Chuyên mục
Bệnh Tuần Hoàn

Viêm Tắc Động Mạch – Dấu Hiệu Và Điều Trị

Viêm tắc động mạch là một bệnh của hệ thống động mạch trong đó các biểu hiện bệnh lý nổi bật là tình trạng co thắt của động mạch, gây rối loạn dinh dưỡng và đưa đến hoại tử vùng tổ chức do các động mạch đó chi phối.

Viêm tắc động mạch gây rối loạn dinh dưỡng.

Về mặt danh pháp tuy còn nhiều vấn đề chưa được hoàn toàn thống nhất, nhưng danh từ “ Viêm tắc động mạch” đã được Winiwater đưa ra từ cuối thể kỷ 19 và đã được nhiều tác giả công nhận.

Bệnh thường gặp ở Nam giới. Thường phát triển ở chi dưới nhưng đôi khi cũng thấy ở các động mạch chi trên, ruột, động mạch vành, động mạch não…

I. Cơ chế bệnh sinh:

Cho đến nay đã có rất nhiều giả thuyết đưa ra để giải thích cơ chế bệnh sinh của bệnh Viêm tắc động mạch. Cơ chế được đa số tác giả công nhận là:

+ Các yếu tố kích thích của ngoại cảnh riêng lẻ hay tổng hợp như: khí hậu lạnh và ẩm kéo dài, nghiện thuốc lá, ăn uống thiếu các Vitamin, các căng thẳng kéo dài về tâm và sinh lý… tác động lên hệ thống thần kinh trung ương cũng như hệ thần kinh giao cảm, từ đó gây các phản ứng co thắt ở động mạch.

+ Tình trạng co thắt kéo dài của động mạch sẽ gây thiếu máu cục bộ và đau đớn kéo dài ở vùng tổ chức phía ngoại vi. Chính những yếu tố này đến lượt chúng lại trở thành các kích thích nội sinh tác động trở lại hệ thống thần kinh trung ương và hệ thần kinh giao cảm, từ đó lại làm động mạch bị co thắt nặng thêm.

+ Kết quả của vòng phản xạ bệnh lý nói trên sẽ làm cho tình trạng co thắt động mạch trở nên liên tục và dẫn đến các biến đổi ngày càng nặng của hệ thống động mạch: lớp cơ của thành động mạch tăng sinh, lớp nội mạc động mạch dày lên, xuất hiện những hiện tượng thoái hoá trong hệ thần kinh giao cảm của thành động mạch, lòng động mạch bị hẹp lại và dần dần tạo nên các cục nghẽn…

+ Quá trình trên tăng lên dần dần dẫn tới tắc hoàn toàn động mạch. Vùng tổ chức phía ngoại vi bị thiếu máu nuôi dưỡng nặng dần dẫn tới hoại tử tổ chức, gây đau đớn kéo dài và nhiễm trùng nhiễm độc cho bệnh nhân.

II. Triệu chứng lâm sàng:

1. Triệu chứng

Bệnh viêm tắc động mạch mạn tính diễn tiến từ từ theo nhiều gia đoạn khác nhau. Có nhiều các phân loại các giai đoạn bệnh. Nhưng tốt nhất vẫn là bảng phân loại của Lerich và Fontaine, với các ưu điểm đơn giảm, dễ áp dụng:

  • Giai đoạn I: Không có triệu chứng, không có tôn thương tắc nghẽn đáng kể về mặt huyết động học.
  • Giai đoạn II: Đau cách hồi nhẹ và không ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày. Hoặc đau cách hồi nặng ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày.
  • Giai đoạn III: Đau ngay cả khi nằm nghỉ ngơi.
  • Giai đoạn IV: Hoại tử từng phần chi, loét chi do thiếu máu cục bộ tại chỗ và thiếu máu cục bộ lan tỏa ở xa. Hoại tử lan rộng quá bàn chân.

Khi bệnh đã ở giai đoạn trễ, tức giai đoạn III và IV, các tổn thương đã quá rõ ràng, việc chẩn đoán trở nên dễ dàng. Ngược bệnh ở giai đoạn II, cần phải khám kỹ mới chẩn đoán được. Bệnh nhân cớ các dấu hiệu cường giao cảm: vã mồ hôi, lạnh chi, một số bạnh nhân có dấu hiệu tím tái của chi.

