Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Phát huy lợi thế của y dược cổ truyền

Y dược cổ truyền của Việt Nam vừa là di sản tinh thần, vừa là thành tựu y học lâu đời đã được hun đúc qua nhiều thế hệ. Tuy đã có những chính sách cụ thể nhưng công tác phát triển ngành này chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh vốn có.

Công ty cổ phần Traphaco đã xây dựng được vùng trồng nguyên liệu cây Atiso tại Sa Pa (Lào Cai).

Sau 5 năm thực hiện Quyết định số 1893/QĐ-TTg ngày 25/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ, việc triển khai chương trình phát triển y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y học hiện đại đến năm 2030 đã đạt kết quả đáng khích lệ. Theo đó, hệ thống các cơ sở y dược cổ truyền cơ bản được đầu tư nâng cấp; mạng lưới y dược cổ truyền ở tuyến y tế cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển; chất lượng dược liệu, vị thuốc được bảo đảm… Đến nay, cả nước có 66 bệnh viện y dược cổ truyền công lập và 10 bệnh viện y học cổ truyền tư nhân (tăng gần gấp đôi so với năm 2019); tỷ lệ giường bệnh y học cổ truyền đạt 16% trên tổng số giường bệnh. Trong giai đoạn 2020-2025, đã có 30 nhiệm vụ khoa học-công nghệ cấp quốc gia về y dược cổ truyền được phê duyệt và triển khai. Đến nay, tại Việt Nam hiện ghi nhận hơn 5.100 loài thực vật, nấm, hàng trăm loài động vật, khoáng vật và tảo biển… có công dụng làm thuốc; đã có 25 tỉnh xây dựng được quy hoạch vùng trồng cây thuốc, các đơn vị và cơ sở thu mua dược liệu trong nước tăng, cơ sở nuôi trồng dược liệu phát triển mạnh…

Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Y tế, công tác phát triển y dược cổ truyền ở nước ta trong 5 năm qua vẫn chưa thật sự tương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn có. Hầu hết các mục tiêu đề ra trong chương trình phát triển y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y học hiện đại đến năm 2030 đều chưa đạt được; ngay các nhiệm vụ giao Bộ Y tế trong lĩnh vực này đều chưa hoàn thành. Các bệnh viện y dược cổ truyền mặc dù đã đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nhưng chưa thu hút được người bệnh đến khám bệnh, chữa bệnh; khung đào tạo lĩnh vực y dược cổ truyền chưa phù hợp thực tiễn; đầu tư nguồn lực cho y dược cổ truyền chưa tương xứng với vai trò và tầm quan trọng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân…

Thứ trưởng Y tế Đỗ Xuân Tuyên cho rằng, có nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan dẫn đến tình trạng nêu trên. Về các nguyên nhân chủ quan được xác định là do một bộ phận cấp đảng ủy, chính quyền các cấp chưa thật sự quan tâm đúng mức tới công tác phát triển y dược cổ truyền, chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của y dược cổ truyền; chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng và phát triển nền y dược cổ truyền trong chính sách y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đáng chú ý, sự phối hợp và tham gia của các bộ, ban, ngành, đoàn thể chưa đồng bộ, chưa đúng với vị trí và vai trò của các tổ chức này, vẫn xem công tác phát triển y dược cổ truyền là của riêng ngành y tế. Trong khi đó, hành lang pháp lý dành cho y dược cổ truyền thiếu hoàn thiện, vẫn đang áp dụng chung cơ chế chính sách của y học hiện đại; không thật sự khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực khám, chữa bệnh cũng như nuôi trồng, chế biến, sản xuất, kinh doanh dược liệu và thuốc cổ truyền. Đầu tư nguồn lực chưa tương xứng vai trò và tầm quan trọng của y học cổ truyền…, trong khi hệ thống dịch vụ của y học cổ truyền còn thiếu đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến tuyến cơ sở…

Theo PGS, TS Vũ Nam, Giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương, quan điểm kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại trong chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và điều trị, dự phòng các bệnh không lây nhiễm là hết sức đúng đắn và cần thiết. Thế nhưng, hiện một số tiêu chuẩn đánh giá chưa đồng nhất giữa y học cổ truyền và y học hiện đại; nhiều vị thuốc, nam dược còn gặp nhiều khó khăn về vấn đề về nguồn gốc xuất xứ, chất lượng… Thầy thuốc Nhân dân Đậu Xuân Cảnh, Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam chia sẻ, chúng ta hiện chưa có quy định về đào tạo lương y, lương dược. Đây là khoảng trống cần phải lấp đầy, phải được đào tạo thường xuyên. Bên cạnh đó, cần phân loại rõ nhóm thuốc đông y – đặc biệt là thuốc Nam để đưa vào danh mục thuốc thiết yếu được bảo hiểm y tế thanh toán. Từ đó, từng bước nâng cao giá trị cây dược liệu Việt Nam, biến nguồn dược liệu trong nước thành một ngành hàng mang lại sinh kế bền vững cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội địa phương.

Tại hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện chương trình phát triển y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y học hiện đại được tổ chức mới đây, đại diện nhiều địa phương đã kiến nghị những giải pháp cụ thể để thực hiện có hiệu quả các nội dung mà Thủ tướng Chính phủ đã đề ra. Đại diện Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An cho rằng, Bộ Y tế cần sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển y học cổ truyền, tạo hành lang pháp lý thuận lợi, chính sách đủ mạnh, tạo cơ chế cho y học cổ truyền phát triển.

Là địa phương có sự đa dạng về về địa hình, khí hậu thuận lợi, cũng như đã có chính sách chú trọng cho nhiều loại dược liệu phát triển, nhưng thành phố Đà Nẵng, nhất là tại tỉnh Quảng Nam cũ, mới chỉ có sâm Ngọc Linh được nhiều người biết đến. Theo đại diện Sở Y tế Đà Nẵng, cần phải có nhóm giải pháp, từ cơ chế, chính sách, thu hút đầu tư, đến nghiên cứu, chuyển giao và tiếp nhận công nghệ; đào tạo nguồn nhân lực, truyền thông, vận động người dân.

Mới đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long đã yêu cầu ngành y tế và các ngành liên quan cùng địa phương cần quán triệt chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Bộ Y tế nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam, đó là: “Phát triển y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại. Cần nâng cao vai trò của y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe, nhất là trong điều trị bệnh mãn tính và phục hồi chức năng; kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong chẩn đoán và điều trị; đẩy mạnh nghiên cứu về các bài thuốc dân gian, nâng cao tính khoa học của y học cổ truyền; đầu tư vào các trung tâm nghiên cứu đông y, phát triển các phương pháp chữa bệnh hiệu quả bằng thảo dược; hỗ trợ đào tạo bác sĩ y học cổ truyền, mở rộng mô hình kết hợp đông-tây y”.

Phó Thủ tướng cho rằng, cần có sự kết hợp chặt chẽ bốn nhà, ở đó Nhà nước giữ vai trò tạo điều kiện về cơ chế chính sách; các nhà khoa học tham gia vào các khâu nuôi trồng, phát triển để có các sản phẩm tương tự như sản phẩm OCOP của y học cổ truyền Việt Nam.

(Nguồn: nhandan.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Đề xuất hợp nhất 113, 114, 115 thành tổng đài cấp cứu quốc gia

Cấp cứu ngoại viện là một mắt xích quan trọng trong hệ thống y tế, có ý nghĩa quyết định đến tính mạng người bệnh trong “thời gian vàng”. Tuy nhiên, theo Bộ Y tế, hệ thống cấp cứu ngoại viện tại Việt Nam hiện vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế và cần sớm có một chiến lược phát triển đồng bộ.

Một điểm mới đáng chú ý là Bộ Y tế và Bộ Công an thống nhất đề xuất xây dựng tổng đài quốc gia cấp cứu ngoại viện với một đầu số duy nhất, thay thế cho các số khẩn cấp hiện nay như 113, 114, 115.

TS.BS Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), cho biết dự thảo Đề án phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2025-2030 đang được Bộ Y tế gửi xin ý kiến các đơn vị liên quan. Đây là bước đi quan trọng nhằm tạo hành lang pháp lý và cơ chế chính sách đồng bộ để hoàn thiện mạng lưới cấp cứu ngoại viện trong những năm tới.

