Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Văn phòng Bộ mời báo giá dịch vụ sửa chữa xe ô tô

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Bệnh viện đầu tư cho công nghệ, con số ‘khổng lồ’ nhưng hiệu quả lâu dài

Để đầu tư cho công nghệ, vận hành bệnh án điện tử phục vụ chuyển đổi số, bệnh viện phải đầu tư với con số “khổng lồ”; hiệu quả phải dài hạn mới nhận ra.

Hệ thống máy móc hiện đại phục vụ bệnh án điện tử tại Bệnh viện Hữu Nghị.

Con số không hề nhỏ

Triển khai hồ sơ bệnh án điện tử nằm trong lịch trình chuyển đổi số là xu thế tất yếu trong ngành y tế, đã giúp thay đổi bộ mặt của nhiều bệnh viện, thay đổi phương thức quản lý, khám chữa bệnh và chăm sóc người bệnh theo hướng hiện đại, lấy người bệnh làm trung tâm.

Là một trong những đơn vị top đi đầu mạnh dạn chuyển đổi số của Hà Nội, Bệnh viện Đa khoa Ba Vì đã được thẩm định và đi vào vận hành bệnh án điện tử hơn 1 năm nay. Từ đầu năm 2025, bệnh viện đã chính thức bỏ hoàn toàn hồ sơ giấy, chuyển 100% hoạt động khám chữa bệnh nội trú sang môi trường số.

Tại Khoa Nội Tim mạch – Lão học, Bệnh viện Ba Vì, giờ đây bệnh nhân vào điều trị nội trú không còn phải ôm theo tập hồ sơ dày với các kết quả khám, chụp mà chỉ cần lên khoa, sử dụng căn cước công dân, nhập mã bệnh nhân để xem toàn bộ dữ liệu, sử dụng vân tay để ký số trong thanh toán viện phí và làm thủ tục…

Còn tại khoa Khám bệnh, bệnh viện cũng đặt các ki ốt để người bệnh thuận tiện trong đăng ký khám bệnh, chỉ cần sử dụng căn cước công dân, quét mã là ra hồ sơ của người bệnh, từ đây có thể đăng ký khám và các dịch vụ một cách dễ dàng.

BS. Nguyễn Ngọc Vinh, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Ba Vì cho biết: “Để vận hành được hệ thống bệnh án điện tử, bệnh viện đã phải rất mạnh tay đầu tư về cơ sở hạ tầng, máy móc, thiết bị, và cả nhân lực để đáp ứng việc vận hành. Hiện Bệnh viện đang xây dựng ứng dụng app riêng của Bệnh viện sẽ đưa vào sử dụng từ đầu năm 2026 tới; bên cạnh đó là hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện (HIS), Hệ thống PACS không in phim phục vụ chẩn đoán hình ảnh… Bệnh viện đã phải đầu tư với kinh phí rất lớn cho hạ tầng công nghệ thông tin, máy chủ, phần mềm, thiết bị đầu cuối và nhất là đào tạo nhân lực. Đây là khoản đầu tư dài hạn nhưng không phải cơ sở nào cũng đủ nguồn lực thực hiện”.

Còn tại Bệnh viện Hữu nghị, tuy mới triển khai bệnh án điện tử nhưng các hoạt động đã rất trơn tru vì bệnh viện đã đầu tư cho công nghệ từ trước với hệ thống quản lý bệnh viện; hệ thống PACS; đặc biệt là hệ thống quản lý dữ liệu hiện đại với phòng máy, dàn màn hình hiện đại, ít bệnh viện nào có được.

Chia sẻ về việc đầu tư cho công nghệ, để tiến tới bệnh án điện tử là cả một quá trình và chi phí khổng lồ, Ths. Kỹ sư Trương Xuân Thành, Trưởng phòng Công nghệ thông tin, Bệnh viện Hữu nghị cho biết: “Chỉ tính riêng đầu tư hạ tầng cho chuyển đổi số, công nghệ, Bệnh viện đã phải bỏ ra chi phí gần 100 tỷ đồng. Tuy nhiên về lâu dài, công nghệ sẽ phát huy hiệu quả rất lớn”.

Nhờ đó, chỉ sau thời gian ngắn vận hành bệnh án điện tử, nhiều lợi ích đã được ghi nhận rõ rệt. Tại các cơ sở y tế, thời gian chờ của bệnh nhân giảm mạnh khi kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh được gửi trực tiếp lên hệ thống; bệnh nhân không phải quay lại nhận giấy hay cầm phim như trước. Nhờ đó, tình trạng ùn tắc tại khu vực trả kết quả gần như không còn.

Đặc biệt, với hệ thống PACS, theo BS. Trần Hữu Hà, Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Đa khoa Ba Vì, trước kia bệnh nhân phải chờ 15 – 30 phút để in phim, nay chỉ cần chụp xong là có thể xem trên máy. Phim không cần in, không lo mất, không lo hỏng. Bệnh nhân còn có thể xem ảnh trên điện thoại thông qua mã truy cập.

Theo Bệnh viện Đa khoa Ba Vì, qua tính toán, bệnh án điện tử giúp bệnh viện có thể tiết kiệm 6-7 tỷ đồng mỗi năm, do giảm mạnh chi phí giấy in, phim X-quang và tối ưu nhân lực quản lý hồ sơ.

Theo Ths. Kỹ sư Trương Xuân Thành, bệnh án điện tử đã giảm được rất nhiều chi phí giấy tờ, thủ tục. Chỉ riêng việc bỏ in phim chụp đã giảm được rõ rệt chi phí tới khoảng 80-90% chi phí so với việc có in phim.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, đầu tư cho công nghệ là một con số không hề nhỏ và không phải bệnh viện nào cũng dám mạnh tay đầu tư. Đây cũng là lý do vừa qua, nhiều bệnh viện chưa đạt tiến độ triển khai bệnh án điện tử như yêu cầu của Bộ Y tế.

Nhân viên y tế thao tác nhập liệu bệnh án điện tử một cách nhanh chóng nhờ ứng dụng bệnh án điện tử, ki- ốt thông minh.

Cần sự đồng bộ

Theo PGS.TS Trần Quý Tường, Chủ tịch Hội Tin học Y tế, để vượt qua những khó khăn, thách thức và triển khai thành công hồ sơ bệnh án điện tử việc hoàn thiện khung pháp lý và chính sách, trong đó khẩn trương xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, cũng như tài liệu hướng dẫn chuyên môn để hỗ trợ các bệnh viện triển khai bệnh án điện tử một cách thống nhất, đồng bộ và hiệu quả là rất quan trọng.

Bên cạnh đó, cần bảo đảm nguồn lực tài chính, trong đó sớm ban hành quy định về giá dịch vụ khám, chữa bệnh, trong đó, chi phí công nghệ thông tin phải được tính đúng, tính đủ. Đây là điều kiện then chốt để các cơ sở khám, chữa bệnh có nguồn kinh phí đầu tư, duy trì và phát triển hệ thống bệnh án điện tử. Đặc biệt là nhận thức của lãnh đạo các đơn vị; nhất là việc bố trí nguồn lực tài chính, nhân lực công nghệ thông tin và kế hoạch đầu tư hằng năm cho hệ thống nhằm bảo đảm duy trì và vận hành hiệu quả.

Ngoài những khó khăn về chi phí đầu tư, theo lãnh đạo các bệnh viện, thách thức lớn nhất hiện nay trong triển khai bệnh án điện tử là sự thiếu thống nhất về chuẩn công nghệ và quy định pháp lý. Mỗi bệnh viện sử dụng một phần mềm khác nhau, không phải hệ thống nào cũng tương thích, khiến việc liên thông dữ liệu còn hạn chế. Vấn đề ký số, xác thực điện tử cũng chưa thống nhất về tài liệu nào cần ký số, tài liệu nào chỉ cần ký điện tử, tài liệu nội bộ nào có thể bỏ xác thực.

Bên cạnh đó, dung lượng lưu trữ vẫn còn là bài toán khó. Nhiều đơn vị hiện nay, các thiết bị cũ không kết nối được buộc phải scan, gây tăng dung lượng dữ liệu. Nhiều cơ sở cũng mong muốn có quy định cụ thể về thời hạn lưu trữ, loại dữ liệu bắt buộc lưu và các giải pháp lưu trữ đám mây để phù hợp với quá trình triển khai.

