịch, tiêm chủng, khử khuẩn…. Địa phương cũng chịu trách nhiệm bố trí kinh phí, huy động cộng đồng, phối hợp với cơ quan trung ương.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật có quy định cụ thể về ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm thúc đẩy lĩnh vực này. Đồng thời dự thảo Luật đảm bảo tương thích và phù hợp với các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày tóm tắt Báo cáo thẩm tra dự án Luật Phòng bệnh
Đề nghị tiếp tục rà soát, nghiên cứu thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Đảng về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
Trình bày tóm tắt Báo cáo thẩm tra dự án Luật Phòng bệnh, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban thống nhất về mục đích, quan điểm xây dựng luật; nội dung dự thảo Luật đã thể chế hóa chủ trương của Đảng về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân; phù hợp với quy định của Hiến pháp, cơ bản bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật và tương thích với các điều ước quốc tế. Hồ sơ dự án Luật cơ bản bảo đảm theo quy định.
Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị: Tiếp tục rà soát, nghiên cứu thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Đảng về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là các nội dung trong Nghị quyết số 72; nghiên cứu, bổ sung các quy định phù hợp về phòng, chống bệnh truyền nhiễm, các rối loạn sức khỏe tâm thần, dinh dưỡng trong phòng bệnh tại dự thảo Luật để bảo đảm thực hiện được mục đích ban hành Luật và sự cân đối giữa 5 chính sách đã được quy phạm hóa trong dự thảo Luật.
Rà soát, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, nhất là Luật Bảo hiểm y tế, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân và các dự án luật có liên quan trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 10; hoàn thiện các báo cáo thành phần, bổ sung đánh giá tác động chính sách, nhất là các nội dung liên quan đến nguồn kinh phí bảo đảm thực hiện các chính sách.
Đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định làm rõ đối tượng có nguy cơ cao mắc rối loạn sức khỏe tâm thần
Các Đại biểu Quốc hội tham gia tại Hội trường
Về phòng, chống bệnh không lây nhiễm (Điều 27, 28 và Điều 29): Ủy ban đề nghị tiếp tục nghiên cứu bổ sung đầy đủ các quy định theo giải pháp đã lựa chọn trong Báo cáo đánh giá tác động, trong đó nghiên cứu thể chế hóa các nội dung liên quan đến phòng, chống bệnh không lây nhiễm tại Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị. Ngoài ra, nghiên cứu bổ sung quy định về cơ chế bảo đảm thực hiện các nội dung về “tư vấn, theo dõi, phát hiện sớm, điều trị dự phòng cho người có nguy cơ cao mắc bệnh không lây nhiễm” tại Điều 29 để bảo đảm tính khả thi trong triển khai thực hiện.
Về phòng chống rối loạn sức khỏe tâm thần (Điều 30 và Điều 31): Đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định làm rõ đối tượng có nguy cơ cao mắc rối loạn sức khỏe tâm thần; các biện pháp phòng ngừa mắc rối loạn sức khỏe tâm thần và nguồn kinh phí thực hiện cho các hoạt động này. Ngoài ra, đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định liên quan đến sức khỏe tâm thần, phòng, chống rối loạn tâm thần đối với học sinh, sinh viên và người bị sang chấn tâm lý sau thiên tai, thảm họa.
Về dinh dưỡng trong phòng bệnh (Điều 32 và Điều 33): Đề nghị nghiên cứu, bổ sung quy định nhằm bảo đảm đầy đủ việc áp dụng nguyên tắc “dinh dưỡng trong phòng bệnh phải được thực hiện trong suốt vòng đời, theo từng lứa tuổi, từng đối tượng” đã được quy định tại khoản 1 Điều 32; cân nhắc bổ sung nguyên tắc việc thực hiện dinh dưỡng trong phòng bệnh chỉ quy định mang tính khuyến cáo sử dụng sản phẩm dinh dưỡng, không được bắt buộc sử dụng sản phẩm dinh dưỡng.