Phải tiến hành bắt mạch tại các vị trí đặc biệt như: mạch quay, mạch khoeo, mạch mu chân… chúng ta sẽ tìm thấy dấu hiệu mất mạch tại các vị trí trên, đó là dấu hiệu quan trọng nhất để xác định chẩn đoán. Cần bắt mạch có hệ thống và so sánh cả hai bên. Sau đó có thể sử dụng ống nghe dọc theo đường đi của động mạch để tìm xem có tiếng thay đổi hay không?

1.1 Dấu hiệu rối loạn chức năng.

Biểu hiện bằng sự co thắt mạch máu các chi khi gặp lạng, đi nhanh và khi làm việc nặng. Lúc bệnh mới phát triển, bệnh nhân thấy cóng buốt ở các chi và đau ở bắp thịt cẳng chân khi đi lại làm bệnh nhân phải dừng lại và phút đến khi hết đau mới đi được và sau vài trăm bước đau lại xuất hiện vì động mạch lại co thắt. Triệu chứng nàu gọi là dấu hiệu “đi lặc cách hồi” và là triệu chứng đặc biệt của giai đoạn dầu phát triển của bệnh. Đau có thể lan xuống bàn ngón chân, đôi khi khu trú chủ yếu ở các ngón chân. Lúc nghỉ ngơi và ban đêm không thấy xuất hiện

Đau bắp chân còn xuất hiện khi bị lạnh ẩm, khi chân bị lạnh thấy xuất hiện co rút cá cơ bàn chân và cẳng chân, da ở chân trở nên nhợt nhạt và lạnh. Hiện tượng này có thể tháy cả khi nhiệt độ phòng bình thường. Khi sưởi ấm da ở chân trở nên tím hay đỏ vì xung huyết.

Mạch mu chân thường yếu có khi không sờ thấy, khi ấn tay vào ngón chân thấy trắng bệch ra một lúc lâu, gọi là dấu hiệu “nốt trắng”.

Bệnh nhân thường kèm theo chứng tê chân, tê thường xuất hiện ở một tư thế nhất định tùy từng bệnh nhân (hay gặp nhất là khi nằm), thêm vào đó bệnh nhân có cảm giác lạnh bàn chân do thiếu máu ở các đầu dây thần kinh ngoại vi.

Trong những trường hợp không điểm hình có thể chản đoán nhầm với: Đau và đem như bệnh Goutte, hoặc chỉ có cảm giác đau nhẹ, âm ỉ ở sâu như giãn tĩnh mạch sâu,. Ngược lại cũng có khi đau dữ dội từ bắp chân lan xuống bàn chân liên tục, nghỉ cũng không hết đau như đau thần kinh hông to.

Tóm lại: dấu hiệu này có ba triệu chngs điểm hình là: đi lặc cách hồi, tê chân, lạnh chân.

1.2 Dấu hiệu rối loạn dinh dưỡng và đau liên tục

Đánh giá các mức độ rối loạn dinh dưỡng:

Rối loạn dinh dưỡng là dấu hiệu rất đặc trưng và là hậu quả của việc thiếu máu nuôi dưỡng chi do tắc động mạch. Những trường hợp rối loạn dinh dưỡng được chia làm hai mức độ:

– Rối loạn dinh dưỡng nhẹ. Bao gồm: Khô da, tróc vảy, rụng lông, gãy móng, thay đổi màu sắc da khi thay đổi tư thế của chi như tái nhạt khi giơ cao, đỏ bầm khi hạ chi xuống.

Rối loạn dinh dưỡng nặng: Cơ teo, chậm hay không lành cá vết thương ở chi, loét đầu chi, hoại tử đầu chi khu trú hay lan rộng. Dấu hiệu này xuất hiện khi mà hiện tượng thiếu máu dầu chi trở nên thường xuyên hơn, ngay cả lúc nghỉ ngơi, đặc điểm của đau là:

  • Đau kéo dài, dai dẳng, cá phương pháp điểu trị thông thường không đỡ đau.
  • Đau tăng nhiêu về đem lầm bệnh nhân mất ngủ, suy nhược.
  • Đau tăng khi đưa chân lân cao, giẩm dần khi thõng chân xuống thấp.
  • Rối loạn dĩnh dưỡng biểu hiện bằng các hiện tương: Da khô, móng chân dày lên, và mọc lệch sang bên cạnh, dưới móng chan có viên sưng mủ. Đàu ngón chân có thể xuất hiện các vết loát nhỏ ướt và đau.

1.3 Hoại tử hay hoại thư.

Hoại tử do viêm tắc động mạch

Hoại tử hay hoại thư khi các triệu chứng đau và rối loạn dinh dưỡng tăng lên. Đau các ngón chân trở nên thường xuyên và không thể chịu nổi, làm bệnh nhân không thể đi lạ nếu không có thuốc an thần và chống đau, tuy nhiên tác dụng của thuốc cũng chỉ tạm thời. Bệnh nhân luôn phải ngồi, hai tay giữ lấy bàn chân bị bệnh.