Theo BS. Nguyễn Ngọc Vinh, dù còn nhiều khó khăn nhưng bệnh án điện tử là xu hướng tất yếu; nhờ đó người bệnh được hưởng dịch vụ tốt hơn, minh bạch hơn, bác sĩ có môi trường làm việc hiện đại, an toàn; bệnh viện giảm chi phí và nâng cao hiệu quả quản lý, ngành y tế tiến gần hơn đến mô hình khám chữa bệnh thông minh.

Đặc biệt, các bệnh viện cũng chú trọng vấn đề bảo mật thông tin, triển khai nhiều giải pháp để đảm an toàn thông tin, nhất là việc lưu trữ nhiều nơi, lưu trữ trên nền tảng điện toán đám mây.

(Nguồn: TTXVN)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Ứng dụng âm nhạc hỗ trợ phục hồi sau đột quỵ: Khi nhịp điệu đánh thức khả năng hồi phục của não

Âm nhạc trị liệu đang mở ra hướng tiếp cận mới trong phục hồi vận động sau đột quỵ, dựa trên cơ chế đồng bộ thính giác – vận động của não bộ, không chỉ giúp bệnh nhân vận động tốt hơn, mà còn cải thiện cảm xúc, động lực và chất lượng sống.

Đột quỵ hiện vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật trên toàn cầu. Theo thống kê lâm sàng, 60–80% người bệnh sau đột quỵ gặp rối loạn vận động, trong đó dáng đi và chức năng chi trên là hai vấn đề bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tìm kiếm các phương pháp hỗ trợ mới, nhằm tối ưu hiệu quả vật lý trị liệu và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Tại Hội nghị khoa học kỹ thuật thường niên năm 2025 do Bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp TPHCM tổ chức ngày 18/12, báo cáo của BS. Huỳnh Lê Thanh Trúc đã mang đến một góc nhìn vừa khoa học, vừa giàu tiềm năng ứng dụng: Âm nhạc trị liệu trong phục hồi vận động sau đột quỵ.

Âm nhạc trị liệu – không chỉ là “nghe nhạc cho vui”

Theo Hiệp hội Âm nhạc trị liệu Hoa Kỳ (AMTA), âm nhạc trị liệu là việc sử dụng âm nhạc có cấu trúc, dưới sự hướng dẫn của chuyên gia được đào tạo bài bản, nhằm đạt được các mục tiêu thể chất, tinh thần, nhận thức và xã hội cho người bệnh.

Các đại biểu nghe báo cáo khoa học tại hội nghị.

Trong phục hồi chức năng thần kinh, âm nhạc không đơn thuần mang tính giải trí, mà đóng vai trò như một “đồng hồ dẫn nhịp”, giúp não bộ đồng bộ hóa hoạt động vận động theo nhịp âm thanh – một cơ chế được gọi là đồng bộ thính giác – vận động.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, não bộ con người có xu hướng tự động điều chỉnh chuyển động theo nhịp điệu âm thanh ổn định. Nhịp nhạc đều đặn giúp kích hoạt đồng thời nhiều vùng não liên quan đến vận động như vỏ vận động sơ cấp, vùng tiền vận động và vùng bổ trợ vận động, đồng thời tăng cường kết nối giữa hệ thính giác và vận động.

Ở bệnh nhân đột quỵ, cơ chế này góp phần bù trừ các vùng não bị tổn thương, thúc đẩy tính dẻo thần kinh (neuroplasticity) và hỗ trợ quá trình học lại các kỹ năng vận động đã mất. Kết quả lâm sàng ghi nhận bước đi đều hơn, dài hơn, phối hợp tay – chân nhịp nhàng và cải thiện rõ khả năng thăng bằng.

Hai kỹ thuật cốt lõi: Dễ triển khai, chi phí thấp

Trong báo cáo, BS. Huỳnh Lê Thanh Trúc nhấn mạnh hai kỹ thuật âm nhạc trị liệu đang được chứng minh hiệu quả cao trong phục hồi sau đột quỵ.

Thứ nhất là Rhythmic Auditory Stimulation (RAS) – kỹ thuật sử dụng nhịp lặp đều (metronome hoặc âm nhạc có giai điệu rõ ràng) để hướng dẫn bệnh nhân tập đi đúng nhịp. Đây được xem là kỹ thuật có bằng chứng khoa học mạnh nhất hiện nay trong phục hồi dáng đi sau đột quỵ. Nhịp điệu ổn định giúp não đồng bộ hóa vận động, cải thiện độ chính xác, tính ổn định và tốc độ bước đi.

 

Y học phục hồi đang trở mình phát triển.

Quy trình RAS tiêu chuẩn bao gồm đánh giá nhịp bước nền của bệnh nhân, sau đó điều chỉnh nhịp âm thanh tăng hoặc giảm khoảng 5–10% tùy mục tiêu điều trị. Mỗi buổi tập kéo dài 20–30 phút, thực hiện 3–5 buổi mỗi tuần. Cá thể hóa nhịp điệu được xem là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả can thiệp.

Thứ hai là Music-Supported Therapy (MST) – phương pháp đặc biệt hiệu quả trong phục hồi chức năng chi trên. Người bệnh thực hiện các động tác như gõ nhịp, nhấn phím đàn, điều khiển nhạc cụ đơn giản hoặc lặp lại các chuyển động có gắn với âm thanh. MST tạo ra kích thích đa chiều (thính giác – xúc giác – vận động), giúp hình thành các liên kết thần kinh mới, tăng lưu lượng máu đến bán cầu não tổn thương và cải thiện khả năng vận động tinh của bàn tay.

Theo báo cáo, âm nhạc trị liệu có thể được áp dụng cho hầu hết bệnh nhân sau đột quỵ, đặc biệt ở giai đoạn bán cấp và mạn tính. Phương pháp này dễ tích hợp vào các chương trình vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu hoặc phục hồi chức năng hướng mục tiêu, với tần suất 3–5 buổi mỗi tuần, mỗi buổi 20–40 phút.

Ưu điểm nổi bật của âm nhạc trị liệu là không xâm lấn, chi phí thấp, giúp cải thiện vận động đồng thời nâng cao cảm xúc, động lực tập luyện và sự tuân thủ điều trị của người bệnh. Tuy nhiên, hiệu quả can thiệp vẫn phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân và đòi hỏi nhân viên y tế có kiến thức nền về âm nhạc trị liệu, cũng như quy trình chuẩn hóa phù hợp.

Kết luận báo cáo, BS. Huỳnh Lê Thanh Trúc khẳng định âm nhạc trị liệu, đặc biệt là RAS và MST, là công cụ bổ trợ hiệu quả trong phục hồi vận động sau đột quỵ. Việc tích hợp phương pháp này vào chương trình phục hồi đa ngành không chỉ giúp tối ưu kết quả lâm sàng, mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống và khả năng hòa nhập cộng đồng cho người bệnh.

Hội nghị khoa học “liên kết vùng”

Với 53 báo cáo khoa học do những chuyên gia giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực Nội, Ngoại khoa, Dinh dưỡng, Phục hồi chức năng, Y học cổ truyền… trình bày, Hội nghị khoa học kỹ thuật thường niên năm 2025 được xem là “dấu ấn mới” của Bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp TPHCM.

Bên cạnh đó, sự hiện diện của lãnh đạo Hội Phục hồi chức năng Việt Nam; của đông đảo đại biểu là lãnh đạo các cơ sở y tế, trường đại học gắn bó mạnh mẽ với lĩnh vực phục hồi chức năng trên cả nước tại hội nghị còn khiến tính “liên kết vùng” thể hiện rõ nét.

PGS.TS.BS Phan Minh Hoàng – Giám đốc Bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp TPHCM – chia sẻ tại hội nghị.

Theo PGS.TS.BS Phan Minh Hoàng – Giám đốc Bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp TPHCM, hội nghị là diễn đàn quan trọng để đề ra những giải pháp hiệu quả cho những thách thức đang đặt ra. Đồng thời mở ra cơ hội hợp tác và phát triển vùng giữa bệnh viện Bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp TPHCM và các bệnh viện trong khu vực phía Nam.