Trong dự thảo, Bộ Y tế nhấn mạnh cấp cứu ngoại viện có vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ tính mạng và sức khỏe người dân ngay tại cộng đồng hoặc hiện trường tai nạn. Việc can thiệp kịp thời giúp cứu sống bệnh nhân trong giai đoạn “thời gian vàng”, giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng nặng về thần kinh, tim mạch, hô hấp, đồng thời duy trì chức năng sống trước khi bệnh nhân được đưa đến bệnh viện. Cấp cứu ngoại viện cũng góp phần quan trọng trong ứng phó thảm họa, tai nạn hàng loạt như tai nạn giao thông nghiêm trọng, cháy nổ, thiên tai, đồng thời giúp duy trì trật tự, phân loại bệnh nhân tại hiện trường, điều phối hợp lý và giảm tải cho các cơ sở y tế tuyến trên.

Dữ liệu từ nhiều quốc gia cho thấy cấp cứu ngoại viện có tác động trực tiếp đến việc giảm tử vong và hạn chế mức độ nghiêm trọng của chấn thương. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ tử vong và chấn thương nặng giảm 20 – 40% nhờ hệ thống này; tại Đức, tỷ lệ tử vong do chấn thương giảm trung bình 35% nhờ can thiệp y khoa trước viện. Một số quốc gia khác như Anh, Kenya, Nigeria hay Tanzania cũng ghi nhận mức giảm đáng kể về tử vong do tai nạn giao thông sau khi triển khai hệ thống cấp cứu ngoại viện đồng bộ.

Cần hành lang pháp lý, nguồn lực và công nghệ để đồng bộ hóa.

Tại Việt Nam, mạng lưới cấp cứu ngoại viện bước đầu đã được hình thành. Ở một số địa phương đông dân cư, các trung tâm cấp cứu độc lập ngoài bệnh viện, thường được gọi là Trung tâm Cấp cứu 115, đã được thành lập. Một số tỉnh, thành khác phân công bệnh viện đa khoa tỉnh chịu trách nhiệm điều phối hoặc có sự tham gia của các đơn vị tư nhân. Tuy nhiên, hệ thống này vẫn bộc lộ nhiều bất cập. Việt Nam hiện chưa có một khung pháp lý hoàn chỉnh và toàn diện dành riêng cho cấp cứu ngoại viện, chưa ban hành một chiến lược quốc gia hay kế hoạch dài hạn phát triển hệ thống này. Bảo hiểm y tế chưa chi trả cho dịch vụ cấp cứu ngoại viện khiến việc vận hành và mở rộng gặp nhiều khó khăn.

Việc điều phối cũng chưa có sự thống nhất ở tầm quốc gia, còn rời rạc, phân mảnh theo từng ngành như y tế, công an, phòng cháy chữa cháy, cứu hộ cứu nạn, hoặc theo từng địa phương. Tổng đài 115 hiện chưa có khả năng phân loại tình trạng bệnh nhân ngay từ khi tiếp nhận cuộc gọi, thông tin người gọi chưa được xử lý và ghi nhận đầy đủ. Tỷ lệ bao phủ dịch vụ còn thấp, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, người dân hầu như không được tiếp cận dịch vụ cấp cứu ngoại viện đúng chuẩn. Các trung tâm 115 mới chỉ đáp ứng được khoảng 10-20% nhu cầu thực tế, trong khi 80-90% trường hợp còn lại do người dân tự đưa đến bệnh viện hoặc nhờ vào các đội cấp cứu tình nguyện tự phát.

Nguồn nhân lực cũng là một thách thức lớn. Hiện khoảng 80% nhân viên tham gia cấp cứu ngoại viện chưa được đào tạo chuẩn hóa và chưa có hệ thống chứng chỉ riêng. Việc đào tạo chưa được tổ chức thường xuyên, liên tục, trong khi trang thiết bị cấp cứu còn thiếu và chưa đạt yêu cầu. Chỉ khoảng 60% số huyện trước khi sáp nhập có xe cứu thương, nhưng trong số đó, tới 70% xe chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Tỷ lệ xe cấp cứu/100.000 dân của Việt Nam hiện mới đạt 0,2, thấp hơn nhiều so với Singapore (0,8), Nhật Bản và Đài Loan (2-3), hay Hàn Quốc (2). Hệ thống thông tin liên lạc phục vụ cấp cứu còn lạc hậu, không đồng bộ, trong khi thời gian phản ứng trung bình vẫn cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế là dưới 8 phút tại đô thị và dưới 15 phút ở nông thôn.

Trước thực trạng đó, Bộ Y tế đã xây dựng Đề án phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2025-2030 với nhiều mục tiêu cụ thể. Đến năm 2030, 100% tỉnh, thành phải kiện toàn hệ thống cấp cứu ngoại viện, toàn bộ phương tiện đạt chuẩn, ít nhất 2 triệu người dân được đào tạo sơ cấp cứu.

Đề xuất hợp nhất 113, 114, 115 thành tổng đài cấp cứu quốc gia

Một điểm mới đáng chú ý là Bộ Y tế và Bộ Công an đề xuất xây dựng tổng đài quốc gia cấp cứu ngoại viện với một đầu số duy nhất, thay thế cho các số khẩn cấp hiện nay như 113, 114, 115. Tổng đài sẽ hoạt động 24/7, kết nối trực tuyến với lực lượng y tế, công an, phòng cháy chữa cháy, cứu hộ cứu nạn. Công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn sẽ được ứng dụng để định vị, phân loại cuộc gọi theo mức độ khẩn cấp, lưu trữ và phân tích dữ liệu phục vụ dự báo nhu cầu.

Về nhân lực, đề án đặt mục tiêu thành lập các trung tâm đào tạo cấp cứu ngoại viện vùng, mở mã ngành đào tạo cấp cứu viên ngoại viện, chuẩn hóa chương trình đào tạo ở nhiều bậc học từ cao đẳng, đại học đến sau đại học, đồng thời triển khai các khóa đào tạo ngắn hạn, liên tục và đào tạo cộng đồng. Bộ Y tế cũng định hướng mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, trao đổi nhân lực, thiết lập cơ chế cấp chứng chỉ hành nghề cấp cứu quốc gia.

Về hạ tầng và phương tiện, Bộ Y tế đề xuất đầu tư xây dựng các trung tâm điều phối cấp tỉnh và trạm cấp cứu vệ tinh cơ sở, đồng thời phát triển các mô hình cấp cứu đặc thù như cấp cứu đường sông, cấp cứu ven biển, trên biển hay vùng núi cao. Các phương tiện cũng sẽ được đa dạng hóa với nhiều chủng loại phù hợp, từ xe cứu thương thông thường, mô tô cấp cứu, xe địa hình, xuồng đến tàu cao tốc. Công nghệ thông tin và hệ thống Telemedicine sẽ được tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.

Đề án cũng nhấn mạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý, ban hành các quy định về chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm, quy trình chuyên môn, cơ chế phối hợp liên ngành và xử lý vi phạm. Cơ chế tài chính cho cấp cứu ngoại viện sẽ được xây dựng trên cơ sở kết hợp ngân sách nhà nước, bảo hiểm y tế và các nguồn huy động hợp pháp khác, đồng thời nghiên cứu áp dụng mô hình chi trả dịch vụ phù hợp.

Theo lộ trình, giai đoạn 2025-2027 sẽ thí điểm tại 6 địa phương gồm Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Khánh Hòa và An Giang. Từ năm 2027-2030, đề án sẽ được mở rộng triển khai trên phạm vi toàn quốc, hướng tới mục tiêu xây dựng một hệ thống cấp cứu ngoại viện hiện đại, đồng bộ, sẵn sàng ứng phó mọi tình huống và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân.

(Nguồn: tienphong.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Từ 01/01/2026, tổ chức, cá nhân sản xuất, in ấn, nhập khẩu và sử dụng nhãn theo quy định tại Thông tư số 29/2023/TT-BYT

Sáng 08/12/2025, tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến phổ biến, hướng dẫn triển khai thực hiện Thông tư số 29/2023/TT-BYT quy định về nội dung, cách ghi thành phần dinh dưỡng và giá trị dinh dưỡng trên nhãn thực phẩm và các nội dung liên quan đến dinh dưỡng.