Các vết loét xuất hiện và phủ một lớp bẩn, đáy có tổ chức hoại tử. Hiện tượng phù và tím da lan lên bàn chân. Trên phim X quang thấy xốp ở bàn chân. Không sờ thấy mạch và không ghi được giao động đồ mạch máu ở bàn chân, cẳng chân và đùi.

Toàn tràng suy sụp, người xanh, gầy, có thể có sốt nhẹ 37o5 – 38o . Một số trường hợp sức đề kháng kém có thể bị nhiễm trùng, hoại tử khô biến thành hoại tử ướt.

Buerger nói nên ba dấu hiệu sắp có hoại tử là:

+ Thiếu máu khi nâng chi cao: khi nâng chi lên, màu da trở nên tái nhợt vì các thành phần mao mạch và tĩnh mạch kém dinh dưỡng không còn trương lực, và dưới tác dụng của trọng lực máu dồn đi hết

+ Góc thiểu năng tuần hoàn: khi hạ chân xuống một góc độ nhất định nào đó, màu đen từ tái nhợt trở lại màu tím.

+ Dấu hiệu ép ngón cái: ấn vào ngón cái dồn máu đi, sâu đó thả tay ra, màu sắc của ngón cái trở lại rất chậm, ngay cả khi để chân thấp.

2. Dấu hiệu

+ Thay đổi màu sắc da của chi bị tổn thương:

Theo tư thế: để bình thường thấy da có màu tái nhợt hoặc xen kẽ các chỗ tái nhợt với các chỗ da bình thường. Khi cho bệnh nhân để thõng chân xuống (để máu đến chi nhiều hơn) thì thấy da đỡ tái nhợt và hồng lên.

Nghiệm pháp gẫp duỗi cổ chân: cho bệnh nhân nằm sấp, gấp duỗi khớp cổ chân vài lần thì sẽ thấy chỉ trong vài giây bàn chân của bệnh nhân sẽ trở nên tái nhợt. Khi cho bệnh nhân đứng dậy nếu trong 10 giây màu da bàn chân không trở lại bình thường thì chứng tỏ có rối loạn rõ rệt của tuần hoàn chi dưới.

Nghiệm pháp Oppel và Buerger: cho bệnh nhân nằm ngửa, duỗi thẳng chân và giơ chân lên cao, chỉ sau vài giây da của chân đã chuyển thành tái nhợt.

Nghiệm pháp Collins và Velenski: cho bệnh nhân nằm ngửa duỗi thẳng chân và giơ chân lên cao, đồng thời với hiện tượng thay đổi mầu sắc da còn thấy các tĩnh mạch mu bàn chân bị xẹp đi. Cho bệnh nhân ngồi dậy và buông thõng chân xuống, theo dõi thời gian các tĩnh mạch mu bàn chân đầy trở lại: bình thường các tĩnh mạch này đầy trở lại trong vòng 7 giây, nếu thời gian đầy lại kéo dài hơn thì chứng tỏ động mạch có thể bị tắc.

Dấu hiệu ép ngón chân cái: ấn vào ngón chân cái của bệnh nhân rồi bỏ tay ra để quan sát. Khi màu da ngón cái hồng trở lại chậm thì chứng tỏ có rối loạn tuần hoàn ở chi dưới.

+ Mạch chày sau và mạch mu chân yếu hoặc mất:

Phải bắt mạch cẩn thận và so sánh mạch ở cả hai chân.

+ Các triệu chứng rối loạn dinh dưỡng ở chi bị bệnh:

Có thể khám thấy các triệu chứng

  • Rối loạn tiết mồ hôi.
  • Da chi thường khô, teo . Lông thưa, rụng.
  • Các cơ bị teo, nhẽo.
  • Xương chi bị xốp do tình trạng loãng xương.

Loét và hoại tử đầu chi: xảy ra ở giai đoạn cuối của bệnh, cảm giác đau ở chi tăng lên và trở nên thường xuyên, xuất hiện các vết loét đầu tiên thường ở đầu ngón chân và mu bàn chân, toàn trạng bệnh nhân suy sụp do nhiễm trùng nhiễm độc nặng.

III. Triệu chứng cận lâm sàng:

1. Đo dao động động mạch:

Xác định được mức độ giảm biên độ giao động của động mạch bị viêm tắc ở chi tổn thương.