“Hy vọng, với sự hỗ trợ của Hội Phục hồi chức năng Việt Nam, Sở Y tế TPHCM, sự ủng hộ của quý đồng nghiệp, Bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp TPHCM sẽ tiếp tục phát triển vai trò chỉ đạo tuyến sang nhiều vùng, nhiều khu vực mới…” – PGS.TS.BS Phan Minh Hoàng chia sẻ tại hội nghị.

(Nguồn: suckhoedoisong.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Luật Dân số hướng tới mục tiêu duy trì mức sinh thay thế một cách bền vững

Luật Dân số với các quy định về tạo điều kiện, hỗ trợ để khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con là hết sức nhân văn và sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì mức sinh thay thế.

Luật Dân số vừa được Quốc hội thông qua đã bãi bỏ quy định “mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ 1 đến 2 con”, thay vào đó, cặp vợ chồng quyết định thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh.

Luật Dân số có nhiều quy định khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con (Ảnh: Internet)

Đồng thời, Luật cũng quy định lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 7 tháng. Gia đình sinh đủ 2 con được ưu tiên mua nhà xã hội. Nhà nước sẽ hỗ trợ tài chính khi sinh con với phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; phụ nữ tại các địa phương có mức sinh dưới mức sinh thay thế hoặc phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi.

Luật Dân số đánh dấu bước chuyển lớn trong chính sách dân số, chuyển trọng tâm từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển, hướng tới mục tiêu duy trì mức sinh thay thế. Bởi hiện nay, tỷ suất sinh của cả nước đang có xu hướng giảm. Theo các số liệu thống kê, mức sinh của nước ta chỉ đạt 1,91 con/phụ nữ (trong khi mức sinh thay thế là 2,1 con/phụ nữ). Hiện có 13/34 tỉnh thành có mức sinh dưới mức sinh thay thế, đặc biệt, có những tỉnh thành mức sinh xuống rất thấp với 1,43 con/phụ nữ.

Trong xã hội ngày nay, nhiều bạn trẻ có xu hướng kết hôn và sinh con muộn. Nhiều cặp vợ chồng không muốn sinh nhiều con. Bởi sinh một đứa con là gia đình phát sinh thêm nhiều khoản phải chi tiêu: tiền sữa, tiền quần áo, tã bỉm và các vật dụng cần thiết cho bé, tiền tiêm phòng và chăm sóc y tế mỗi khi không may bé ốm đau.v.v.. Chưa kể, việc tìm kiếm nhà ở, trường học cho con…cũng là những áp lực không nhỏ đối với cặp vợ chồng trẻ. Bên cạnh đó, quan niệm sống và nhiều giá trị của gia đình cũng thay đổi dẫn đến việc ngại kết hôn và sinh con.

PGS.TS Nguyễn Đức Vinh, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học cho rằng, khi mức sinh giảm thì quá trình già hóa dân số diễn ra rất nhanh và gây ra nhiều hệ lụy, đó là thiếu hụt lực lượng lao động, dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế-xã hội.

Hiện tượng mức sinh thấp và già hóa dân số đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới. Trong số đó, nhiều quốc gia đã là nước phát triển, mức sống của người dân khá rồi. Thế nhưng, đối với Việt Nam thì đặc biệt ở chỗ là chúng ta vẫn chưa phải nước giàu và chúng ta đặt ra cái mục tiêu trở thành nước công nghiệp phát triển vào năm 2045. Cho nên nếu như mà để mức sinh thấp dẫn đến dân số giảm, già hóa dân số đến quá nhanh thì có thể sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu này”, PGS.TS Nguyễn Đức Vinh phân tích.

Luật Dân số ra đời là bước tiến lớn trong việc xây dựng và triển khai chính sách dân số một cách ổn định, bền vững. Theo PGS.TS Nguyễn Đức Vinh, những quy định của luật về việc tạo điều kiện, hỗ trợ để khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con là hết sức nhân văn và sẽ có vai trò quan trọng trong việc hạn chế mức sinh giảm quá thấp. Tuy nhiên, về lâu dài, để duy trì mức sinh thay thế một cách bền vững thì cần có thêm nhiều giải pháp khác.

“Nếu như chúng ta đặt ra mục tiêu không để cho mức sinh giảm thấp hơn nữa thì các quy định của luật về ưu tiên nhà ở, hỗ trợ một phần kinh phí khi sinh con thứ 2, tăng thời gian nghỉ thai sản…là khả thi để có thể đạt được mục tiêu đó. Nhưng nếu đặt ra mục tiêu là phải duy trì mức sinh thay thế tôi nghĩ phải đòi hỏi nguồn lực rất lớn và phải có một cách tiếp cận thật sự khác.

Cần phải xác định thật rõ, thứ nhất việc duy trì mức sinh thay thế có ý nghĩa quan trọng thế nào đối với phát triển bền vững của quốc gia trong tương lai và phải đặt ra những mục tiêu cụ thể và chiến lược cụ thể, phải có cách huy động nguồn lực lớn giống như là chúng ta huy động nguồn lực cho những việc quan trọng khác của quốc gia như là cho đào tạo, cho quốc phòng, an ninh, cho bảo vệ môi trường… và cần có các giải pháp tổng thể từ tuyên truyền, vận động, định hướng giá trị cho đến lối sống rồi việc làm, giáo dục đào tạo và những chính sách hỗ trợ cụ thể cho người sinh đủ hai con. Như vậy mới giải quyết được bản chất vấn đề nếu như chúng ta muốn duy trì vững chắc mức sinh thay thế”, PGS.TS Nguyễn Đức Vinh nêu quan điểm.

(Nguồn: vov.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Nhà trung chuyển hỗ trợ người bệnh tái hòa nhập cộng đồng

Thời gian qua, mô hình Nhà trung chuyển tại Bệnh viện Phục hồi chức năng thành phố Đà Nẵng đã phát huy hiệu quả trong hỗ trợ người bệnh phục hồi chức năng, từng bước lấy lại khả năng tự chăm sóc, thích nghi với sinh hoạt đời thường và chuẩn bị điều kiện trở về cộng đồng.

Bác sĩ Trần Văn Hà, Trưởng đơn vị Nhà trung chuyển (Bệnh viện Phục hồi chức năng thành phố Đà Nẵng), hướng dẫn bà Trần Thị Rê các bài tập vận động tay. Ảnh: TRÂM ANH

Hành trình tìm lại sự tự chủ từ những sinh hoạt đời thường

“Cô cố gắng lên, sử dụng cả hai tay nào… Mình làm lại lần nữa nhé!”, giọng bác sĩ vang lên nhẹ nhàng trong buổi sáng tại Nhà trung chuyển thuộc Bệnh viện Phục hồi chức năng thành phố Đà Nẵng.

Bên chiếc bàn nhỏ, bác sĩ Trần Văn Hà kiên nhẫn hướng dẫn bà Trần Thị Rê (SN 1965, trú phường Hòa Cường) cách phối hợp hai tay để thực hiện các thao tác cơ bản như cầm muỗng, nhấc ly nước. Những cử động tưởng chừng đơn giản này là thành quả của một quá trình rèn luyện tỉ mỉ sau cơn đột quỵ cách đây nửa năm khiến bà bị hạn chế vận động nghiêm trọng.

Cạnh bên, ông Nguyễn Thanh Mốt (SN 1960), chồng bà Rê, luôn túc trực để động viên vợ. Ông Mốt chia sẻ, sau 12 ngày điều trị cấp tính, bà được chuyển sang Bệnh viện Phục hồi chức năng để tiếp tục hành trình hồi phục. Kể từ đó, Nhà trung chuyển đã trở thành điểm tựa quen thuộc, thắp lên hy vọng về khả năng tự chủ trong sinh hoạt cho hai vợ chồng.

Nhà trung chuyển phát huy hiệu quả trong hỗ trợ người bệnh phục hồi chức năng. Ảnh: TRÂM ANH

Cách đó không xa, ông Nguyễn Lâm (SN 1957, trú xã Hòa Vang) vừa hoàn tất bài tập rèn luyện vận động tay và đang chuẩn bị bữa ăn. Sau giai đoạn trị liệu và tập vật lý trị liệu chuyên sâu, ông Lâm được chuyển đến Nhà trung chuyển để làm quen lại với các vật dụng hằng ngày, hướng tới mục tiêu tự chăm sóc bản thân. Do tay trái còn yếu sau đột quỵ, mọi việc từ rót nước, thay trang phục đến mở tủ hay nấu ăn đều được ông thực hiện lại từng bước một cách kiên trì.