Các Đại biểu Quốc hội tham gia tại Hội trường
Cần quy định áp dụng cho tất cả các đối tượng là phụ nữ mang thai có nhu cầu cần phải bổ sung vi chất dinh dưỡng và trẻ em bị suy dinh dưỡng cấp tính và thấp còi, không phân biệt khu vực, vùng miền
Về chính sách dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai (tại điểm b khoản 1 Điều 33) và trẻ em bị suy dinh dưỡng cấp tính và thấp còi (tại điểm a khoản 2 Điều 33), đa số ý kiến Ủy ban cho rằng, cần quy định áp dụng cho tất cả các đối tượng là phụ nữ mang thai có nhu cầu cần phải bổ sung vi chất dinh dưỡng và trẻ em bị suy dinh dưỡng cấp tính và thấp còi, không phân biệt khu vực, vùng miền để bảo đảm chính sách nâng mức sinh, nâng cao chất lượng dân số và tính công bằng.
Về các điều kiện bảo đảm để phòng bệnh (Chương V): Ủy ban thống nhất về sự cần thiết quy định Quỹ Phòng bệnh, trong đó có các quy định về nguồn hình thành quỹ. Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị: Có cơ chế kiểm soát quỹ như “Định kỳ 02 năm một lần, Chính phủ báo cáo Quốc hội về kết quả hoạt động và việc quản lý sử dụng quỹ”; quy định rõ mục đích, nhiệm vụ cụ thể và nguyên tắc sử dụng Quỹ, đặc biệt là nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động phòng, chống tác hại của thuốc lá; không làm phát sinh thêm tổ chức mới trong quá trình thành lập Quỹ Phòng bệnh.
Có ý kiến đề nghị không bãi bỏ Quỹ Phòng chống tác hại của thuốc lá mà chỉ nên sửa đổi, bổ sung tên gọi và nhiệm vụ của Quỹ quy định tại Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá để bảo đảm Quỹ được hoạt động hiệu quả hơn. Có ý kiến đề nghị nghiên cứu quy định khoản đóng góp bắt buộc đối với cơ sở sản xuất, nhập khẩu các hàng hóa có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe như rượu, bia, đồ uống có đường để bảo đảm công bằng giữa các hàng hóa gây hại đến sức khỏe./.
(Nguồn: chinhphu.vn)
Tại dự thảo Luật Dân số, Bộ Y tế chủ trì soạn thảo đề xuất các chính sách hỗ trợ tài chính đối với phụ nữ sinh đủ 2 con; hỗ trợ mua, thuê mua nhà ở xã hội; tăng thời gian nghỉ thai sản.
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan trình bày tóm tắt Tờ trình Dự thảo Luật Dân số
Đề xuất hỗ trợ tài chính cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi
Theo Tờ trình của Bộ Y tế, công tác dân số có nội hàm rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội.
Trong khi đó, các yếu tố về quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số đã được điều chỉnh rải rác trong nhiều đạo luật khác nhau như Luật Trẻ em, Luật Người cao tuổi, Luật Bình đẳng giới, Luật Cư trú, Luật Giáo dục, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Khám bệnh, chữa bệnh…
Vì vậy, dự thảo Luật Dân số được trình bày tương đối ngắn gọn, gồm 08 chương, 28 điều, tập trung vào các chính sách cốt lõi, không trùng lặp, gồm: duy trì mức sinh thay thế; giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; thích ứng với già hóa dân số; nâng cao chất lượng dân số; truyền thông – vận động – giáo dục về dân số; và bảo đảm các điều kiện thực hiện công tác dân số.
Cụ thể: Về duy trì mức sinh thay thế, dự thảo đưa ra các chính sách khuyến khích sinh đủ hai con, trong đó có hỗ trợ tài chính cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi, phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người, và phụ nữ tại các địa phương có mức sinh thấp.
Ngoài ra, phụ nữ thuộc các nhóm đối tượng này được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở xã hội, tăng thời gian nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai.
Dành riêng 1 chương quy định các chính sách hỗ trợ người cao tuổi
Về giảm mất cân bằng giới tính khi sinh, dự thảo bổ sung các biện pháp đồng bộ, tăng cường truyền thông thay đổi định kiến giới, kiểm soát hành vi lựa chọn giới tính thai nhi. Đồng thời yêu cầu Chính phủ định kỳ công bố danh sách địa phương có mức mất cân bằng cao hoặc đã đạt cân bằng tự nhiên để có chính sách can thiệp phù hợp.