Hội nghị phổ biến, hướng dẫn triển khai thực hiện Thông tư số 29/2023/TT-BYT

Đông đảo tổ chức, Hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp chuyên sản xuất, kinh doanh lĩnh vực thực phẩm, nước giải khát, sữa đưa ra những ý kiến đề xuất, băn khoăn quanh nội dung ghi các thành phần dinh dưỡng bao gồm: Năng lượng (kcal); Chất đạm (g); Carbohydrat (g); Chất béo (g); Natri (mg). Hoặc cách ghi thêm đường tổng số với sản phẩm thực phẩm là nước giải khát, sữa chế biến cho thêm đường và thực phẩm cho thêm đường khác. Nhiều câu hỏi đề xuất Ban tổ chức giải đáp về giá trị khoảng dung sai của các thành phần dinh dưỡng; thuật ngữ “thời gian sử dụng” hay “hạn sử dụng”; “chất tạo màu” hay “phẩm màu”…

Đại diện Vụ Pháp Chế, Cục An toàn thực phẩm và các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế có liên quan giải đáp thông tin

Đại diện Vụ Pháp Chế, Cục An toàn thực phẩm và các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế có liên quan đã trực tiếp giải đáp những câu hỏi, đề xuất của đại biểu, có dẫn giải về các văn bản quy phạm pháp luật dưới Luật để các doanh nghiệp áp dụng trong từng hoàn cảnh và với nhóm sản phẩm cụ thể.

Đông đảo đại biểu tham gia hội nghị trực tiếp và trực tuyến

Trước mắt, các doanh nghiệp cần chú ý những thông tin: Chậm nhất đến ngày 31/12/2025, các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu thực phẩm để lưu thông tại Việt Nam thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư 29/2023/TT-BYT phải thực hiện việc ghi thành phần dinh dưỡng, giá trị dinh dưỡng theo quy định tại Thông tư này. Từ ngày 01/01/2026, các tổ chức, cá nhân không được sản xuất, in ấn, nhập khẩu và sử dụng nhãn không đúng theo quy định tại Thông tư.

Thực phẩm có nhãn chưa ghi thành phần dinh dưỡng, giá trị dinh dưỡng theo quy định lại Thông tư 29/2023/TT-BYT đã được sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, lưu thông tại Việt Nam trước ngày 01/01/2026 thì được tiếp tục lưu thông, sử dụng cho đến hết hạn sử dụng ghi trên nhãn thực phẩm đó. Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật được dẫn chiếu để áp dụng tại Thông tư được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì áp dụng theo văn bản quy phạm pháp luật mới.

Việc tuân thủ chặt chẽ, cung cấp thông tin chính xác về thành phần dinh dưỡng của sản phẩm theo Thông tư 29/2023/TT-BYT là rất quan trọng, để người tiêu dùng có thể lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của mình./. 

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Quốc hội sắp thông qua Luật Phòng bệnh, Luật Dân số và 2 nghị quyết quan trọng về chăm sóc sức khỏe nhân dân

Trong tuần làm việc cuối cùng của Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Quốc hội sẽ thông qua nhiều dự án luật, dự thảo nghị quyết và họp phiên bế mạc vào chiều 11/12/2025.

Theo chương trình, ngày 8/12, Quốc hội sẽ thảo luận về dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù khai thác các dự án lớn tại Thủ đô; dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Hồ Chí Minh, TP Đà Nẵng…

Bên cạnh đó, Quốc hội thảo luận tại Tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng; thảo luận tại hội trường về một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt áp dụng cho dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc – Nam; chủ trương đầu tư Dự án xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình…

Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV sẽ họp phiên bế mạc vào chiều 11/12/2025.

Ngày 9/12/2025, Quốc hội dành thời gian thảo luận tại hội trường về: Các báo cáo công tác của Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao; công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; công tác thi hành án; công tác phòng, chống tham nhũng năm 2025; kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV; kết quả tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 2025.

Bên cạnh đó, Quốc hội cũng sẽ thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng; việc điều chỉnh giảm dự toán chi sự nghiệp kinh tế năm 2025 đã giao cho Bộ Xây dựng để bổ sung có mục tiêu cho UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm khắc phục hậu quả thiên tai trong lĩnh vực đường bộ.

Ngày 10/12/2025, Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua các dự án luật, bao gồm: Luật Quản lý thuế (sửa đổi); Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi); Luật Quy hoạch (sửa đổi); Luật Dân số; Luật Phòng bệnh; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự; Luật Thương mại điện tử; Luật Báo chí (sửa đổi); Luật Viên chức (sửa đổi); Luật Hàng không dân dụng Việt Nam (sửa đổi)…

Ngày 11/12/2025, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giá; Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi); Luật Kinh doanh bảo hiểm; Luật Đầu tư (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn; Nghị quyết về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050; Nghị quyết của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai…

Đặc biệt, Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026–2035; Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Nghị quyết về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026–2035… cùng với nhiều luật, nghị quyết khác.

Dự kiến, phiên bế mạc Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV sẽ diễn ra lúc 16 giờ 15 phút chiều 11/12/2025 với các nội dung: Biểu quyết thông qua Nghị quyết về tổng kết công tác nhiệm kỳ 2021–2026 của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, TAND tối cao, VKSND tối cao, Kiểm toán Nhà nước; biểu quyết thông qua Nghị quyết Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn sẽ phát biểu bế mạc kỳ họp.

(Nguồn: suckhoedoisong.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Tăng cường huy động nguồn lực để thực hiện chính sách miễn viện phí

Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra mục tiêu “Đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình”. Hiện, Bộ Y tế đang xây dựng đề án để hiện thực mục tiêu đó, trong đó huy động đủ nguồn lực đóng vai trò quyết định.

Thực hiện chính sách miễn viện phí sẽ giúp người dân, nhất là các đối tượng ưu tiên có điều kiện được chăm sóc sức khỏe tốt hơn.

Theo báo cáo của Bộ Y tế, Việt Nam được quốc tế đánh giá cao trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc về sức khỏe; chỉ số bao phủ dịch vụ y tế thiết yếu của Việt Nam cao hơn mức trung bình của các nước trong khu vực; nhiều chỉ số về sức khỏe người dân vượt trội so với nhiều quốc gia có cùng mức phát triển. Tuy nhiên, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân còn những hạn chế, bất cập và khó khăn, thách thức.

Nhằm làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe người dân trong kỷ nguyên mới, ngày 9/9/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Nghị quyết hướng đến mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, ý thức bảo vệ sức khỏe và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng.

Đặc biệt, Nghị quyết đã đặt ra mục tiêu “Đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình”. Ngày 15/9/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 282/NQ-CP, giao Bộ Y tế chủ trì xây dựng “Đề án từng bước thực hiện chính sách miễn viện phí theo lộ trình, đối tượng ưu tiên, phù hợp với mức đóng bảo hiểm y tế tăng theo quy định”.

Dù tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế của Việt Nam đã đạt 94,29% số dân; mạng lưới khám, chữa bệnh rộng khắp đến cấp xã, năng lực chuyên môn của cấp chuyên sâu, cấp cơ bản, cấp ban đầu đều được nâng lên đáng kể; danh mục thuốc, thiết bị y tế thuộc phạm vi, quyền lợi của người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế ngày càng mở rộng… nhưng nhiều thách thức phải giải quyết. Đó là chi tiêu tiền túi của người dân vẫn chiếm hơn 40% tổng chi phí khám chữa bệnh, ở mức cao theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới; nguy cơ nghèo hóa do bệnh tật vẫn hiện hữu, nhất là đối với người nghèo, nhóm yếu thế, người mắc bệnh mạn tính hoặc điều trị dài ngày. Áp lực tài chính lên hộ gia đình càng lớn nếu không có giải pháp mạnh mẽ từ chính sách công.