Ông Lâm cho biết mình đã gắn bó với bệnh viện khoảng 3 năm, trong đó có 2 năm sinh hoạt tại Nhà trung chuyển. “Tại đây, chúng tôi được tiếp cận các phương pháp rèn luyện và dụng cụ hỗ trợ sát với thực tế thể trạng. Điều này không chỉ giúp duy trì vận động thường xuyên mà còn tạo tâm lý thoải mái, giúp chúng tôi dần thích nghi với môi trường cộng đồng trước khi xuất viện”, ông Lâm bày tỏ.

Mô hình Nhà trung chuyển giúp cho người bệnh có cơ hội thực hành các chức năng sinh hoạt hàng ngày trước khi trở về gia đình và cộng đồng, để tái hòa nhập. Ảnh: TRÂM ANH

Ở góc sân, ông Nguyễn Văn Hồng (SN 1974, trú phường Ngũ Hành Sơn) đang chậm rãi lặt rau. Ít ai ngờ rằng người đàn ông này từng rơi vào tình trạng liệt hoàn toàn do tai biến mạch máu não. Ông Hồng nhớ lại thời điểm mới nhập viện 3 năm trước, cơ thể ông gần như bất động, các chi co cứng kéo dài.

Bên cạnh phác đồ điều trị chuyên môn, ông chủ động tham gia các hoạt động lao động nhẹ như tưới cây, dọn dẹp phòng ốc để duy trì sự linh hoạt. “Nhờ kiên trì luyện tập, đến nay tôi đã có thể tự đi lại và chăm sóc cá nhân. Những công việc giản đơn này chính là bước đệm quan trọng, giúp quá trình hồi phục diễn ra liên tục và không bị gián đoạn”, ông Hồng xúc động chia sẻ.

Giai đoạn chuyển tiếp mang tính quyết định

Theo Thạc sĩ Trần Văn Hà, Trưởng Đơn vị ADLs tại Khu Nhà trung chuyển (Bệnh viện Phục hồi chức năng thành phố Đà Nẵng), mô hình này được triển khai dựa trên các quy trình kỹ thuật của Bộ Y tế đối với cơ sở phục hồi chức năng tuyến tỉnh. Đây là khu chức năng thiết yếu, đóng vai trò cầu nối giúp người bệnh hồi phục toàn diện trước khi trở về với gia đình.

Được thành lập hơn 2 năm dựa trên các tài liệu chuyên môn chính thống, Nhà trung chuyển là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng. Mô hình giúp bệnh nhân sau thời gian điều trị dài ngày có không gian để rèn luyện, thích nghi dần với nhịp sống bên ngoài môi trường bệnh viện.

Trọng tâm của Nhà trung chuyển là huấn luyện kỹ năng sinh hoạt hằng ngày (ADLs) như ăn uống, vệ sinh cá nhân, di chuyển và tự chăm sóc. Mục tiêu cao nhất là giúp người bệnh đạt được sự độc lập tối đa hoặc giảm thiểu sự phụ thuộc vào người thân. “Người bệnh được thực hành trong không gian mô phỏng môi trường sống thực tế, từ đó xây dựng sự tự tin cần thiết trước khi chính thức về nhà”, bác sĩ Hà nhấn mạnh.

Song song đó, đơn vị còn tổ chức các hoạt động rèn luyện tính độc lập, kỹ năng thích nghi môi trường, kết hợp với trị liệu thông qua giải trí và lao động nhẹ như làm vườn, chơi cờ. Những hoạt động này được thiết kế phù hợp với thể trạng từng người, hỗ trợ đắc lực cho quá trình hòa nhập xã hội sau điều trị.

Các công việc không chỉ là bài tập thể chất mà còn là bước đệm quan trọng giúp quá trình hồi phục diễn ra liền mạch. Ảnh: TRÂM ANH

Sau hơn 2 năm vận hành, mô hình Nhà trung chuyển đã nhận được những phản hồi rất tích cực. Nhiều bệnh nhân từng gặp khó khăn trong việc tái hòa nhập đã lấy lại được khả năng tự lập và thích ứng tốt với môi trường sống. Đặc biệt, bệnh viện còn chú trọng tư vấn, hướng dẫn người nhà cải tạo không gian sống tại gia đình sao cho phù hợp với tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

Trước nhu cầu phục hồi chức năng ngày càng cao, Bệnh viện Phục hồi chức năng thành phố Đà Nẵng dự kiến sẽ tiếp tục đầu tư hạ tầng, mở rộng quy mô Nhà trung chuyển. Mục tiêu là đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu điều trị, giúp người bệnh vững vàng hơn trên hành trình tái hòa nhập cộng đồng.

Bắt đầu từ những việc nhỏ bé mỗi ngày, Nhà trung chuyển đang từng bước giúp các bệnh nhân tìm lại chính mình, chuẩn bị một tâm thế sẵn sàng nhất để trở về với gia đình và xã hội.

(Nguồn: baodanang.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Triển khai bảo hiểm y tế bổ sung là tất yếu

Hiện nay, quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) mặc dù được đánh giá khá toàn diện so với mức đóng, tuy nhiên chưa đủ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của toàn bộ người dân.

Thực hiện BHYT bổ sung theo nhu cầu người dân là giải pháp cần thiết nhằm đa dạng các cơ chế bảo vệ tài chính cho người dân – Ảnh: VGP/HM

Chính vì vậy, chủ trương thực hiện BHYT bổ sung theo nhu cầu người dân là một trong những giải pháp cần thiết nhằm đa dạng các cơ chế bảo vệ tài chính cho người dân, giúp giảm chi tiền túi và giảm áp lực tài chính cho các hộ gia đình trong khám bệnh, chữa bệnh.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà cho biết, hiện nay chi tiêu tiền túi của người dân cho khám chữa bệnh ước tính vẫn trên 40%. Mức này vẫn cao khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới.

Do đó, nguy cơ nghèo hóa do bệnh tật vẫn hiện hữu, nhất là đối với người nghèo, nhóm yếu thế, người mắc bệnh mạn tính hoặc điều trị dài ngày. Đặc biệt, dưới tác động của già hóa dân số thì áp lực tài chính do rủi ro về sức khỏe lên hộ gia đình ngày càng lớn, nếu chúng ta không có giải pháp, thay đổi mạnh mẽ từ chính sách tài chính y tế.

Theo Thứ trưởng Vũ Mạnh Hà, việc thực hiện BHYT bổ sung theo nhu cầu người dân là một trong những giải pháp quan trọng bên cạnh các giải pháp thiết yếu khác đang được đồng bộ triển khai thực hiện theo các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đặc biệt, thời gian qua, Nghị quyết số 72-NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 9/9/2025 và Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 3/10/2025 của Ban Bí thư cũng đã xác định nhiệm vụ thí điểm, đa dạng hóa các gói BHYT, thực hiện BHYT bổ sung theo nhu cầu của người dân là một trong các nhiệm vụ chủ yếu để người dân có đầy đủ các cơ chế bảo vệ tài chính cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Hiện tại, Bộ Y tế đang xây dựng BHYT bổ sung. Theo đó, BHYT toàn dân vẫn là nền tảng, còn BHYT bổ sung được thiết kế để hỗ trợ, mở rộng quyền lợi, không thay thế và không làm suy yếu nguyên tắc bao phủ toàn dân

BHYT bổ sung thực hiện trên cơ sở người đã tham gia BHYT bắt buộc và tự nguyện tham gia BHYT bổ sung. Ảnh: VGP/HM

Nguyên tắc thực hiện BHYT bổ sung

Theo định hướng xây dựng BHYT bổ sung do Bộ Y tế đang thực hiện, BHYT bổ sung thực hiện trên cơ sở người đã tham gia BHYT bắt buộc và tự nguyện tham gia BHYT bổ sung do các công ty, doanh nghiệp kinh doanh BHYT cung cấp. Phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT bổ sung bảo đảm không trùng lặp với phạm vi được hưởng và mức hưởng của BHYT bắt buộc.

Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân mua, hỗ trợ mua BHYT bổ sung cho người lao động. Kinh phí mua BHYT bổ sung cho người lao động được hạch toán vào chi phí doanh nghiệp.

Nhà nước cũng khuyến khích các tổ chức thực hiện BHYT bổ sung hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân.

Việc giám định chi phí sử dụng dịch vụ BHYT bổ sung được thực hiện thông qua cơ quan tổ chức có chức năng giám định độc lập hoặc thông qua hệ thống giám định của cơ quan bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Phạm vi được hưởng và mức phí, thanh toán chi phí, giải quyết tranh chấp đối với người tham gia BHYT bổ sung được quy định trong hợp đồng giữa người tham gia BHYT bổ sung với tổ chức thực hiện BHYT bổ sung.

Trong đó, Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tài chính quy định về điều kiện hợp đồng BHYT bổ sung.

Các gói BHYT bổ sung

Theo đề xuất của Bộ Y tế, các gói BHYT bổ sung gồm: gói BHYT bổ sung chi trả cho phần cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT của người tham gia BHYT; gói chi trả cho chi phí các dịch vụ y tế, dịch vụ y tế tự chọn ngoài phạm vi chi trả của quỹ BHYT xã hội.

Gói BHYT đối với một số trường hợp bệnh hiểm nghèo, bệnh có chi phí điều trị lớn và các gói BHYT bổ sung khác do thỏa thuận giữa người tham gia và tổ chức thực hiện BHYT bổ sung tuân thủ theo nguyên tắc thực hiện trên.

Việc thanh toán chi phí BHYT bổ sung cho người tham gia được thực hiện theo hợp đồng giữa người tham gia với tổ chức thực hiện BHYT bổ sung; hợp đồng giữa cơ sở y tế với tổ chức thực hiện BHYT bổ sung.

Nguồn thu từ hợp đồng BHYT bổ sung và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí y tế bổ sung ngoài phạm vi thanh toán của quỹ BHYT bắt buộc cho người tham gia BHYT bổ sung và các chi phí khác theo hợp đồng BHYT bổ sung theo quy định của pháp luật về BHYT bổ sung và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.

Về trách nhiệm của cơ quan quản lý, Bộ Y tế có trách nhiệm quy định thực hiện BHYT bổ sung về các nội dung liên quan đến phạm vi quyền lợi, gói BHYT bổ sung và việc chia sẻ dữ liệu, thông tin về chi phí sử dụng dịch vụ y tế cho tổ chức thực hiện BHYT bổ sung.

Chỉ đạo hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện và kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại tố cáo về BHYT bổ sung; chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính quy định gói quyền lợi bảo hiểm y tế bổ sung…

Trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ tiếp tục nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về thí điểm BHYT bổ sung trước khi trình xem xét, quyết định.

(Nguồn: baochinhphu.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc và điều trị sơ sinh 2025: Cập nhật toàn diện, đẩy mạnh can thiệp hiệu quả cao

Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn quốc gia 2025 về các dịch vụ chăm sóc và điều trị sơ sinh được đánh giá là bản cập nhật lớn nhất trong hơn 20 năm qua, với nhiều điểm mới quan trọng nhằm giảm tử vong và biến chứng sơ sinh tại Việt Nam.

Cập nhật hướng dẫn mới nhất về chăm sóc và điều trị trẻ sơ sinh

Ngày 19/12, Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế tổ chức Hội thảo phổ biến các hướng dẫn quốc gia mới ban hành và phân công công tác chỉ đạo tuyến trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành phụ sản và nhi khoa.

Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn quốc gia 2025 về các dịch vụ chăm sóc và điều trị sơ sinh, được đánh giá là bản cập nhật lớn nhất trong hơn 20 năm qua, với nhiều điểm mới quan trọng nhằm giảm tử vong và biến chứng sơ sinh tại Việt Nam

Hướng dẫn quốc gia Các dịch vụ Chăm sóc và điều trị sơ sinh năm 2025 chuyển mạnh từ “can thiệp rời rạc” sang chăm sóc sơ sinh liên tục, tích hợp, lấy gia đình làm trung tâm, dựa trên y học chứng cứ và phù hợp thực tiễn Việt Nam, nhằm giảm tử vong và di chứng sơ sinh bền vững.

TS Trần Đăng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em phát biểu tại hội thảo.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, TS Trần Đăng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em cho biết, tại các vùng núi, vùng sâu, vùng xa và khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, các chỉ số sức khỏe bà mẹ và trẻ em vẫn còn nhiều bất cập. Tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em tại những khu vực này cao gấp 2–3 lần so với vùng đồng bằng và đô thị. Đặc biệt, tử vong mẹ ở phụ nữ dân tộc thiểu số cao gấp khoảng 7 lần so với nhóm người Kinh.

Nếu so sánh trong khu vực, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi của Việt Nam hiện vẫn cao gần gấp đôi so với Thái Lan, quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người tương đương. So với các nước phát triển như Nhật Bản hay Phần Lan, khoảng cách này còn lớn hơn rất nhiều. Thực tế đó cho thấy Việt Nam vẫn còn một chặng đường dài cần nỗ lực để thu hẹp khoảng cách về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em.

Công tác chỉ đạo tuyến không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn của ngành y tế mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Mỗi kỹ thuật được chuyển giao, mỗi ca cấp cứu được xử trí kịp thời tại cơ sở đều góp phần cứu sống bà mẹ và trẻ em, mang lại niềm hạnh phúc cho gia đình và xã hội. Với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm của đội ngũ cán bộ y tế, công tác chỉ đạo tuyến sản – nhi sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển của hệ thống y tế công bằng, chất lượng và bền vững.

Ông Trần Đăng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em cho biết, năm 2025, lĩnh vực bà mẹ và trẻ em đã xây dựng, trình Lãnh đạo Bộ Y tế ký ban hành nhiều hướng dẫn chuyên môn quan trọng về sản khoa và nhi khoa. Các hướng dẫn này cập nhật kịp thời những tiến bộ y học tiên tiến của thế giới, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và trình độ kỹ thuật chuyên môn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân trong lĩnh vực sản, nhi. Qua đó, công tác này đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp tục giảm tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong trẻ em tại Việt Nam.

Về công tác chỉ đạo tuyến sản, nhi, TS. Trần Đăng Khoa nhấn mạnh thời gian tới cần tập trung nguồn lực cho các khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, đặc biệt trong lĩnh vực hồi sức sơ sinh và cấp cứu sản khoa, nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch về tử vong mẹ và trẻ em giữa các vùng miền. Đồng thời, cần đổi mới phương thức chỉ đạo tuyến theo hướng hiệu quả, toàn diện và bền vững; tăng cường hỗ trợ kỹ thuật phù hợp với bối cảnh sáp nhập tỉnh và mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Bên cạnh đó, ngành y tế cần chuẩn bị tốt để hỗ trợ triển khai khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em, trong đó chú trọng công tác sàng lọc rối loạn phổ tự kỷ và các rối loạn phát triển tâm thần ở trẻ. Công tác chỉ đạo tuyến sản, nhi cần được thực hiện quyết liệt, hiệu quả, không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn của ngành y tế mà còn thể hiện tính nhân văn sâu sắc. Mỗi kỹ thuật được chuyển giao thành công, mỗi ca cấp cứu kịp thời tại tuyến cơ sở, mỗi bà mẹ và trẻ sơ sinh được cứu sống đều mang lại hạnh phúc cho gia đình và lợi ích cho toàn xã hội.

Việc phát huy hiệu quả công tác chỉ đạo tuyến sản, nhi sẽ góp phần xây dựng hệ thống y tế Việt Nam công bằng, chất lượng và hiệu quả, bảo đảm không một bà mẹ hay trẻ em nào bị bỏ lại phía sau.