2. Soi mao mạch:

Xác định thấy giảm số lượng và đường kính các mao mạch ở chi tổn thương, tốc độ di chuyển của hồng cầu trong mao mạch cũng bị giảm xuống.

3. Đo nhiệt độ da:

Xác định thấy nhiệt độ da của chi bị tổn thương bị giảm đi rõ rệt so với bên lành.

Có thể tiến hành đo nhiệt độ da trước và sau khi phong bế hạch thần kinh giao cảm thắt lưng, nếu sau khi phong bế hạch mà thấy nhiệt độ da ở chi tổn thương tăng lên thì việc chỉ định mổ cắt hạch giao cảm thắt lưng sẽ có hiệu quả tốt.

4. Siêu âm động mạch và nghiên cứu Doppler động mạch:

+ Chụp Siêu âm động mạch: xác định được tình trạng thành động mạch dày lên, nội mạc động mạch dày, có các cục nghẽn mạch…

+ Nghiên cứu Doppler: xác định được các biến đổi của dòng máu lưu thông trong động mạch bị viêm tắc: giảm tốc độ dòng máu, giảm lưu lượng máu, xuất hiện các dòng chảy rối do có các cục nghẽn…

5. Chụp động mạch cản quang:

+ Xác định được hình dạng và mức độ co thắt của các động mạch bị viêm tắc, hình các cục nghẽn trong động mạch, mức độ lưu thông của dòng máu trong động mạch…

+ Xác định được tình trạng hệ tuần hoàn bên của chi có động mạch chính bị viêm tắc.

6. Chụp CT, chụp MRI động mạch:

Ngoài việc xác định được các biến đổi về hình thái của động mạch bị viêm tắc, chụp CT và MRI còn xác định được cả tương quan giải phẫu cũng như các thay đổi về hình thái của các tổ chức và cơ quan xung quanh.

IV. Chẩn đoán phân biệt:

Một số bệnh cần chẩn đoán phân biệt với bệnh Viêm tắc động mạch:

1. Hoại tử đầu chi trong bệnh đái tháo đường:

+ Tiền sử thường không có dấu hiệu “đi lặc cách hồi”

+ Vị trí bị hoại tử thường ở gan bàn chân, gót chân…

+ Xét nghiệm thấy Glucoza máu tăng, có Glucoza trong nước tiểu…

2. Bệnh xơ vữa động mạch:

+ Thường bị tổn thương hệ thống động mạch toàn thân chứ không thường xuyên bị ở chi dưới như bệnh Viêm tắc tĩnh mạch, do đó có thể thấy dấu hiệu các động mạch căng như sợi thừng ở động mạch thái dương, động mạch cánh tay, động mạch quay…

+ Đau ở vùng chi có động mạch bị xơ vữa nhưng thường không dữ dội, vận động nhiều có đau hơn nhưng bắt mạch ngoại vi vẫn thấy đập rõ.

+ Có thể có hoại tử vùng chi có xơ vữa động mạch nhưng thường

xuất hiện ở người già, có cao huyết áp, tăng Cholesterol máu…

3. Bệnh Raynaud:

+ Thường gặp ở Nữ giới, tuổi trẻ.

+ Bệnh tiến triển thành từng đợt, tổn thương chủ yếu là ở đầu chi và

đối xứng cả hai bên.

V. Điều trị:

1. Điều trị nội khoa:

a) Loại bỏ các yếu tố kích thích gây có thắt mạch máu:

Tránh các điều kiện môi trường lạnh, ẩm. Không hút thuốc. Tránh

các căng thẳng về tâm lý và sinh lý. Chế độ ăn uống đầy đủ các chất và Vitamin…

b) Dùng các thuốc chống co thắt mạch máu:

+ Dùng các thuốc giãn cơ trơn như: Achetylcholine, Papaverin, Nospa…

+ Tiêm Novocain động mạch: có thể dùng Novocain 1% tiêm động mạch mỗi lần 10 ml, ngày tiêm 1-2 lần. Sau 15-20 lần tiêm bệnh có thể đỡ hẳn.

c) Lý liệu pháp:

Chiếu sóng ngắn, liệu pháp Ion ganvanic với Novocain, xoa bóp…

2. Điều trị ngoại khoa:

a) Các phương pháp tác động lên hệ thần kinh giao cảm:

+ Mổ cắt bỏ mạng lưới thần kinh giao cảm quanh động mạch:

– Mạng lưới thần kinh giao cảm nằm ở lớp vỏ bao quanh thành động mạch. Trong cơ chế bệnh sinh của bệnh Viêm tắc động mạch, hệ thần kinh giao cảm này đóng một vai trò không nhỏ trong vòng phản xạ bệnh lý của bệnh. Việc mổ cắt bỏ mạng lưới này là cắt bỏ được một khâu trong vòng phản xạ bệnh lý đó.