Chính vì vậy, chủ trương từng bước tiến tới miễn viện phí là yêu cầu khách quan, cấp thiết, vừa thể hiện bản chất tốt đẹp của hệ thống chính sách xã hội Việt Nam, vừa bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Chính sách miễn viện phí không chỉ là một giải pháp tài chính y tế, mà còn mang ý nghĩa xã hội nhân văn, giảm gánh nặng chi phí cho người dân, nhất là người nghèo và các nhóm dễ tổn thương; tăng công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế, bảo đảm “không ai bị bỏ lại phía sau”; thúc đẩy hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng bền vững, giảm nguy cơ người dân trì hoãn hoặc bỏ điều trị do chi phí…

Theo Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà, từ thực tế tại Việt Nam, chính sách miễn viện phí vẫn phải dựa trên nền tảng trụ cột là bảo hiểm y tế, có sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, đồng thời thực hiện có lộ trình. Ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm y tế sẽ chi trả các chi phí y tế cơ bản, thiết yếu, giảm tối đa gánh nặng tài chính cho người dân – trước hết là đối với đối tượng chính sách xã hội, người yếu thế, người có thu nhập thấp và một số đối tượng cần ưu tiên khác. Phần dịch vụ y tế theo yêu cầu, vượt mức cơ bản thì người bệnh vẫn phải chi trả một phần để nâng cao ý thức sử dụng dịch vụ hợp lý, tiết kiệm chi phí.

Do vậy, chính sách miễn viện phí vì thế phải gắn chặt với bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân, mọi người đều tham gia để chia sẻ rủi ro, người có điều kiện lo cho người nghèo, người khỏe đỡ người yếu; cùng với hỗ trợ của ngân sách Nhà nước và nguồn huy động xã hội hóa để người bệnh không phải trả thêm chi phí khi không may mắc bệnh.

Đồng thời có cơ hội được thụ hưởng những dịch vụ y tế chất lượng cao

Thạc sĩ Vũ Thị Hải Yến, Phó Vụ trưởng Tài chính-Kinh tế ngành (Bộ Tài chính), Chính sách miễn viện phí toàn dân là một bước tiến lớn về nhân văn và công bằng xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người” và khẳng định bản chất tốt đẹp của Nhà nước Việt Nam – Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào ngân sách Nhà nước, chính sách này sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì lâu dài và bảo đảm chất lượng dịch vụ. Do đó, việc đa dạng hóa các nguồn lực là điều kiện tiên quyết để bảo đảm tính bền vững và công bằng trong quá trình thực hiện chính sách.

Các giải pháp huy động nguồn lực thực hiện chính sách miễn viện phí toàn dân đó là: Tăng cường huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, ưu tiên chi ngân sách cho y tế, coi đây là khoản đầu tư cho con người; cơ cấu lại chi tiêu công, cắt giảm những khoản chi chưa cần thiết, tăng chi cho lĩnh vực an sinh xã hội; phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương. Bên cạnh đó, phát huy hiệu quả của quỹ bảo hiểm y tế, mở rộng diện bao phủ bảo hiểm y tế hướng tới 100% số dân số, đây là kênh chủ lực để “miễn viện phí” trên thực tế. Kết hợp ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm y tế trong việc chi trả viện phí, bảo đảm nguồn tài chính lâu dài. Thí điểm, đa dạng hóa các gói bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế bổ sung theo nhu cầu của người dân, liên kết giữa bảo hiểm y tế với bảo hiểm sức khỏe do các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp.

Đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác công-tư cũng cần xác định là một hướng ưu tiên quan trọng kết hợp với đa dạng các loại hình bảo hiểm sức khỏe. Tiếp tục tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế trong việc tiếp cận các nguồn vốn, viện trợ và hỗ trợ kỹ thuật; tham gia các chương trình y tế toàn cầu, học hỏi kinh nghiệm các nước phát triển trong việc quản lý quỹ y tế công và vận hành mô hình miễn viện phí… Ứng dụng công nghệ số trong quản lý tài chính y tế, theo dõi chi phí khám chữa bệnh, giám sát chi tiêu và ngăn chặn gian lận; công khai thông tin tài chính, tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp khi tham gia đóng góp…

(Nguồn: nhandan.vn)

 

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Không đưa thuốc lá mới vào danh mục cấm sẽ trả giá bằng sức khỏe và tương lai của cả một thế hệ

Chuyên gia y tế và đại biểu Quốc hội đều cho rằng nếu không cấm triệt để TLĐT, TLNN, hệ thống pháp luật sẽ thiếu đồng bộ, cơ quan chức năng sẽ gặp khó khi xử lý, còn xã hội phải trả giá bằng sức khỏe và tương lai của cả một thế hệ…

Tại Việt Nam, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 173 về cấm hoàn toàn sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển và sử dụng thuốc lá điện tử (TLĐT) và thuốc lá nung nóng (TLNN) trên toàn quốc, chính thức có hiệu lực từ đầu năm nay. Tuần này, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua Luật Đầu tư (sửa đổi). 

Tuy nhiên, dự thảo không đưa TLĐT và TLNN vào danh mục cấm. Khoảng hở pháp lý này bị cảnh báo sẽ tạo đà cho sản phẩm gây nghiện tấn công giới trẻ.

Trong những ngày gần đây, có rất nhiều ý kiến của nhiều Đại biểu Quốc hội cũng như ý kiến của các tổ chức quốc tế đề nghị là cần bổ sung TLĐT và TLNN vào danh mục ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh trong dự thảo luật đầu tư sửa đổi để bảo vệ sức khỏe của cộng đồng và phòng chống tội phạm ma túy.

Việt Nam giống như các nước ASEAN khác, đang phải đối mặt với vấn đề gia tăng sử dụng các loại TLĐT, TLNN đặc biệt trong giới trẻ…

Việc không cấm triệt để dẫn tới nhiều nguy cơ…

ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng nhấn mạnh nếu không cấm triệt để, hệ thống pháp luật sẽ thiếu đồng bộ, cơ quan chức năng sẽ gặp khó khi xử lý, còn xã hội phải trả giá bằng sức khỏe và tương lai của cả một thế hệ.

Thứ nhất, hệ thống luật pháp trở nên “vênh nhau”, mở ra khoảng trống khiến lực lượng chức năng không thể xử lý tận gốc. Không thể có chuyện cho sản xuất nhưng lại cấm sử dụng.

Thứ hai, chính sự thiếu nhất quán này sẽ gây nhiễu thông điệp tuyên truyền. Giới trẻ – nhóm dễ bị tổn thương nhất – sẽ đặt câu hỏi: Nếu TLĐT, TLNN độc hại như cảnh báo, vậy tại sao nhà nước vẫn cho sản xuất?

“Chỉ cần sự mâu thuẫn nhỏ như vậy cũng đủ phá hỏng nỗ lực phòng chống tác hại thuốc lá mà chúng ta đang rất khó khăn để thực hiện”, ĐBQH Việt Nga nói và cho biết việc cho phép sản xuất dẫn tới nguy cơ thẩm lậu ngược vào thị trường trong nước. 

“Chúng ta đã có quá nhiều bài học khi hàng cấm xuất khẩu bằng cách nào đó quay trở lại nội địa. Với TLĐT và TLNN – thứ đang bị biến tướng thành công cụ ngụy trang để đưa chất cấm vào trường học – rủi ro này còn lớn gấp bội” – ĐBQH Việt Nga bày tỏ.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho biết, trong các cuộc tiếp xúc cử tri bà thường xuyên nhận được những đề nghị rất khẩn thiết của các nhà giáo cũng như của các bậc phụ huynh, đó là làm như thế nào luật cấm tuyệt đối TLĐT. Bởi các sản phẩm này chủ yếu nhắm vào giới trẻ và số lượng độ tuổi của người sử dụng ngày càng trẻ hóa. Cho nên đến bây giờ thậm chí học sinh trung học cơ sở cũng đã sử dụng TLĐT, TLNN.

“Cho nên tôi nghĩ rằng an ninh học đường bị đe dọa nếu như mà chúng ta không cấm tuyệt đối thuốc lá điện tử thì sẽ đặt trước cái nguy cơ rất lớn. Bên cạnh đó, khi TLĐT và TLNN không được đưa vào danh mục cấm các cơ quan chức năng rất khó để xử lý và chỉ có thể xử lý bằng cách là hàng không rõ nguồn gốc. Chính vì vậy cần phải hoàn thiện về mặt thể chế sẽ thuận lợi hơn cho các cơ quan chức năng để thực hiện nhiệm vụ của mình”- ĐBQH Việt Nga nhấn mạnh.

Theo bà Nga, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 173 trong đó nói rất rõ: cấm việc sản xuất, buôn bán, tàng trữ, lưu hành, sử dụng TLĐT và TLNN còn gọi là thuốc lá thế hệ mới. Bởi vậy, chúng ta cần phải sửa đổi một loạt các luật có liên quan trong đó có Luật Đầu tư để đưa danh mục TLĐT và TLNN vào cái danh mục hàng hóa mà chúng ta cấm sản xuất, buôn bán và lưu hành. Nếu chúng ta không sửa đổi kịp thời sẽ dẫn đến việc thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật, rất khó thực hiện các cái giải pháp khác nhau.

ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng phát biểu.

Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Đồng hành và theo dõi công cuộc phòng chống tác hại thuốc lá của Việt Nam nhiều năm qua, TS Ulysses Dorotheo, Giám đốc Điều hành của SEATCA, Tổ chức Liên minh Phòng chống Thuốc lá Đông Nam Á cho biết, Việt Nam giống như các nước ASEAN khác, đang phải đối mặt với vấn đề gia tăng sử dụng các loại TLĐT, TLNN đặc biệt trong giới trẻ.

“Sau khi Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết cấm TLĐT, TLNN và tiếp nối Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân, có thể thấy Chính phủ Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ và thống nhất trong việc ngăn chặn các sản phẩm có hại này.

Tuy nhiên, chúng tôi quan ngại rằng dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) hiện nay mới chỉ đưa thuốc lá truyền thống vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, mà chưa quy định cấm hoàn toàn đối với TLĐT và TLNN”- TS Ulysses Dorotheo nhấn mạnh.

Cũng theo TS Ulysses Dorotheo, sự thiếu sót này tiềm ẩn rủi ro nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ – thế hệ tương lai của Việt Nam. Do đó, việc đưa các sản phẩm này vào Danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh là hết sức cần thiết để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Về bản chất, đây không chỉ là một “lệnh cấm” – mà là cam kết đối với phát triển bền vững, thể hiện quan điểm: sức khỏe là tài sản quý giá nhất của quốc gia, và con người là trung tâm của mọi chính sách. Cách tiếp cận này không chỉ giúp Việt Nam hòa nhịp với xu hướng chính sách y tế công cộng toàn cầu, mà còn khẳng định vai trò của Việt Nam như một quốc gia tiên phong, có trách nhiệm trong bảo vệ sức khỏe cộng đồng – điều đã và đang được WHO cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Cùng quan điểm, TS Angela Pratt, Trưởng Đại diện WHO tại Việt Nam cho biết: Một năm trước, Quốc hội đã đưa ra một quyết định mang tính lịch sử đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là đối với sức khỏe của thanh thiếu niên, khi quyết định cấm các sản phẩm TLĐT và TLNN. Quyết định này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Dù việc triển khai và thực thi lệnh cấm vẫn đang ở giai đoạn đầu, nhưng nhiều tác động tích cực đã xuất hiện như ít thanh thiếu niên sử dụng các sản phẩm này hơn; Số trường hợp phải nhập viện do các sản phẩm này đã giảm đi; Việc quảng bá sản phẩm hướng tới đối tượng người tiêu dùng là thanh thiếu niên đã giảm mạnh. 

Tuy nhiên, theo TS Angela Pratt, chúng ta vẫn còn rất nhiều việc cần phải làm. Để bảo vệ thế hệ trẻ Việt Nam, lệnh cấm đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển và sử dụng các sản phẩm TLĐT, TLNN cần được đưa vào trong tất cả các văn bản pháp luật có liên quan.

(Nguồn: suckhoedoisong.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Dự báo tình hình ô nhiễm không khí ở Hà Nội tuần tới

 Theo Hệ thống dự báo chất lượng không khí và cảnh báo sớm cho Hà Nội, trong khoảng hai ngày đầu tuần (8-9/12), chất lượng không khí Hà Nội có thể được cải thiện với chỉ số chất lượng không khí ở ngưỡng trung bình.

Từ ngày 27/11 đến hôm nay (7/12), Hà Nội thường xuyên hứng chịu ô nhiễm không khí nghiêm trọng do điều kiện thời tiết bất lợi khiến chất ô nhiễm không khuếch tán được.

Vào những ngày rét khô, xảy ra hiện tượng nghịch nhiệt, ô nhiễm thường xuyên lên ngưỡng xấu và rất xấu trong khoảng thời gian từ đêm và sáng, về trưa và chiều chất lượng không khí được cải thiện.

Tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội tuần tới được cải thiện. Ảnh: Tuấn Anh

Tuy nhiên, những ngày qua, ô nhiễm không khí kéo dài cả ngày lẫn đêm, phổ biến ở ngưỡng xấu khiến thời gian tác động của ô nhiễm không khí đến sức khoẻ cộng đồng gia tăng. Riêng hôm nay (7/12), ô nhiễm kéo dài ở ngày lẫn đêm tại Hà Nội, gây ra tình trạng mù mịt bao phủ.

Theo Hệ thống dự báo chất lượng không khí và cảnh báo sớm cho Hà Nội (tại địa chỉ https://geoi.com.vn/hanoiair), trong khoảng hai ngày đầu tuần (8-9/12), chất lượng không khí Hà Nội có thể được cải thiện với chỉ số chất lượng không khí ở ngưỡng trung bình.

Tuy nhiên, trong khoảng 3 ngày giữa tuần (10-12/12), Hà Nội có thể tái diễn tình trạng ô nhiễm không khí ở ngưỡng xấu, nhất là vào các khung giờ cao điểm. Vào cuối tuần, một đợt không khí lạnh mạnh có khả năng tràn xuống miền Bắc gây mưa rào và dông rải rác, giúp cải thiện chất lượng không khí Thủ đô.

Hà Nội và các tỉnh lân cận như Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình đang trải qua “mùa ô nhiễm”, thường bắt đầu từ tháng 10 năm trước đến khoảng tháng 3 năm sau. Đây là khoảng thời gian điều kiện thời tiết không thuận lợi dẫn đến việc các chất ô nhiễm, chủ yếu là bụi mịn PM 2,5, không khuếch tán được, tập trung khu vực gần mặt đất gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng và kéo dài.

Theo Cục Môi trường, có bốn nhóm nguyên nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội và các địa phương lân cận gồm hoạt động giao thông, xây dựng, hoạt động sản xuất công nghiệp – làng nghề tái chế và các hoạt động dân sinh (đốt rác, đốt rơm rạ).

Trước tình hình ô nhiễm không khí kéo dài ở các đô thị, ngày 19/11/2025, Thủ tướng Chính phủ đã Phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Kế hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030, nồng độ bụi PM2,5 trung bình năm vào năm 2030 trung bình năm của Hà Nội đạt dưới 40µg/m³ (giảm 20% so với mức trung bình năm 2024) tại các điểm đo của các trạm quan trắc chất lượng môi trường không khí quốc gia.

Tỷ lệ số ngày trong năm có chỉ số chất lượng môi trường không khí (VN_AQI) ở mức tốt và trung bình đạt tối thiểu 80%.

Đối với các tỉnh xung quanh thành phố Hà Nội (gồm Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng, Ninh Bình), nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm vào năm 2030 giảm tối thiểu 10% so với mức trung bình năm 2024.

Kế hoạch cũng đặt ra 9 nhóm giải pháp tổng thể để cải thiện chất lượng không khí đô thị, trong đó nhấn mạnh đến việc kiểm soát các nguồn phát thải lớn từ giao thông, xây dựng, hoạt động sản xuất công nghiệp – làng nghề tái chế và các nguồn phát thải từ đốt rơm rạ, đốt rác.

(Nguồn: suckhoedoisong.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Tập trung vào nguồn gốc và chất lượng để nâng tầm thương hiệu “Dược liệu Việt Nam”

Phát triển dược liệu bền vững góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc, đồng thời mở ra hướng đi mới cho kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, gắn với bảo tồn thiên nhiên và tri thức bản địa.

Theo thống kê của ngành Y tế, nhu cầu dược liệu hiện ở mức 80.000 – 100.000 tấn mỗi năm, trong đó gần 70% phải nhập khẩu. Việt Nam có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú với hơn 5.000 loài cây thuốc, nhiều loài có thể khai thác trong tự nhiên và trồng để chủ động nguồn nguyên liệu.

Việc phải nhập khẩu nhiều xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Dù có tiềm năng lớn, Việt Nam vẫn chưa chủ động được nguồn nguyên liệu trong nước. Thị trường ngày càng mở rộng nhưng chưa hình thành nhiều vùng nguyên liệu lớn, ổn định và bền vững.