Về thích ứng với già hóa dân số, dự thảo dành riêng một chương quy định các chính sách hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi, khuyến khích phát triển dịch vụ chăm sóc dài hạn, chăm sóc tại cộng đồng; phát triển nguồn nhân lực lão khoa, đào tạo đội ngũ y, bác sĩ, nhân viên xã hội phục vụ người cao tuổi.
Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan trình bày tóm tắt Tờ trình Dự thảo Luật Dân số
Đồng thời bổ sung quy định về thiết lập hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin, tố giác hành vi xâm phạm quyền người cao tuổi, góp phần bảo đảm quyền và chất lượng cuộc sống của nhóm dân số này.
Về nâng cao chất lượng dân số, dự thảo nhấn mạnh các giải pháp tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, sàng lọc và chẩn đoán bệnh tật bẩm sinh trước sinh và sơ sinh, bảo đảm mọi trẻ em được sinh ra khỏe mạnh, góp phần giảm gánh nặng y tế và nâng cao thể lực, trí tuệ của người Việt Nam.
Về truyền thông và giáo dục dân số, Luật quy định cụ thể các hình thức truyền thông theo nhóm đối tượng, kết hợp giữa giáo dục truyền thống và ứng dụng công nghệ, nhằm thay đổi nhận thức xã hội về bình đẳng giới, quy mô gia đình và trách nhiệm sinh sản.
Đặc biệt, một điểm mới quan trọng là dự thảo tăng cường phân cấp, trao quyền cho chính quyền địa phương cấp tỉnh trong việc chủ động lựa chọn biện pháp, thời điểm và bố trí ngân sách thực hiện chính sách dân số, phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội và động thái dân số của từng vùng.
Về thủ tục hành chính, dự thảo không quy định trực tiếp mà giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết trong các văn bản dưới luật, bảo đảm tránh phát sinh thủ tục mới, đồng thời giữ được tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Bộ Y tế nhấn mạnh, việc ban hành Luật Dân số không chỉ kế thừa các quy định hiện hành mà còn hướng đến một khung chính sách hiện đại, nhân văn, linh hoạt, góp phần xây dựng dân số phát triển toàn diện, thích ứng với già hóa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội bền vững.
Các Đại biểu nghe Tờ trình tóm tắt Dự thảo Luật Dân số của Bộ Y tế
Đề nghị bổ sung một điều quy định chính sách của Nhà nước về công tác dân số
Ghi nhận những điểm mới của dự thảo Luật Dân số, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh khẳng định, dự thảo luật đã thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân số, phù hợp với Hiến pháp và cơ bản bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra cũng đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, bổ sung một số nội dung cụ thể để bảo đảm tính khả thi và thống nhất giữa Tờ trình, dự thảo Luật và các báo cáo thành phần, đồng thời đánh giá kỹ lưỡng tác động của chính sách, nguồn lực thực hiện và kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Về chính sách tổng thể về công tác dân số, Ủy ban đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung một điều quy định chính sách của Nhà nước về công tác dân số tại phần quy định chung, thể hiện khung chính sách tổng thể định hướng các lĩnh vực then chốt như điều kiện sống, nhà ở, giáo dục, chăm sóc sức khỏe.
Quy định này cần bám sát Nghị quyết số 21-NQ/TW và Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, nhằm thể chế hóa quan điểm chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển.
Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo tóm tắt Thẩm tra Dự thảo Luật Dân số
Đề xuất nghiên cứu hỗ trợ tài chính cho phụ nữ sinh đủ 2 con
Về giải pháp duy trì mức sinh thay thế, Ủy ban đề nghị cần có giải pháp tổng thể, căn cơ và bền vững, trong đó nghiên cứu hỗ trợ tài chính cho phụ nữ sinh đủ hai con, đặc biệt nhóm phụ nữ dưới 35 tuổi; làm rõ tiêu chí “địa phương có mức sinh thấp”;
Bổ sung quy định Chính phủ định kỳ công bố tình trạng mức sinh để giúp địa phương xây dựng chính sách khuyến khích phù hợp.
Một số ý kiến đề xuất tiếp cận theo hướng phổ quát, hỗ trợ trực tiếp cho trẻ em được sinh ra, mở rộng chính sách học phí, trợ cấp nuôi con nhỏ, cũng như các biện pháp hỗ trợ sinh sản, điều trị vô sinh, hiếm muộn và giảm tỷ lệ phá thai.