– Thường tiến hành bộc lộ đoạn động mạch ở phía trung tâm của động mạch bị viêm tắc. Bóc tách và cắt bỏ lớp vỏ ngoài của động mạch trên một đoạn khoảng 2-3 cm. Có thể tiêm thêm khoảng 20 ml Novocain 0,25-0,5% vào động mạch khi đóng lại vết mổ.

+ Cắt đôi động mạch rồi lại khâu nối lại: Phương pháp này có tác dụng như mổ cắt bỏ mạng lưới giao cảm quanh động mạch.

+ Mổ cắt bỏ các hạch thần kinh giao cảm thắt lưng 2,3 và 4:

Các hạch giao cảm thắt lưng 2,3,4 là các hạch giao cảm chi phối cho các động mạch chi dưới. Cắt bỏ các hạch này cũng có tác dụng cắt bỏ được một khâu trong vòng phản xạ bệnh lý của bệnh Viêm tắc động mạch ở các động mạch chi dưới.

+ Mổ cắt bỏ Tuyến thượng thận:

Phương pháp này được tiến hành dựa trên cơ chế là cắt bỏ Tuyến thượng thận sẽ làm giảm được các Adrenalin do tuỷ Tuyến thượng thận tiết ra, nhờ đó giảm được tình trạng co thắt động mạch.

b) Các phẫu thuật phục hồi tuần hoàn vùng chi bị viêm tắc động mạch:

+ Mổ cắt bỏ lớp nội mạc và lấy bỏ các cục nghẽn động mạch:

Tiến hành mở thành động mạch ra. Cắt bỏ lớp nội mạc động mạch bị viêm dày, lấy bỏ các cục nghẽn trong lòng động mạch. Khâu lại thành động mạch.

+ Mổ ghép mạch máu:

– Tiến hành bộc lộ và cắt bỏ đoạn động mạch bị Viêm tắc.

– Dùng một đoạn mạch máu để ghép thay vào đoạn động mạch đã bị cắt bỏ. Đoạn mạch ghép có thể là một đoạn Tĩnh mạch hiển trong của chính bệnh nhân (ghép tự thân), đoạn động mạch lấy từ người đã chết (ghép đồng loại) hay đoạn mạch máu nhân tạo

+ Làm thông mạch máu bằng kỹ thuật can thiệp nội mạch máu:

Hiện nay phương pháp này đang được nghiên cứu và áp dụng ngày càng rộng rãi. Có thể dùng các biện pháp sau:

– Nong rộng đoạn động mạch bị hẹp do viêm tắc: đưa bóng nong vào lòng động mạch đến đoạn động mạch hẹp, bơm bóng cho căng ra để nong rộng lòng động mạch.

– Đặt Sten vào đoạn động mạch hẹp: Sten là một khung có độ cứng nhất định, được đặt trên một bóng nong động mạch. Tiến hành đưa bóng nong đó vào động mạch đến chỗ động mạch hẹp và bơm lên để làm giãn thành động mạch ra đồng thời gài Sten đó nằm lại chỗ động mạch vừa được nong ra. Phương pháp này giúp tránh được tình trạng động mạch bị xẹp lại sau khi nong.

– Cắt bỏ nội mạc động mạch và các cục nghẽn bằng một dụng cụ đặc biệt: dụng cụ này gồm một lưỡi khoan nhỏ kèm theo ống hút, đưa dụng cụ này vào đến chỗ động mạch bị viêm tắc và cho máy chạy. Lưỡi khoan sẽ cắt vụn tất cả lớp nội mạc bị viêm dày và các cục nghẽn trong lòng động mạch, các mảnh vụn sẽ được hút ngay ra ngoài theo ống hút. Nhờ đó lòng động mạch sẽ được thông trở lại.

c) Phẫu thuật cắt cụt chi bị viêm tắc động mạch:

Đây là biện pháp điều trị cuối cùng phải dùng đến, khi tình trạng hoại tử chi phát triển làm cho bệnh nhân đau đớn và suy sụp nặng.