Từ năm 2013, Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu Việt Nam đến năm 2030 đã được ban hành. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển lĩnh vực này. Công tác phát triển dược liệu từng bước được chú trọng, tạo ra nhiều thành tựu đáng ghi nhận.

Tuy nhiên, để giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, cần đẩy mạnh xây dựng các vùng khai thác bền vững, vùng trồng dược liệu tập trung, áp dụng kỹ thuật theo tiêu chuẩn GACP hoặc hữu cơ nhằm bảo đảm chất lượng. Đồng thời cần tăng cường nghiên cứu giống, ứng dụng công nghệ sinh học để nâng cao chất lượng và chủ động nguồn giống.

Việc ứng dụng khoa học – công nghệ trong canh tác, xây dựng vùng trồng đặc trưng theo vùng miền sẽ tạo lợi thế cạnh tranh. Cần phát triển các chuỗi liên kết từ nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp – nhà khoa học nhằm bảo đảm đầu ra ổn định và gia tăng giá trị.

Song song đó, các chính sách hỗ trợ vốn, kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu sẽ tạo động lực cho sản xuất dược liệu trong nước. Khi thực hiện đồng bộ, Việt Nam có thể nâng tỷ lệ dược liệu sản xuất nội địa, giảm nhập khẩu, khai thác hiệu quả tiềm năng tài nguyên, bảo tồn nguồn gen quý và gia tăng giá trị kinh tế cho ngành.

Việt Nam có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú với hơn 5.000 loài cây thuốc.

Có khoảng 60 – 70 vùng trồng dược liệu đạt chuẩn GACP – WHO

PGS. TS Phạm Thanh Huyền – Giám đốc Trung tâm Tài nguyên Dược liệu, Viện Dược liệu – cho biết: Hiện cả nước có khoảng 60 – 70 vùng trồng dược liệu tập trung đạt chứng nhận GACP – WHO (Good Agricultural and Collection Practices). Các vùng này phân bố chủ yếu ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ, lựa chọn dựa trên đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu, nguồn nước và tiềm năng phát triển dược liệu sạch.

Quy trình giám sát và duy trì tiêu chuẩn GACP – WHO gồm nhiều bước: lựa chọn giống, đất trồng, kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh, thu hái đúng giai đoạn, đến bảo quản và sơ chế.

Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền (Bộ Y tế) là đơn vị quản lý và cấp chứng nhận GACP. Viện Dược liệu tham gia công tác đánh giá chuyên môn. Bộ Y tế thường xuyên kiểm tra, giám sát theo quy định hiện hành.

Việc kiểm soát chặt chẽ giúp các vùng nguyên liệu duy trì chất lượng ổn định, an toàn, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và góp phần xây dựng uy tín cho dược liệu Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Lễ phát động trồng cây dược liệu dưới tán rừng năm 2025 tại xã Tam Thái tỉnh Nghệ An.

Nâng tầm thương hiệu “Dược liệu Việt Nam”

Theo PGS.TS Phạm Thanh Huyền, để nâng cao giá trị thương hiệu “Dược liệu Việt Nam” trên thị trường khu vực và quốc tế, cần tập trung vào nguồn gốc và chất lượng, ưu tiên khai thác và phát triển các nguồn gen bản địa có giá trị y tế và kinh tế cao. Dược liệu phải được khai thác bền vững, trồng và thu hái theo chuẩn GACP – WHO để bảo đảm an toàn, hiệu quả, tạo niềm tin cho người tiêu dùng và đối tác.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh chế biến sâu để tạo ra các sản phẩm giá trị gia tăng như tinh dầu, cao dược liệu, trà thảo mộc, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thuốc từ dược liệu… phù hợp nhu cầu thị trường quốc tế. Truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng cũng là yếu tố quan trọng nhằm chứng minh xuất xứ và tăng sức cạnh tranh.

Xây dựng câu chuyện thương hiệu gắn với văn hóa bản địa, truyền thống y học cổ truyền Việt Nam sẽ tạo sự khác biệt cho dược liệu nội địa so với hàng nhập khẩu. Đồng thời cần đẩy mạnh truyền thông, xúc tiến thương mại, tham gia hội chợ quốc tế và tăng cường liên kết giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp – nhà khoa học để phát triển bền vững, nâng tầm thương hiệu “Dược liệu Việt Nam” trên thị trường khu vực và thế giới.

(Nguồn: suckhoedoisong.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Giải thưởng Chính VinFuture năm 2025 vinh danh những nhà khoa học khám phá và phát triển vaccine HPV

 

Tối 5/12, hàng trăm bộ óc kiệt xuất khắp thế giới đã có mặt tại Lễ trao Giải thưởng Khoa học Công nghệ thường niên toàn cầu VinFuture lần thứ 5 diễn ra tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội) để chào đón khoảnh khắc vinh danh các chủ nhân danh giá của giải thưởng.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự, phát biểu chỉ đạo và trao Giải thưởng Chính cho các nhà khoa học đoạt giải.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn trao Giải thưởng chính VinFuture cho các nhà khoa học. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Giải thưởng Chính VinFuture 2025 trị giá 3 triệu USD đã được trao cho Tiến sĩ Douglas R. Lowy, Tiến sĩ John T. Schiller, Tiến sĩ Aimée R. Kreimer và Giáo sư Maura L. Gillison (Hoa Kỳ) vì những khám phá và phát triển vaccine HPV nhằm phòng ngừa các khối u do virus papilloma ở người (HPV) gây ra.

Các nghiên cứu nền tảng về protein capsid của virus papilloma ở người do Tiến sĩ Lowy và Tiến sĩ Schiller thực hiện đã dẫn đến sự phát triển của các loại vaccine HPV hiệu quả cao, ngăn ngừa hàng triệu ca ung thư cổ tử cung, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển. Tiếp đó, phác đồ tiêm chủng liều đơn của Tiến sĩ Kreimer – được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị áp dụng – đã mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận vaccine tới người dân.

Song song đó, các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm dịch tễ học của Giáo sư Gillison và Tiến sĩ Kreimer cũng xác định mối liên hệ giữa HPV và ung thư vùng đầu – cổ, một mối đe dọa ung thư đáng chú ý có thể giảm thiểu nhờ tiêm vaccine HPV. Thành tựu của họ đã, đang và sẽ tiếp tục cứu sống hàng triệu người trong nhiều thập kỷ tới.

Chia sẻ tại sự kiện khi nhận được Giải thưởng danh giá, Tiến sĩ Douglas R. Lowy cho biết: “Vaccine mà chúng tôi đã làm được có thể cứu hàng vạn mạng người mỗi năm, nhiều người là phụ nữ từ các quốc gia nghèo… Đây là điều may mắn và có lẽ là sự trùng hợp thần kỳ. Chúng tôi không thể biết trước những gì chúng tôi làm sẽ hiệu quả như vậy. Khi chúng tôi đưa ra giả thuyết, phải có dẫn chứng, chứng cứ và nhờ có Tiến sĩ Aimée, chúng tôi đã có thể thử nghiệm liều thuốc của mình, đảm bảo chỉ 1 liều đã có khả năng phòng ngừa dài hạn. Đặc biệt những thành công gần đây cho thấy chỉ 1 liều đã có hiệu quả như 2 liều”.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn trao Giải thưởng Chính VinFuture cho các nhà khoa học. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Với Tiến sĩ John T. Schiller, đây là vinh dự lớn nhất trong sự nghiệp khoa học của ông kể từ khi dự án này được khởi động. Ông cho biết: “Tôi muốn cảm ơn các quỹ đã sẵn sàng góp vốn hỗ trợ cho dự án. Trước giờ, chúng ta chưa có vaccine cho bệnh truyền nhiễm qua tình dục hay bệnh liên quan tới HPV, nhưng họ vẫn đầu tư cho chúng tôi”.

Tiến sĩ Aimée R. Kreimer đánh giá, ung thư cổ tử cung là một trong những nguyên nhân gây tử vong cho phụ nữ. “Tôi đã dành phần lớn sự nghiệp để tăng khả năng tiếp cận của vaccine và có thêm hiểu biết về vaccine tạo nền tảng mới cho các loại vaccine này. Các loại vaccine có thể hoàn toàn loại bỏ ung thư cổ tử cung và một số ung thư do HPV gây ra, giúp thế giới của phụ nữ tốt đẹp hơn, cho cộng đồng của họ. Tôi chưa từng kỳ vọng nhận giải thưởng hôm nay. Đây là giải thưởng có nhiều ý nghĩa với tôi. Xin cảm ơn Quỹ VinFuture đã ghi nhận những tiến bộ, tâm huyết, cam kết của chúng tôi với lĩnh vực có tiềm năng tăng cường bình đẳng y tế trên toàn cầu”, Tiến sĩ Aimée R. Kreimer chia sẻ.