PGS.TS Trần Thị Hoàng, PGĐ Sản nhi Đà Nẵng, thành viên nhóm biên soạn Hướng dẫn quốc gia Nhi sơ sinh cho biết, hướng dẫn quốc gia 2025 được xây dựng dựa trên y học chứng cứ, khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và các hiệp hội uy tín, đồng thời bám sát thực tiễn triển khai tại các cơ sở y tế trong nước. Tài liệu gồm 8 chương, 68 chủ đề, dài 663 trang, bao phủ toàn bộ chuỗi chăm sóc sơ sinh từ cơ bản đến chuyên sâu

Một trong những điểm mới nổi bật là lồng ghép chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm (EENC) với hồi sức sơ sinh, thay vì tách rời như trước. Ngay từ phút đầu sau sinh, trẻ được lau khô, giữ ấm, da kề da với mẹ, kẹp cắt rốn muộn và hỗ trợ hô hấp sớm khi cần thiết. Cách tiếp cận này được áp dụng cho cả trẻ đủ tháng và trẻ sinh non, giúp ổn định sớm và giảm nguy cơ biến chứng.


Các đại biểu tham dự hội nghị.

Hướng dẫn mới nhấn mạnh chăm sóc Kangaroo (da kề da) như một can thiệp cốt lõi, có thể triển khai ngay từ phòng sinh, kể cả với trẻ rất non, trẻ suy hô hấp đang hỗ trợ CPAP. Đặc biệt, Hướng dẫn cho phép vận chuyển trẻ sinh non trong tư thế Kangaroo, góp phần tăng an toàn chuyển tuyến và giảm nguy cơ hạ thân nhiệt

Phối hợp Sản – Nhi được xác định là “chìa khóa” trong chăm sóc trẻ sơ sinh nguy cơ cao. Hướng dẫn cập nhật đầy đủ các biện pháp quản lý thai kỳ nguy cơ, dự phòng sinh non, sử dụng corticosteroid, magnesium sulfate và kháng sinh dự phòng, nhằm giảm tỷ lệ sinh non và cải thiện khả năng sống sót của trẻ

Hướng dẫn 2025 ưu tiên hỗ trợ CPAP sớm tại phòng sinh, phòng mổ cho trẻ sinh non và trẻ rất non. Việc sử dụng surfactant được khuyến cáo theo kỹ thuật ít xâm lấn (LISA), hạn chế thở máy xâm nhập, qua đó giảm tổn thương phổi và biến chứng lâu dài

Hương dẫn cũng chuẩn hóa dinh dưỡng, sữa mẹ và kiểm soát kháng sinh. Dinh dưỡng sữa mẹ sớm trong 24 giờ đầu sau sinh khi trẻ ổn định được nhấn mạnh, cùng với vai trò của Ngân hàng sữa mẹ tại các đơn vị sơ sinh. Bên cạnh đó, Hướng dẫn cập nhật cách tiếp cận chẩn đoán nhiễm khuẩn sơ sinh dựa trên bằng chứng, chuẩn hóa phác đồ và thời gian điều trị, nhằm giảm lạm dụng kháng sinh

Theo PGS.TS Trần Thị Hoàng, lần đầu tiên, Hướng dẫn xây dựng danh mục thuốc và trang thiết bị thiết yếu theo từng cấp khám chữa bệnh, giúp sử dụng hợp lý nguồn lực và giảm chuyển tuyến không cần thiết. Đồng thời, 17 quy trình kỹ thuật được chuẩn hóa kèm bảng kiểm thực hành, từ hồi sức, chăm sóc đến điều trị chuyên sâu cho trẻ sơ sinh

Theo Ban biên soạn, việc triển khai thống nhất Hướng dẫn quốc gia 2025 tại tất cả các tuyến y tế được kỳ vọng sẽ nâng cao chất lượng chăm sóc sơ sinh, giảm tử vong và di chứng, góp phần cải thiện bền vững sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại Việt Nam.

Tạo nền tảng cho việc triển khai chăm sóc sức khỏe sinh sản liên tục

PGS.TS.BS Huỳnh Nguyễn Khánh Trang, Bệnh viện Hùng Vương (TP HCM) đánh giá Hướng dẫn quốc gia 2025 về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong tư duy và cách tiếp cận, chuyển từ chăm sóc thai kỳ thuần túy sang dự phòng sớm, quản lý nguy cơ và chăm sóc liên tục, toàn diện cho phụ nữ và trẻ em.

Hướng dẫn mới được xây dựng trên cơ sở cập nhật Hướng dẫn năm 2017, phù hợp với khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Trường Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) và định hướng giảm tử vong mẹ – chu sinh tại Việt Nam.

Theo PGS.TS.BS Huỳnh Nguyễn Khánh Trang, điểm mới nổi bật của Hướng dẫn quốc gia 2025 là tách rõ và đề cao vai trò chăm sóc trước khi có thai, coi đây là nền tảng của một thai kỳ an toàn. Thời điểm tư vấn được khuyến cáo trước 1–2 năm, mở rộng “cửa sổ vàng” dự phòng các nguy cơ sảy thai, thai lưu và dị tật bẩm sinh.

PGS.TS.BS Huỳnh Nguyễn Khánh Trang, Bệnh viện Hùng Vương (TP HCM).

Đối tượng chăm sóc không chỉ là phụ nữ mà mở rộng sang cả cặp vợ chồng, tiệm cận mô hình chăm sóc sức khỏe gia đình. Nội dung sàng lọc được cập nhật toàn diện hơn, bao gồm bệnh mạn tính, yếu tố di truyền, môi trường, nghề nghiệp, tuổi mẹ, cùng nhiều bệnh nhiễm trùng mới phù hợp với bối cảnh dịch tễ hiện nay.

Trong chăm sóc trước sinh, Hướng dẫn 2025 cập nhật số lần khám thai tối thiểu lên 6 lần, phù hợp với khuyến cáo WHO, đồng thời xây dựng lịch khám cụ thể theo từng tam cá nguyệt, giúp dễ triển khai tại các tuyến y tế.

Mục tiêu chăm sóc không chỉ dừng ở theo dõi thai mà chuyển sang sàng lọc nguy cơ, phát hiện sớm và can thiệp kịp thời. Việc khai thác tiền sử được mở rộng theo hướng y học – xã hội, kết hợp giáo dục thai phụ về tâm lý, hành vi và chuẩn bị sinh an toàn.

Hướng dẫn mới bổ sung và nhấn mạnh nhiều nội dung về tiêm chủng cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Bên cạnh các vắc-xin quen thuộc như uốn ván, cúm, rubella, thủy đậu, Hướng dẫn đưa HPV, Tdap và RSV vào khuyến cáo rõ ràng, phù hợp xu hướng quốc tế, nhằm bảo vệ sức khỏe bà mẹ và tạo miễn dịch thụ động cho trẻ sơ sinh

Một điểm mới quan trọng khác là mở rộng vai trò của y tế cơ sở trong toàn bộ chuỗi chăm sóc, từ quản lý thai, phân loại nguy cơ đến tư vấn và chuyển tuyến. Hướng dẫn nhấn mạnh tiếp cận lấy thai phụ làm trung tâm, tôn trọng, không phán xét, đặc biệt với các nhóm dễ tổn thương như thai ngoài ý muốn, phụ nữ vùng sâu, vùng xa, nạn nhân bạo hành hoặc thai phụ nhiễm HIV

Bên cạnh chăm sóc thể chất, Hướng dẫn quốc gia 2025 lần đầu lồng ghép sức khỏe tâm thần và vấn đề bạo hành phụ nữ như một nội dung y tế cần được nhận diện và can thiệp sớm

Hướng dẫn quốc gia 2025 không chỉ chuẩn hóa thực hành chuyên môn trên phạm vi cả nước mà còn tạo nền tảng cho việc triển khai chăm sóc sức khỏe sinh sản liên tục, cá thể hóa theo nguy cơ và phù hợp điều kiện Việt Nam. Việc áp dụng hiệu quả Hướng dẫn được kỳ vọng sẽ góp phần bền vững vào mục tiêu bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em trong giai đoạn tới.

(Nguồn: suckhoedoisong.vn)

 

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Đẩy mạnh đánh giá nguy cơ, hoàn thiện Hệ thống cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Việc chủ động phòng ngừa và kiểm soát an toàn thực phẩm một cách toàn diện các mối nguy tiềm ẩn, xuyên suốt từ khâu sản xuất đến tiêu dùng, là yêu cầu cấp thiết và mang tính chiến lược.