Về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh, Ủy ban đề nghị chỉnh lý quy định cho bao quát hơn, bảo đảm thống nhất với hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 6.
Đồng thời yêu cầu Chính phủ định kỳ công bố danh sách các địa phương có tình trạng mất cân bằng giới tính ở mức cao hoặc đã đạt cân bằng tự nhiên.
Một số ý kiến cho rằng cần đánh giá lại tính khả thi của quy định tại khoản 2 Điều 15, dựa trên hiệu quả các biện pháp từ Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2016–2025.
Toàn cảnh Phiên họp
Cần có chính sách khuyến khích khu vực tư nhân phát triển cơ sở chăm sóc, dịch vụ y tế cho người cao tuổi
Về thích ứng với già hóa dân số và nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi, Ủy ban đề nghị đổi tên Chương IV thành “Thích ứng với già hóa dân số”, đồng thời bổ sung các khái niệm “già hóa khỏe mạnh”, “chuẩn bị cho tuổi già”, “liên thế hệ” và “chất lượng cuộc sống người cao tuổi”.
Dự thảo cần có chính sách khuyến khích khu vực tư nhân phát triển cơ sở chăm sóc, dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục cho người cao tuổi, cũng như xác định rõ vai trò Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực lão khoa. Ngoài ra, cần làm rõ quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin và tố giác hành vi xâm phạm quyền người cao tuổi.
Về nâng cao chất lượng dân số toàn diện, Ủy ban đề xuất cần mở rộng phạm vi điều chỉnh của các Điều 20 và 21 theo hướng tích hợp giữa yếu tố y tế và xã hội; bổ sung quy định về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sàng lọc bệnh bẩm sinh, tư vấn trước kết hôn và bảo đảm nguồn kinh phí thực hiện.
Dự thảo cần được rà soát để thống nhất với các quy định hiện hành của Luật Khám bệnh, chữa bệnh và Luật Bảo hiểm y tế./.
(Nguồn: chinhphu.vn)
Ngày 22/10/2025, Quốc hội thảo luận ở tổ về các dự án luật liên quan đến lĩnh vực giáo dục, gồm: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Dự án Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Dự án Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi).
Tham gia thảo luận tại tổ 8, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan đề xuất chính thức hóa việc đào tạo chuyên khoa đặc thù sau đại học trong lĩnh vực sức khỏe, giao quyền quản lý đào tạo cho Bộ Y tế
Quang cảnh thảo luận tại Tổ 8 gồm Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh và Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau
Theo Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan, trong Nghị quyết 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân”nêu rõ “thực hiện đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ sau đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân trong lĩnh vực sức khỏe do Bộ Y tế quản lý”.
Thực tế hiện nay, Luật Giáo dục đại học năm 2018 cũng đã đề cập nội dung này và đề nghị là giao cho Chính phủ quy định cụ thể. Trên cơ sở đó Bộ Y tế đã xây dựng Nghị định để hướng dẫn thực hiện Luật Giáo dục đại học năm 2018. Tuy nhiên Nghị định này vẫn đang chờ để được thực hiện, sau khi Luật Giáo dục đại học được sửa đổi và trình Quốc hội thông qua tại cái kỳ họp thứ 10 này.
Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết 72, Bộ Y tế đang xây dựng một nghị quyết có đề cập vấn đề đào tạo chuyên sâu đặc thù trong lĩnh vực y tế. Trong quá trình triển khai xây dựng, báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thì có hai luồng ý kiến.
Ý kiến thứ nhất đề nghị đưa nội dung đào tạo chuyên sâu, đặc thù trong nghị quyết về lĩnh vực y tế.
Ý kiến thứ hai là cùng với việc sửa đổi một loạt các luật liên quan đến giáo dục đào tạo thì có thể đưa luôn vào các nội dung của luật sửa đổi.
Từ đề xuất này, góp ý cho Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Dự án Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Dự án Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan đề nghị bổ sung “trình độ chuyên khoa vào hệ thống văn bằng sau đại học, giao quyền quản lý đào tạo này cho Bộ Y tế”.