Giáo sư Maura L. Gillison cảm thấy may mắn trong sự nghiệp để được xây dựng và dẫn dắt các nhà khoa học tập trung cải thiện y tế công cộng và cuộc của những người bị chẩn đoán ung thư. Là bác sĩ và những mối quan hệ như vậy đóng vai trò quan trọng với bà trong việc đạt được tiến triển.

Bên cạnh Giải thưởng Chính, VinFuture 2025 cũng trao 3 Giải Đặc biệt, mỗi giải trị giá 500.000 USD dành cho Nhà khoa học nghiên cứu các lĩnh vực mới, Nhà khoa học nữ và Nhà khoa học đến từ các nước đang phát triển.

Giải Đặc biệt VinFuture 2025 dành cho Nhà khoa học đến từ các nước đang phát triển đã vinh danh Giáo sư María Esperanza Martínez-Romero (Mexico) vì những tiến bộ trong nghiên cứu sinh thái vi sinh vật và cơ chế cố định nitơ cộng sinh tại các hệ sinh thái nhiệt đới. Giáo sư Martínez-Romero đã phát hiện và mô tả nhiều loài Rhizobium mới, góp phần mở rộng hiểu biết về phân loại vi sinh vật và tương tác cây – vi sinh trong nông nghiệp, mở ra hướng nghiên cứu mới về cộng sinh vi khuẩn – cây trồng, có tác động sâu rộng đến nông nghiệp bền vững trong bối cảnh nguồn lực hạn chế.

Gs. María Esperanza Martínez – Romero được trao Giải đặc biệt dành cho “Nhà khoa học đến từ các nước đang phát triển” vì những tiến bộ trong nghiên cứu sinh thái vi sinh vật và cơ chế cố định nitơ cộng sinh tại các hệ sinh thái nhiệt đới. Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN

Chia sẻ trên sân khấu Lễ trao giải, Giáo sư María Esperanza Martínez-Romero bày tỏ vinh dự và cảm kích khi được nhận giải thưởng ngày hôm nay. Giải thưởng VinFuture đã đóng góp và tăng cường sự hiện diện của khoa học, củng cố niềm tin vào khoa học, đồng thời thúc đẩy người trẻ theo đuổi các ngành khoa học, đặc biệt là sinh học và y tế.

“Tôi luôn có ước muốn được đóng góp nhiều hơn, nhưng các vấn đề trên thế giới ngày càng tăng lên nhanh chóng. Nhưng nếu chúng ta nỗ lực cùng nhau thì có thể đạt kết quả tốt đẹp hơn. Ở Mexico đang có những mất mát liên quan tới mùa màng: Cam, cà chua bị ảnh hưởng do độ ẩm cao. Chúng tôi hy vọng có thể chọn được các loại cây, vi khuẩn có thể đem lại lợi ích, giải pháp cho hiện tại và tương lai. Chúng ta cũng phải thuyết phục người trẻ tham gia nghiên cứu những vấn đề liên quan đến lợi ích nhân loại”, Giáo sư María Esperanza Martínez-Romero nói.

Giải Đặc biệt VinFuture 2025 dành cho Nhà khoa học nữ được trao cho Giáo sư Mary-Claire King (Hoa Kỳ) vì sự phát hiện gen BRCA1 liên quan đến nguy cơ ung thư vú và buồng trứng, đặt nền móng cho các xét nghiệm di truyền, chương trình tầm soát và điều trị theo hướng cá thể hóa. Việc xác định vị trí gen BRCA1 trên nhiễm sắc thể 17q21 vào năm 1990 – trước khi bộ gen người được giải mã – được xem là cột mốc lịch sử, khẳng định bản chất di truyền của nguy cơ ung thư và thay đổi cách tiếp cận phòng ngừa – điều trị trên toàn thế giới.

Giáo sư Mary – Claire King được trao Giải đặc biệt cho “Nhà khoa học nữ đã phát hiện gen BRCA1 liên quan đến nguy cơ ung thư vú và buồng trứng”. Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN

Giáo sư Mary-Claire King đã phát hiện rằng các đột biến trong gene BRCA1 có liên quan đến sự phát triển của ung thư vú và buồng trứng, đặt nền móng cho xét nghiệm di truyền, tầm soát ung thư và y học cá thể hóa. Bằng cách nghiên cứu các gia đình có nhiều thành viên mắc ung thư vú khởi phát sớm, Giáo sư King đã thành công trong việc xác định vị trí của gene BRCA1 tại một vùng nhiễm sắc thể cụ thể (nhiễm sắc thể 17q21) vào năm 1990, trước khi bộ gene người được giải mã. Việc phát hiện ra các đột biến BRCA1 và ảnh hưởng của chúng đối với ung thư vú và buồng trứng đã khẳng định chắc chắn khái niệm về tính di truyền của nguy cơ ung thư, đồng thời đặt nền tảng cho lĩnh vực di truyền học ứng dụng trong điều trị ung thư.

Chia sẻ tại sự kiện, Giáo sư Mary-Claire King bày tỏ vinh dự được nhận giải thưởng. “Tôi bất ngờ vì nhận được giải thưởng dành riêng nhà khoa học nữ, bởi vì chẳng phải các phát kiến của nhà khoa học nữ cũng như nam? Mọi nhà khoa học đều như nhau, những thành công của chúng tôi và nhà khoa học khác. Chúng ta – những phụ nữ đang làm được, khuyến khích người trẻ và nhà khoa học nữ trẻ theo bước chúng tôi trên hành trình này”, Giáo sư Mary-Claire King nói.

Giải Đặc biệt VinFuture 2025 dành cho Nhà khoa học nghiên cứu các lĩnh vực mới đã vinh danh 5 nhà khoa học: Giáo sư Venkatesan Sundaresan (Hoa Kỳ), Giáo sư Raphaël Mercier (Đức), Tiến sĩ Emmanuel Guiderdoni (Pháp), Tiến sĩ Imtiyaz Khanday (Hoa Kỳ) và Tiến sĩ Delphine Mieulet (Pháp) vì những đổi mới trong phát triển các loại cây trồng lai có khả năng tự nhân giống. Cây lai có năng suất vượt trội so với cây bố mẹ nhưng việc sản xuất hạt giống lai cho cây lúa – nguồn lương thực chính của hơn một nửa dân số thế giới – lại phức tạp và tốn kém, khiến phần lớn nông dân khó có cơ hội tiếp cận. Nhóm nghiên cứu đã tạo ra hạt giống lúa mang các đặc tính ưu việt giống hệt cây mẹ thông qua tự thụ phấn, dựa trên những hiểu biết mới về sinh học phát triển và di truyền, giúp cải thiện năng suất, giảm chi phí hạt giống và thúc đẩy an ninh lương thực bền vững.

Chia sẻ tại sự kiện, Giáo sư Raphaël Mercier, Giám đốc khoa Sinh học nhiễm sắc thể tại Viện Nghiên cứu di truyền cây trồng Max Planck (Đức), thành viên chủ chốt của nhóm nghiên cứu bày tỏ vinh dự được nhận giải thưởng. Giáo sư Raphaël Mercier cho rằng, Giải thưởng này mang 2 ý nghĩa. Thứ nhất là sự công nhận nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, thứ hai là sự tôn vinh những giá trị của nghiên cứu này trong ngành nông nghiệp.

Giáo sư Richard Henry Friend – Chủ tịch Hội đồng Giải thưởng VinFuture phát biểu khai mạc. Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN

Chia sẻ về các công trình được vinh danh năm nay, Giáo sư Richard Friend, Chủ tịch Hội đồng Giải thưởng VinFuture cho biết: “Các chủ nhân Giải thưởng VinFuture 2025 đã kiến tạo những tiến bộ khoa học mang tính bước ngoặt, đem lại lợi ích thiết thực cho sức khỏe con người và an ninh lương thực toàn cầu. Từ vaccine, hiểu biết về bệnh có căn nguyên di truyền, đến các phương pháp lai tạo giống cây trồng và quy trình canh tác bảo đảm sinh trưởng tối ưu – những thành tựu này cho thấy sức mạnh của khoa học khi được dẫn dắt bởi lòng nhân ái và tinh thần hợp tác xuyên biên giới. Khi tri thức phụng sự con người, chúng không chỉ mở rộng hiểu biết của chúng ta về thế giới, mà còn góp phần bảo vệ và nuôi dưỡng sự sống”.