Dấu hiệu viêm tắc động mạch

VI. Tiên lượng:

Bệnh tiên lượng nặng, tiến triển có tính chất chu kỳ, những cơn đau cấp tính giảm đi khi điều trị và bất động các chi, nhưng sau đó lại tái phát kịch phát khi bị lạnh, chấn thương hay hút thuốc. Dần dần thời kỳ bệnh giảm rút ngắn lại, thời kỳ kịch phát kéo dài ra, và cuối cùng biến thành một bệnh không thể chữa khỏi ngoài phương pháp cắt cụt chi. Sau khi cắt cụt chi, quá trình viêm tắc mạch có thể lại chuyển sang chân bên kia và đôi khi chuyển lên cả chi trên

Nguồn: Cao đẳng Điều dưỡng TP HCM

Chuyên mục
Bệnh Học Chuyên Khoa

Điều Trị Bệnh Tim Bẩm Sinh Ở Trẻ Sơ Sinh

Bệnh tim bẩm sinh đang là nỗi lo và là mối quan tâm hàng đầu của các bậc cha mẹ hiện nay,nhưng nếu trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh được phát hiện sớm và điều trị đúng cách sẽ có thể giúp trẻ phát triển và hòa nhập tốt vào xã hội.

1. Thông nhĩ

Phần lớn thông nhĩ không dẫn đến suy tim. Độ chênh áp lực giữa 2 buồng nhĩ không cao do đó thông nhĩ cũng không bị biến chứng viêm nội tâm mạc nhiễm trùng. Do đó thường không cần phải dùng kháng sinh dự phòng khi nhổ răng, chữa răng hoặc làm thủ thuật ngoại khoa.

2. Nội khoa

Chỉ có vai trò tương đối nhất là khi chưa có chỉ định phẫu thuật như:

  • Điều trị bội nhiễm phổi.
  • Điều trị rối loạn nhịp khi có rung nhĩ, nhịp nhanh kịch phát trên thất.
  • Điều trị suy tim.
  • Điều trị phòng chống tắc mạch.

Đóng lỗ thông liên nhĩ bằng ống thông đưa một dụng cụ gọi là dù đôi đưa vào lỗ thông để bít là một thủ thuật được các nhà nội tim mạch thực hiện.

3. Ngoại khoa

Bằng phẫu thuật tuần hoàn ngoài cơ thể, đóng lỗ thông liên nhĩ bằng cách khâu trực tiếp hay bằng miếng vá tổng hợp. Thông nhĩ có thể tự đóng với tần suất từ 14Chỉ định phẫu thuật: tuổi phẫu thuật thay đổi có tác giả cho nên mỗ ở tuồi đi học từ 3- 5, hoặc có thể mỗ ở tuổi từ 15 -20 tuy vậy nhìn chung chỉ định phẫu thuật thông nhĩ thường không khẩn cấp như thông thất vì biến chứng tăng áp phổi thường xẩy ra muộn hơn. Có nghiên cứu cho người lớn tuổi mới phát hiện cũng nên mỗ. Chỉ định thường thống nhất khi:

  • Chỉ số dòng máu phổi/ chỉ số dòng máu động mạch toàn thể (1.5/l)
  • Chưa đổi shunt (nồng độ O2 bảo hòa động mạch (92% hoặc sức cản ĐMP < 15 đơn vị Woods/m2 cơ thể).

Không phẫu thuật khi: áp lực động mạch phổi đo bằng Doppler gần bằng áp lực mạch hệ thống, luồng thông rất ít và 2 chiều, độ bảo hoà O2 lúc nghĩ dưới 92% và giảm hơn khi gắng sức. (Viện tim TP Hồ chí Minh)

3.1 Thông liên thất (Thông liên thất)

Về nội khoa nói chung cần điều trị các biến chứng của Thông liên thất như suy tim, bội nhiễm phổi, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng. Phẫu thuật trẻ sơ sinh thường có tử vong cao 10-20% so với trẻ lớn 2%. Thông liên thất cũng có thể tự đóng, các trường hợp nặng để lâu dễ chuyển sang hội chứng Eisenmenger khó khăn khi phẫu thuật.

3.2 Thông thất có lỗ thông nhỏ, shunt nhỏ

Không có chỉ định ngoại khoa vì bệnh nhân thích nghi tốt. Chỉ cần dự phòng nhiễm trùng nội tâm mạc. Tuy vậy Thông liên thất lỗ nhỏ có kèm hở van động mạch chủ (hội chứng Laubry – Pezzi) dù nhẹ cũng nên mỗ sớm.