Bộ trưởng cho biết ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, sau khi tốt nghiệp Bác sĩ hoặc Dược sĩ thì người học phải tiếp tục học chương trình đào tạo chuyên khoa để trên cơ sở đó mới được hành nghề độc lập ví dụ như là nội khoa, ngoại khoa, sản phụ khoa, nhi khoa, hồi sức cấp cứu… chứ không phải học 6 năm đại học ra là có thể được hành nghề ngay. Việc đào tạo chuyên khoa sau đại học trong lĩnh vực sức khỏe trên thế giới được tổ chức theo hướng phát triển năng lực hành nghề chuyên sâu và các chương trình đào tạo chuyên khoa tối thiểu là 3 năm và chủ yếu được đào tạo tại bệnh viện nơi học viên vừa học, vừa làm và chịu sự giám sát của các Bác sĩ hoặc chuyên gia có kinh nghiệm tức là học và học thực hành luôn. Khi hoàn thành thì người học được cấp văn bằng học chứng chỉ chuyên khoa và là điều kiện bắt buộc để cấp phép thực hành nghề chuyên môn. Như vậy có thể thấy việc tổ chức đào tạo chuyên khoa về y tế trong hệ thống giáo dục đào tạo sau đại học là đặc thù và chịu sự giám sát trực tiếp của cơ quan y tế hoặc hội đồng hành nghề y quốc gia nhằm đảm bảo người được đào tạo có năng lực hành nghề độc lập và đảm bảo an toàn cho người bệnh. Ví dụ như Hoa Kỳ thì được hội đồng kiểm định các chương trình giáo dục y khoa sau đại học là cơ quan kiểm định độc lập công nhận. Các mô hình khác cũng đều có sự phối hợp của cơ quan hoạch định chính sách, năng lực chuẩn quốc gia như là Bộ Y tế, của Hội đồng hành nghề y, tổ chức kiểm định độc lập và cơ sở đào tạo ở các bệnh viện thực hành.
Còn tại Việt Nam trong hơn 50 năm qua triển khai đào tạo chuyên khoa sau đại học trong lĩnh vực sức khỏe theo ba hình thức: Chuyên khoa I, Chuyên khoa II và Bác sĩ nội trú với khoảng 7000 Bác sĩ chuyên khoa mỗi năm đã được đào tạo để cung cấp cho hệ thống các bệnh viện. Tuy nhiên hoạt động đào tạo chuyên khoa lại chưa thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, không nằm trong các văn bản của luật giáo dục và luật giáo dục đại học, dẫn đến thiếu cơ sở pháp lý cho công tác đào tạo chuyên khoa và bác sĩ nội trú. Chính vì vậy việc cụ thể hóa nội dung “thực hiện đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ sau đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân trong lĩnh vực sức khỏe do Bộ Y tế quản lý” trong Nghị quyết 72 vào Luật giáo dục và Luật giáo dục đại học là cần thiết.
Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan đóng góp ý kiến cho Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Dự án Luật Giáo dục đại học (sửa đổi)
Bộ trưởng Đào Hồng Lan cũng đề xuất bổ sung sửa đổi một số điều khoản cụ thể như: với Dự thảo Luật giáo dục sửa đổi, tại khoản 3 điều 1, cần chỉnh sửa như sau “Chính phủ quy định cụ thể về quản lý văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, văn bằng trình độ của một số ngành đào tạo chuyên sâu đặc thù”. Tại khoản 11, điều 1 dự thảo luật, ngoài đào tạo trình độ Thạc sĩ, trình độ Tiến sĩ thì bổ sung thêm một mục C là đào tạo trình độ chuyên khoa dành cho người học có trình độ từ đại học trở lên một số ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe.
Về công tác quản lý nhà nước, dự thảo luật quy định “Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình chịu trách nhiệm phối hợp với Bộ Giáo dục đào tạo thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục”, trong đó Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về đào tạo chuyên khoa và chuyên khoa sâu trong lĩnh vực y tế, đề nghị bổ sung nội dung “Các cơ quan trong phạm vi trách nhiệm quyền hạn của mình có trách nhiệm nghiên cứu dự báo nhu cầu nhân lực của ngành lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý, phối hợp với Bộ Giáo dục đào tạo thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục”.