Sau 5 mùa giải liên tiếp thành công, Giải thưởng VinFuture đã trở thành một trong những giải thưởng khoa học công nghệ uy tín hàng đầu thế giới, với 6.132 đề cử đến từ gần 110 quốc gia và vùng lãnh thổ tại 5 châu lục, tôn vinh 48 nhà khoa học kiệt xuất. Các công trình được vinh danh – từ năng lượng sạch, trí tuệ nhân tạo, công nghệ y sinh đến những đột phá trong nông nghiệp – đang tạo ra những chuyển biến sâu rộng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và định hình tương lai của nhân loại.

Lễ trao giải và Tuần lễ Khoa học Công nghệ VinFuture cũng đã trở thành nền tảng kết nối quen thuộc của tri thức toàn cầu, quy tụ các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách và đại diện doanh nghiệp nhằm thúc đẩy các hợp tác hướng đến tương lai bền vững, nhân văn và thịnh vượng. Đặc biệt, sau 5 mùa giải với những nỗ lực bền bỉ kết nối tinh hoa khoa học thế giới với cộng đồng khoa học Việt Nam, Quỹ VinFuture và Giải thưởng VinFuture không chỉ tạo cơ hội và động lực phát triển cho khoa học nước nhà mà còn góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến tin cậy của các nhà khoa học thế giới, nơi các giá trị sáng tạo được sẻ chia và lan tỏa mạnh mẽ vì sự thịnh vượng của nhân loại.

 

(Nguồn: TTXVN)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Cảnh báo đột quỵ não ở trẻ: Ca bệnh đánh thức sự chủ quan

Gần đây, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 tiếp nhận nhiều ca đột quỵ ở trẻ nhỏ và vị thành niên, trong đó có bệnh nhi chỉ 8 tuổi. Căn bệnh vốn được coi là của người lớn nhưng lại xuất hiện ngày càng nhiều ở người trẻ tuổi, với biểu hiện không rõ ràng nhưng diễn biến đột ngột, đặc biệt nguy hiểm.

Bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

 Cảnh báo về xu hướng trẻ hóa của căn bệnh đột quỵ não

Theo thông tin từ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, trường hợp bé Đ.K sinh năm 2017 (Hà Nội) khiến nhiều người không khỏi bàng hoàng. Trong lúc học, bé bất ngờ gục xuống bàn, yếu nửa người trái, đây là biểu hiện của cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua.

Rất may, thầy cô và bạn bè phát hiện kịp thời, thông báo gia đình đưa bé đến viện. Kết quả chụp CTA cho thấy, bé bị nhồi máu não do bóc tách động mạch não giữa bên phải, một tình trạng hiếm gặp ở trẻ.

Bệnh nhi được can thiệp cấp cứu, nong bóng và đặt stent để tái thông mạch. Nhờ được đưa đến bệnh viện sớm, trẻ đã hồi phục gần như hoàn toàn, không để lại di chứng thần kinh.

Một trường hợp khác là bệnh nhi T.Q, sinh năm 2011 (Hà Nam cũ), trước khi nhập viện 10 ngày, trẻ đau đầu dữ dội, ngất xỉu tại trạm y tế xã. Trẻ được uống thuốc và sức khỏe trở lại bình thường. Tuy nhiên, sau đó trẻ xuất hiện đau đầu trở lại.

Ban đầu gia đình nghĩ, trẻ chỉ bị cảm thông thường nhưng để chắc chắn đã đưa trẻ đến bệnh viện. Kết quả chụp CTA phát hiện, trẻ bị chảy máu não nhỏ do vỡ dị dạng thông động-tĩnh mạch vùng thái dương phải. Sau khi hội chẩn, các bác sĩ Viện Thần kinh đã can thiệp nút dị dạng và túi giả phình. Hiện tại, trẻ đã hồi phục hoàn toàn.

“Tôi không nghĩ cháu bị chảy máu não vì trước đó hoàn toàn khỏe mạnh. Nếu biết nghiêm trọng như vậy, tôi đã đưa cháu đi khám sớm hơn. Mong các phụ huynh đừng chủ quan khi thấy con đau đầu hay có biểu hiện lạ”, mẹ của Q chia sẻ.

Theo các bác sĩ, can thiệp đột quỵ ở trẻ khó hơn rất nhiều so với người lớn. Hệ mạch của trẻ nhỏ, dễ tổn thương, thao tác đưa dụng cụ vào lòng mạch đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối. Hiện tại, Viện Thần kinh, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đang điều trị 4 bệnh nhi độ tuổi từ 8-16 tuổi. Đây là hồi chuông cảnh báo về xu hướng trẻ hóa của căn bệnh này.

TS.BS Nguyễn Văn Tuyến, Viện trưởng Viện Thần kinh kiêm Chủ nhiệm Khoa Đột quỵ não cho biết, dù đột quỵ ở trẻ em vẫn được xem là hiếm gặp nhưng những năm gần đây tỷ lệ người bệnh trẻ tuổi, dưới 45 tuổi bị đột quỵ đang tăng lên.

Trong năm 2025, Khoa Đột quỵ não ghi nhận khoảng 10-15% người bệnh điều trị là người trẻ, nguyên nhân chính là nhồi máu não và chảy máu não.

Với nhóm trẻ, cơ chế gây nhồi máu ít liên quan đến xơ vữa mạch như người lớn mà thường xuất phát từ bóc tách động mạch (tình trạng này chiếm khoảng 30-50% diễn tiến rất nguy hiểm). Bóc tách mạch có thể xảy ra khi trẻ vui chơi, chạy nhảy, va chạm hoặc xoay cổ mạnh gây tổn thương lớp nội mạc hoặc do viêm mạch…

Đây là hình ảnh tắc mạch trước can thiệp

 Thời gian quyết định sự sống còn

Đột quỵ ở mọi độ tuổi đều là cuộc chạy đua với thời gian. Mỗi phút, mỗi giây trôi qua là hàng tỷ tế bào thần kinh bị tổn thương không thể phục hồi. Các khuyến cáo quốc tế cho biết, điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết có hiệu quả trong 3-4,5 giờ đầu; lấy huyết khối cơ học thường được thực hiện trong 6 giờ.

Tuy nhiên, các chuyên gia y tế khuyến cáo, người nhà không nên chờ đợi hay căn cứ vào các “khung giờ vàng” để trì hoãn việc đưa trẻ đến viện. Càng đến trễ, khả năng cứu sống và phục hồi càng giảm.

Điều đáng lo ngại là đột quỵ ở trẻ dễ bị bỏ sót vì triệu chứng không điển hình và trẻ khó mô tả cảm giác. Những dấu hiệu như đau đầu dữ dội, yếu tay chân, mắt nhìn mờ, nói khó, co giật, gục xuống bất ngờ… dù rất nhẹ cũng cần được theo dõi sát. Nhiều trường hợp, phụ huynh nghĩ con mệt, chóng mặt do học tập hoặc cảm cúm bình thường, dẫn đến bỏ lỡ thời gian vàng cứu chữa.

Theo BS Nguyễn Văn Cường, Khoa Can thiệp mạch thần kinh, Viện Thần kinh, hiện chưa có phương pháp phòng ngừa tuyệt đối đột quỵ ở trẻ em vì nguyên nhân thường không rõ ràng.

Nhưng có một điều chắc chắn, nếu bệnh được phát hiện sớm chính là chìa khóa giúp giảm thiểu tổn thương và bảo vệ tính mạng. Đột quỵ có thể xảy ra ở bất cứ độ tuổi nào, nên sự cảnh giác của gia đình, thầy cô và cộng đồng là yếu tố quyết định đến hiệu quả chẩn đoán và điều trị cho người bệnh. Đừng để sự chủ quan lấy mất cơ hội của trẻ.

(Nguồn: baochinhphu.vn)

Exit mobile version