Ngày 18/12, Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia phối hợp với Viện nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI) tổ chức Hội thảo Quốc tế “Ứng dụng đánh giá nguy cơ hóa học và vi sinh trong đảm bảo an toàn thực phẩm”.

PGS.TS Lê Thị Hồng Hảo – Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia phát biểu. Ảnh PL

Hội thảo được tổ chức với sự tham gia của các nhà quản lý, nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực kiểm nghiệm thực phẩm, đánh giá nguy cơ đến từ các Viện nghiên cứu, Trường Đại học, các đơn vị nghiên cứu khoa học nhằm giới thiệu các cách tiếp cận, phương pháp đánh giá nguy cơ về an toàn thực phẩm cũng như chia sẻ các kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm và các ứng dụng trong thực tiễn đánh giá nguy cơ về an toàn thực phẩm hiện nay của Việt Nam cũng như quốc tế.

Đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm đang gặp nhiều hạn chế do hệ thống dữ liệu phân mảnh

Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Lê Thị Hồng Hảo – Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia nhấn mạnh, an toàn thực phẩm đã và đang là vấn đề được toàn xã hội quan tâm. Việc chủ động phòng ngừa và kiểm soát một cách toàn diện các mối nguy tiềm ẩn, xuyên suốt từ khâu sản xuất đến tiêu dùng, là yêu cầu cấp thiết và mang tính chiến lược.

“Trước yêu cầu đó, việc xây dựng và triển khai các nghiên cứu đánh giá nguy cơ hóa học và vi sinh dựa trên những bằng chứng khoa học hiện đại, chính xác và hiệu quả, được xem là một công cụ hữu hiệu và khả thi bậc nhất. 

Các kết quả nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin khoa học có giá trị về các mối nguy, từ đó hỗ trợ đắc lực và làm nền tảng cho công tác quản lý an toàn thực phẩm dựa trên nguy cơ”- PGS.TS Lê Thị Hồng Hảo nói.

Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia nhấn mạnh: Hội thảo là cơ hội để các đại biểu gặp gỡ và chia sẻ kinh nghiệm nhằm tăng cường các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, hợp tác và trao đổi khoa học liên quan đến an toàn thực phẩm và đánh giá nguy cơ.

TS Trần Cao Sơn – Phó Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm an toàn thực phẩm Quốc gia trình bày báo cáo khoa học tại hội thảo.

Trong bài trình bày về số hóa dữ liệu phục vụ đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm thực tiễn quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam, TS Trần Cao Sơn – Phó Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm an toàn thực phẩm Quốc gia thay mặt nhóm nghiên cứu cho hay, đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm tại Việt Nam đang gặp nhiều hạn chế do hệ thống dữ liệu phân mảnh, thiếu chuẩn hóa và không chia sẽ, mặc dù có lượng lớn dữ liệu từ phòng thí nghiệm và các chương trình giám sát được thực hiện. 

Phần lớn các dữ liệu hiếm khi được số hóa hoặc chia sẻ giữa các bộ ngành và địa phương, làm giảm khả năng sử dụng cho hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu. 

Việc thành lập Trung tâm đánh giá nguy cơ về an toàn thực phẩm (VFSA) thuộc Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia vào tháng 7/2024 là một bước tiến quan trọng về mặt tổ chức, hướng tới cách tiếp cận khoa học theo chuẩn quốc tế. 

Nghiên cứu trên nhằm đề xuất một mô hình chuyển đổi số để quản lý dữ liệu nguy cơ an toàn thực phẩm tại Việt Nam. Các kết quả chính bao gồm đề xuất khung dữ liệu chuẩn hóa các nguy cơ an toàn thực phẩm, thiết kế nền tảng số phù hợp với bối cảnh thể chế của Việt Nam, và đề xuất kế hoạch triển khai thí điểm tại Viện Kiểm nghiệm an toàn thực phẩm Quốc gia, trước mắt nhằm tích hợp dữ liệu an toàn thực phẩm trong lĩnh vực y tế. 

Những khuyến nghị này là các bước nền tảng nhằm nâng cao tính sẵn có, chất lượng, quản lý và khả năng sử dụng dữ liệu cho đánh giá nguy cơ kịp thời và minh bạch tại Việt Nam.

Khẩn trương hoàn thiện Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm

TS. Dược sĩ Chu Quốc Thịnh – Quyền Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cho biết, Cục đang khẩn trương xây dựng dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi để trình Quốc hội vào kỳ họp thứ nhất khóa 16. 

TS.Dược sĩ Chu Quốc Thịnh – Quyền Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm. Ảnh: PL

Để thu hẹp các khoảng trống pháp lý, Chính phủ sẽ sớm ban hành các nghị định và thay thế Nghị định 15 nhằm chuyển đổi mạnh mẽ tư duy từ quản lý an toàn đơn thuần sang quản lý chất lượng dựa trên nguy cơ.

TS Thịnh cũng chia sẻ thêm, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm đang được khẩn trương hoàn thiện, tích hợp 98 thủ tục hành chính cùng quản lý thực hành sản xuất tốt (GMP) và quảng cáo thực phẩm, bảo đảm vận hành thống nhất từ Trung ương đến địa phương. 

Song song với đó, việc rà soát, cập nhật các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) được triển khai quyết liệt, với 37 quy chuẩn dự kiến sửa đổi, nhằm tạo nền tảng khoa học vững chắc cho công tác giám sát thị trường”.

Theo cách tiếp cận mới, công tác quản lý sẽ được triển khai xuyên suốt chuỗi giá trị “từ trang trại đến bàn ăn”, trong đó chú trọng kiểm soát các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp như: phân bón, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời từng bước ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong đánh giá nguy cơ.

“Thông qua việc kiện toàn bộ máy quản lý tại địa phương và phát huy vai trò nòng cốt của Viện Kiểm nghiệm an toàn thực phẩm Quốc gia, cùng đó xây dựng cơ chế hậu kiểm minh bạch, dựa trên bằng chứng khoa học sẽ góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng”- TS Chu Quốc Thịnh khẳng định.

Theo TS Nguyễn Việt Hùng – Giám đốc ILRI khu vực châu Á, gánh nặng từ thực phẩm không an toàn trên thực tế khốc liệt hơn nhiều so với các dự báo trước đây. Ước tính, sự sụt giảm năng suất lao động do nhóm bệnh này gây ra có thể gây tổn thất kinh tế lên đến 115 tỷ USD, chủ yếu ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình.

Quang cảnh hội thảo.

Đáng chú ý, các bệnh liên quan đến thực phẩm gây gánh nặng bệnh tật tương đương với 3 bệnh truyền nhiễm với ba bệnh truyền nhiễm lớn nhất là HIV, lao và sốt rét, và 95% gánh nặng này tập trung chủ yếu tại các quốc gia đang phát triển. Tuy vậy, nguồn lực đầu tư toàn cầu, đặc biệt dành cho các nước đang phát triển, vẫn chưa tương xứng với quy mô và mức độ nghiêm trọng của vấn đề.

“Để đạt mục tiêu toàn bộ sản phẩm nông, lâm, thủy sản Việt có truy xuất nguồn gốc rõ ràng trong năm 2026, quản lý dựa trên đánh giá nguy cơ là hướng tiếp cận then chốt. Chúng tôi cam kết sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Việt Nam để từng bước hiện thực hóa các mục tiêu này”- TS Nguyễn Việt Hùng nhấn mạnh.

(Nguồn: suckhoedoisong.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Chuẩn hóa, bảo mật dữ liệu – “chìa khóa vàng” cho số hóa y tế

Y tế từ xa đang chuyển mình từ giải pháp tình thế trong đại dịch thành trụ cột của hệ thống y tế hiện đại. Tuy nhiên, để mô hình này phát triển bền vững, trở thành hạ tầng dịch vụ lấy người bệnh làm trung tâm, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện hành lang pháp lý và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong môi trường số.

Một ca hội chẩn khám chữa bệnh từ xa của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Ảnh: Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Điều kiện tiên quyết của y tế số

Y tế từ xa đã chứng minh giá trị vượt trội trong những năm qua, khi giúp rút ngắn khoảng cách địa lý, kết nối chuyên môn tuyến trên – tuyến dưới và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho người dân ở vùng sâu, vùng xa cũng như các nhóm yếu thế. Từ hơn một nghìn điểm cầu được thiết lập trong thời điểm căng thẳng của đại dịch Covid-19, đến nay, hoạt động khám chữa bệnh từ xa vẫn được duy trì, mở rộng và từng bước đi vào chiều sâu, phục vụ hàng vạn lượt bệnh nhân mỗi năm.