3.3 Thông thất lớn, shunt trái – phải lớn (thông liên thất nhóm II)

Chiếm 50%. Nội khoa giúp điều trị các biến chứng hai khi bệnh nhân không có chỉ định phẫu thuật. Điều trị chủ yếu ngoại khoa với tuần hoàn ngoài cơ thể, bằng cách dùng miếng vá nhân tạo. Nguy cơ tử vong từ 1-2% trong thể nhẹ và < 10% trong thể nặng. Tai biến phẫu thuật thường gặp do tổn thương bó His gây bloc nhĩ thất hay bloc nhánh.

Chỉ định: nên đặt vấn đề sớm tuổi từ 2 -10, chỉ số áp lực động mạch phổi/ áp lực động mạch toàn thể (0.75 kèm theo suy tim cần phẫu thuật ngay. Nếu suy tim ổn định khi điều trị nội khoa

Ngoài hai nhóm máu lâm sàng trên còn hai nhóm đặc biệt khác ít gặp hơn:

  • Nhóm III với sự tăng áp phổi nặng, gần với hội chứng Eisenmenger nhưng shunt trái-phải vẫn còn dù rất yếu. Không có chỉ định phẫu thuật.
  • Nhóm IV với hẹp van hay phễu ĐMP (Thông liên thất có bảo vệ phổi) gần với tứ chứng Fallot, nhưng shunt trái – phải vẫn còn dù rất yếu. Cần phẩu thuật nếu dày thất phải rõ.

3.4 Còn ống động mạch

Tất cả bệnh nhân Còn ống động mạch nếu không tự đóng được cần chỉ định phẫu thuật do có nhiều nguy cơ nếu không giải quyết như: viêm nội tâm nhiễm trùng, suy tim trái, tăng áp phổi, vôi hoá ống động mạch.

Nội khoa

Ở trẻ sơ sinh và còn bú có thể dùng indometacine (Indocid) 25mgx 1-2 viên/ngày 1 tháng làm đóng lại ống động mạch do thuốc ức chế tác dụng co thắt của Prostacycline. Có tác giả sử dụng Aspirine cũng có kết quả. Nếu không có kết quả.

Ngoại khoa

Bằng thủ thuật cắt buộc hay nút lỗ thông nếu lỗ thông đường kính dưới 5mm và trẻ (8kg. Áp dụng phẫu thuật với tuổi từ 1-2 tuổi nhưng có thể lớn hơn nhưng chưa đổi shunt. Tỷ lệ nguy cơ tử vong khi phẫu thuật từ 1-2% do suy tim, Osler.

Theo Kirklin tất cả Còn ống động mạch có triệu chứng hoặc trẻ không lớn dù đã điều trị nội khoa tích cực có thể phẫu thuật ở bất kỳ tuổi nào.

Còn ống động mạch với shunt lớn và tăng áp phổi nhẹ:

Điều trị ngoại khoa: Cắt buộc. Nguy cơ tử vong cao hơn so với nhóm trên.

Còn ống động mạch với shunt nhỏ và tăng áp lực phổi nặng.

Điều trị: Chỉ định phẫu thuật cần bàn cải.

Nếu sức cản áp lực phổi trên 10 đv /m2, không còn chỉ định phẫu thuật. Nếu sức cản mạch phổi thấp hơn nhưng ống động mạch ngắn, vôi hoá nhiều nên phẫu thuật tim hở tránh vỡ động mạch khi kẹp trong phẫu thuật kín.

3.5 Tứ chứng Fallot

Nội khoa:

Điều trị chỉ có tính tạm thời, làm bớt các triệu chứng chuẩn bị cho phẫu thuật. Giảm sự tống máu thất phải bằng các thuốc ức chế bêta như propanolol 40mg x 1 v uống. Cho thuốc chống đông hay chống ngưng tập tiểu cầu như Aspirine 0.25g/ ngày. Trẻ sơ sinh có tuần hoàn phổi không đủ có thể chuyền prostaglandine E1 để giữ ống động mạch mở. Tất cả trẻ có dung tích hống cầu cao cần cho thêm viên sắt uống. Chống cơn thiếu Oxy kịch phát: cho nằm đầu thấp gối – ngực, O2, Morphine 1ctg 0.01-0.1 mg/kg TB, truyền natri bicarbonate.

Ngoại khoa:

Có thể phẫu thuật tạm thời hoặc phẫu thuật sửa chữa. Tuổi lý tưởng để phẫu thuật sửa chữa hay tận gốc (vá lỗ thông thất bằng mảnh ghép và sửa chữa hẹp ĐMP rộng ra) là 2 tuổi. Để chậm tuổi lớn sẽ có nhiều biến chứng sau mổ.

Tình trạng thất trái và kích thước động mạch phổi là những yếu tố quan trọng giúp quyết định kỹ thuật nầy.