Tại khoản 2 điều 8 về mục tiêu đào tạo, chương trình, văn bằng, Bộ trưởng Đào Hồng Lan đề nghị bổ sung thêm điểm D: “chương trình đào tạo chuyên sâu trình độ sau đại học một số ngành trong lĩnh vực sức khỏe để cấp văn bằng chuyên khoa theo quy định của Bộ Y tế”.
Tại điều 22 về chuẩn chương trình đào tạo, đề nghị bổ sung khoản 4: “Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành chuẩn chương trình đào tạo, hướng dẫn việc xây dựng, rà soát, đánh giá, giám sát thực hiện việc chuẩn chương trình đào tạo chuyên khoa trình độ sau đại học trong lĩnh vực sức khỏe”.
Tại điều 23 về xây dựng phát triển chương trình đào tạo, đề nghị bổ sung khoản 5: “Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành danh mục thống kê đào tạo quy định quy trình xây dựng thẩm định và ban hành chương trình đào tạo. Quy trình phê duyệt, điều chỉnh, chấm dứt và thực hiện chương trình đào tạo chuyên qua trình độ sau đại học trong lĩnh vực sức khỏe.
Tại khoản 2 điều 24 về tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, đề nghị bổ sung thêm khoản 2: “Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt thực hiện chương trình đào tạo chuyên khoa trình độ sau đại học trong lĩnh vực sức khỏe”.
Tại điều 25 về vấn đề tuyển sinh cũng bổ sung thêm nội dung trách nhiệm của Bộ Y tế ban hành quy chế tuyển sinh đào tạo chuyên khoa trình độ sau đại học trong lĩnh vực sức khỏe.
Tại điều 26 về tổ chức đào tạo các cấp văn bằng chứng chỉ, đề nghị bổ sung khoản 9: “Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy định đào tạo chuyên khoa trình độ sau đại học trong lĩnh vực sức khỏe”.
Bộ trưởng Đào Hồng Lan cũng đề xuất cho phép viên chức của bệnh viện công lập là cơ sở đào tạo thực hành trong các lĩnh vực sức khỏe được giao nhiệm vụ giảng dạy giáo dục như giảng viên cơ hữu tại các cơ sở giáo dục công lập. Bởi hầu hết các Bác sĩ giỏi của các bệnh viện đều là giảng viên thực hành hoặc là phụ trách các chuyên khoa của các đại học y và hệ thống đại học của cả nước. Nếu không có quy định cho phép thì sẽ dẫn đến thiếu đội ngũ giảng viên thực hành tại các cơ sở giáo dục.
Tại phần thảo luận về dự án Luật Giáo dục đại học (sửa đổi), đại biểu Quốc hội, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức (đoàn TP.HCM) cho biết ông hiện được phân công phụ trách lĩnh vực các trường đại học y khoa tại Bộ Y tế, đồng thời có hơn 20 năm làm bác sĩ và giảng dạy sinh viên y khoa. “Tôi xin phát biểu với tất cả tâm huyết và kinh nghiệm thực tiễn của ngành y,” ông mở đầu.
‘Bộ Y tế không muốn giành việc của ai’
Theo ông Thức, ngành y có hệ thống đào tạo chuyên sâu riêng, gồm bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa I và chuyên khoa II. Hiện nay lực lượng bác sĩ thuộc các chương trình này chiếm khoảng 2/3 nhân lực trình độ sau đại học trong ngành y.
Các chương trình này đã tồn tại từ thập niên 1970, theo mô hình của Pháp, và hiện nay được hơn 50 quốc gia công nhận. Ở Việt Nam, hệ thống này phát triển song song với đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, trong đó thạc sĩ – tiến sĩ thiên về nghiên cứu học thuật, còn chuyên khoa I, II và nội trú thiên về thực hành lâm sàng.
Đại biểu Nguyễn Tri Thức thảo luận về dự án Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) chiều 22-10.
“Tại các bệnh viện, phần lớn bác sĩ theo học chuyên khoa I, II; còn tại các trường đại học, giảng viên chủ yếu là thạc sĩ, tiến sĩ. Hai hướng này bổ sung cho nhau, không thể nói tiến sĩ giỏi hơn chuyên khoa II, hay thạc sĩ giỏi hơn chuyên khoa I. Một bên tập trung vào nghiên cứu học thuật, một bên chú trọng vào thực hành”, ông nhấn mạnh, đồng thời dẫn chứng tại các bệnh viện, phần lớn bác sĩ theo học chuyên khoa I, chuyên khoa II, còn tại các trường đại học thì đa số giảng viên là thạc sĩ, tiến sĩ.