GS.TS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia, cho biết, trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia diễn ra mạnh mẽ, y tế từ xa không chỉ là giải pháp công nghệ, mà còn là phương thức tổ chức lại dịch vụ y tế theo hướng lấy người bệnh làm trung tâm. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở chuẩn hóa dữ liệu, thiết lập nền tảng liên thông và bảo đảm an toàn thông tin.

Việc chuẩn hóa dữ liệu được coi là nền tảng của tương lai y tế số, bởi đây là điều kiện để bệnh án điện tử đạt cấp độ có ngữ nghĩa, giúp các hệ thống công nghệ – đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) – tham gia hỗ trợ ra quyết định lâm sàng. Quá trình này bao gồm chuẩn hóa nội dung trong phân loại lâm sàng, chuẩn hóa cấu trúc, chuẩn hóa truyền tải và chuẩn hóa bảo mật.

Theo Phó Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) Nguyễn Trọng Khoa, hiện Bộ Y tế đang triển khai lộ trình đồng bộ hóa các bộ mã sử dụng trong hệ thống khám chữa bệnh, bao gồm hệ thống chẩn đoán bệnh phục vụ thanh toán bảo hiểm y tế và thống kê bảo đảm thân thiện, dễ ứng dụng và chuyển đổi dễ dàng sang nền tảng số phục vụ bệnh án điện tử. Với xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và giải phẫu bệnh, định hướng là chuẩn hóa theo các bộ chuẩn quốc tế, nhằm bảo đảm tính thống nhất và khả năng kết nối rộng mở.

Đặc biệt, việc áp dụng bộ thuật ngữ lâm sàng SNOMED CT, dự kiến triển khai từ năm 2027, được xem là bước tiến lớn trong đồng bộ ngôn ngữ chuyên môn trên phạm vi toàn ngành. Đây là bộ thuật ngữ toàn diện nhất, bao phủ cấu trúc cơ thể, chẩn đoán lâm sàng, rối loạn, thủ thuật và can thiệp. Nhờ đó, ngành Y tế có thể xây dựng bộ khung hồ sơ bệnh án điện tử theo chuẩn chung, tạo điều kiện thuận lợi cho liên thông dữ liệu và ứng dụng AI trong chăm sóc sức khỏe.

Xây dựng niềm tin số trong y tế từ xa

Cùng với yêu cầu chuẩn hóa, thách thức lớn khác là bảo vệ dữ liệu cá nhân – vốn là nhóm dữ liệu nhạy cảm nhất và có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền riêng tư của người bệnh. Theo Phó Trưởng Đại diện Thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam Francesca Nardini, hoạt động khám chữa bệnh từ xa đã gia tăng mạnh mẽ lượng dữ liệu được tạo ra, truyền tải và xử lý trên môi trường mạng, đồng nghĩa với việc mở rộng phạm vi rủi ro an ninh mạng.

Để giảm thiểu rủi ro, cần triển khai đồng bộ ba nhóm giải pháp: Pháp lý, kỹ thuật và quy trình. Về pháp lý, các cơ sở y tế phải tuân thủ nghiêm Luật Khám bệnh, chữa bệnh và các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Về kỹ thuật, yêu cầu bắt buộc là mã hóa dữ liệu khi lưu trữ và truyền tải: Áp dụng mã hóa đầu cuối cho hình ảnh, video, tệp tin, tăng cường sử dụng VPN chuyên dụng; đồng thời xác thực bệnh nhân bằng căn cước công dân gắn chip kết hợp OTP hoặc Face ID.

Chia sẻ kinh nghiệm từ Hàn Quốc, Trưởng Đại diện Tổ chức Chăm sóc Sức khỏe Quốc tế Hàn Quốc (KOFIH) tại Việt Nam Kyungnam Ryu cho biết, y tế từ xa mang lại lợi ích lớn nhưng cũng đặt ra những thách thức mới, đòi hỏi hệ thống y tế phải sẵn sàng về hạ tầng, nhân lực và quản trị. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, bảo đảm an toàn và có khả năng liên thông trên toàn quốc, mô hình khám chữa bệnh từ xa mới có thể trở thành nền tảng bền vững của hệ thống y tế hiện đại.

Giáo sư Kang Jeo Hoen cùng các chuyên gia đến từ Bệnh viện Kangbuk Samsung (Hàn Quốc) cho rằng, để phát triển y tế từ xa, các cơ sở y tế cần khẩn trương nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin đạt chuẩn bảo mật theo quy định, đồng thời nâng cấp hệ thống bệnh án điện tử theo cấu trúc và thuật ngữ mới.

Sự đồng hành của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là kinh nghiệm và sự hỗ trợ kỹ thuật trong phát triển hệ thống y tế số lấy người bệnh làm trung tâm sẽ tiếp tục là nguồn lực quan trọng giúp Việt Nam từng bước hoàn thiện chính sách, chuẩn hóa dữ liệu và xây dựng mô hình triển khai cụ thể, phù hợp thực tiễn.

Trong tương lai, khi dữ liệu y tế được quản trị theo chuẩn quốc tế, được bảo vệ nghiêm ngặt và sử dụng đúng mục đích, y tế từ xa sẽ trở thành công cụ mạnh mẽ để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu, giảm tải bệnh viện tuyến trên và bảo đảm mọi người dân đều có thể tiếp cận dịch vụ y tế tiện lợi, an toàn ngay tại cộng đồng.

(Nguồn: hanoimoi.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

114 Trạm Y tế ở Hải Phòng được bàn giao cho UBND cấp xã quản lý

Việc bàn giao Trạm Y tế về cấp xã quản lý sẽ gồm: biên chế viên chức được giao năm 2025, viên chức, lao động hợp đồng hiện có cùng toàn bộ tài chính, tài sản, hồ sơ, tài liệu và các vấn đề liên quan theo đúng quy định…

Sở Y tế TP Hải Phòng vừa tổ chức hội nghị bàn giao 114 Trạm Y tế (TYT) từ các Trung tâm Y tế về UBND các xã, phường, đặc khu quản lý trên địa bàn.

Đây là bước triển khai quan trọng nhằm thực hiện các quyết định của UBND TP Hải Phòng về kiện toàn mô hình tổ chức y tế cơ sở, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý và phát huy vai trò của chính quyền địa phương trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.

Sở Y tế TP Hải Phòng và UBND 114 xã, phường, đặc khu đã ký kết biên bản bàn giao, tiếp nhận nguyên trạng các Trạm Y tế. Ảnh: H.Hà.

Theo phương án bàn giao, UBND các xã, phường, đặc khu là cơ quan trực tiếp quản lý TYT trên địa bàn. Đối với Sở Y tế và các Trung tâm Y tế tiếp tục thực hiện chức năng quản lý chuyên môn, hướng dẫn nghiệp vụ, giám sát kỹ thuật; phối hợp với địa phương trong đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, tổ chức thực hiện các chương trình y tế và đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị theo lộ trình của thành phố.

Sở Y tế Hải Phòng đề nghị UBND các xã, phường, đặc khu quan tâm bố trí đầy đủ điều kiện cần thiết để TYT hoạt động ổn định, hiệu quả. Phối hợp chặt chẽ với các Trung tâm Y tế trong công tác chỉ đạo, điều hành chuyên môn, bảo đảm không để gián đoạn các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Riêng đội ngũ viên chức TYT tiếp tục chủ động thích ứng với mô hình quản lý mới, giữ vững y đức và nâng cao chất lượng phục vụ người dân.

Tại hội nghị, Sở Y tế và UBND 114 xã, phường, đặc khu ký kết biên bản bàn giao, tiếp nhận nguyên trạng các TYT. Nội dung bàn giao gồm: biên chế viên chức được giao năm 2025, viên chức, lao động hợp đồng hiện có, cùng toàn bộ tài chính, tài sản, hồ sơ, tài liệu và các nội dung liên quan theo đúng quy định….

(Nguồn: suckhoedoisong)

Exit mobile version