Đại biểu cho biết, do trong thời gian dài, các văn bằng bác sĩ chuyên khoa và nội trú chưa được công nhận chính thức trong hệ thống văn bằng quốc gia, nên đã phát sinh nhiều bất cập cần được xem xét, điều chỉnh trong lần sửa đổi luật này.
Vì lẽ đó, ngày 9-9-2025, khi ban hành Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị, trong Nghị quyết này có ghi một câu rất rõ: “Thực hiện đào tạo chuyên sâu, đặc thù trình độ sau đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân”.
Điều đó có nghĩa là Bộ Chính trị đã chính thức công nhận đây là một bộ phận thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, bởi lẽ ngành y là một lĩnh vực đào tạo đặc thù, tồn tại khách quan và có đóng góp rất lớn cho ngành y tế nước ta từ trước tới nay – thuộc hệ thống giáo dục quốc dân trong lĩnh vực sức khỏe, do Bộ Y tế quản lý. Tuy nhiên, trong dự thảo Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) lần này, không thấy một chữ nào nhắc đến ‘Bộ Y tế’.
“Điều tôi nhận thấy là toàn bộ hệ thống giáo dục y tế trong dự thảo này đều do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý. Theo tôi, không biết dùng từ gì cho đúng nếu thực sự điều này xảy ra”, ông bày tỏ. Đồng thời nhấn mạnh, Bộ Y tế không hề muốn ‘giành việc’ của ai. Ngành y vốn đã rất vất vả. Vấn đề ở đây là tính đặc thù khách quan của lĩnh vực y tế – một ngành thực hành, không thể tách khỏi bệnh viện.
Ngành y là khoa học thực hành, không thể tách rời bệnh viện
Theo đại biểu, đào tạo bác sĩ phải gắn chặt với bệnh viện và người bệnh. “Càng ngồi giảng đường nhiều bao nhiêu, bác sĩ càng dở bấy nhiêu. Một bác sĩ giỏi phải học từ bệnh nhân, coi bệnh nhân là người thầy của mình,” ông chia sẻ.
Ông dẫn chứng: sinh viên y khoa ngay từ năm thứ nhất đã đi thực tập, và suốt sáu năm học, 2/3 thời gian ở bệnh viện, chỉ 1/3 ở giảng đường. Mỗi trường y đều có bệnh viện thực hành bắt buộc – như Đại học Y Dược TP.HCM gắn với Bệnh viện Chợ Rẫy, Đại học Y Hà Nội gắn với Bệnh viện Bạch Mai.
“Vì vậy, nếu Luật sửa đổi vẫn quy định toàn bộ hệ thống giáo dục y tế do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, tôi thật sự không hiểu Bộ sẽ quản lý thế nào với lĩnh vực có tính chuyên môn sâu như ngành y,” đại biểu nêu ý kiến.
Đại biểu cũng đánh giá, hiện nay, hệ thống đào tạo y khoa đang phân tán, các trường cao đẳng điều dưỡng trước đây do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cấp phép; Trường đại học y tư thục do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý. Bộ Y tế chỉ trực tiếp quản lý 11 trường đại học y công lập trên toàn quốc.
“Tình trạng mỗi bộ quản lý một kiểu khiến chất lượng đào tạo không đồng đều, trong khi Bộ Y tế lại phải sử dụng nhân lực do các nơi khác đào tạo,” ông Thức nêu thực tế.
Từ thực tiễn đó, đại biểu Nguyễn Tri Thức cho rằng cần giữ nguyên các trường đào tạo khối ngành sức khỏe thuộc sự quản lý của Bộ Y tế, vì điều đó phù hợp với lịch sử, thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế.
“Chỉ có Bộ Y tế mới nắm rõ được nhu cầu nhân lực, số lượng bác sĩ từng chuyên khoa, cũng như điều phối được nguồn lực y tế giữa các vùng. Nếu chuyển toàn bộ về Bộ Giáo dục, đây sẽ là vấn đề rất nghiêm trọng đối với ngành y Việt Nam, chứ không phải là một việc đơn giản về mặt tổ chức hay hành chính.” ông Thức cho biết.