Về phẫu thuật tạm thời có hay kỹ thuật thông dụng là Blalock – Taussig (nối hạ đòn trái và nhánh trái ĐMP) và Blalock – Taussig có biến cải (nối bằng ống Gore- Tex). Không thực hiện phẫu thuật Blalock – Taussig ở trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi hoặc ĐMP có đường kính (3mm vì dễ bị thuyên tắc.

Cần giải phẫu sớm khi triệu chứng cơ năng ngày càng tăng hoặc thể tích hồng cầu khoảng 65%.

Tỷ lệ tử vong khoảng < 5% đối với Blalock và 10% đối với điều trị tận gốc. Kỹ thuật Blalock chỉ cho kết quả tốt trong khoảng 50% trường hợp trong vòng 10 năm.

3.6 Hẹp động mạch phổi

Nội khoa: ít có tác dụng. Được coi nhẹ khi độ chênh áp lực thất phải/ ĐMP (25 mmHg, nặng khi độ chênh từ 25-50 mmHg. Can thiệp càng chậm càng hẹp nặng hơn do phì đại vùng phễu. Có thể áp dụng phương pháp nông van thay cho phẫu thuật mở. Hiện nay chỉ định nong bóng qua da nhưng có giá trị cao nếu tuổi nhỏ. Đây là phương pháp chọn lọc, tử vong hầu như không có.

Ngoại khoa: chỉ áp dụng khi không nong van qua da được. Khi áp lực thất phải cao hơn áp lực động mạch phổi trên 50 mmHg. Phẫu thuật tạo van động mạch phổi hai lá có kèm theo hay không sửa chữa phễu phổi. Khi có suy tim phải tỉ lệ tử vong cao trên 14%.

3.7 Hẹp eo động mạch chủ

Ngoại khoa: Cần đặt vấn đề phẫu thuật ngay khi bệnh nhân còn chịu đựng được. Tuổi lý tưởng là từ 10 -15 tuổi, về sau nguy cơ cao do bị xơ vữa phối hợp. Nguy cơ tử vong dưới 5%. Phẫu thuật bằng cách nối tận hoặc bắt cầu nối bằng ống nhân tạo.

Phức hợp và hội chứng EISENMENGER

Nội khoa: điều trị biến chứng suy tim: O2, trợ tim, lợi tiểu…

Ngoại khoa: không có chỉ định phẫu thuật ngoại trừ thay tim.

Nguồn: Cao đẳng Điều dưỡng TP HCM

Chuyên mục
Bệnh Học Chuyên Khoa

Tìm Hiểu Về Bệnh Tim Bẩm Sinh

Bệnh tim bẩm sinh là những dị tật tim và mạch máu lớn tạo nên do những bất thường trong bào thai ở tháng thứ 2-3 của thai kỳ, vào giai đoạn hình thành các mạch máu lớn từ ống tim nguyên thủy.

Bệnh tim bẩm sinh cần phát hiện sớm ở trẻ

I. BỆNH NGUYÊN

Các bệnh người mẹ mắc phải trong thời kỳ thai nghén: Nhiễm siêu vi chủ yếu là bệnh đào ban (Rubella), hội chứng Rubella thường có điếc, đục thủy tinh thể, đầu bé và có thể phối hợp với còn ống động mạch, hẹp van động mạch phổi, thông liên thất.

Các yếu tố di truyền có hoặc không rối loạn nhiễm sắc thể như mắc tim bẩm sinh trong hội chứng Marfan, lệch khớp háng, hội chứng Down, biến dị đơn gene cũng được đề cập đến trong di truyền mang tính gia đình của bệnh thông liên thất, thông liên nhĩ, đảo phủ tạng…

Gần đây người ta phát hiện ở những bà mẹ nghiện rượu mà mang thai có thể sinh ra trẻ có dị tật bẩm sinh gọi là hội chứng rượu đối với bào thai, gồm đầu bé, mắt ti hí, trán gồ, hàm nhỏ, chậm phát triển thai nhi, thông liên thất, thông liên nhĩ…

II. SƠ BỘ PHÂN LOẠI

Loại Shunt trái – phải: là loại tim bẩm sinh không có tím. Máu chảy từ bên trái có áp lực cao sang bên phải có áp lực thấp hơn. Tuy nhiên lâu ngày do tăng áp lực động mạch phổi nặng nề có thể đảo shunt lúc đó người ta gọi là hội chứng Eisenmenger. Trong nhóm này hay gặp thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống động mạch.

Bệnh tim bẩm sinh loại có Shunt trái – phải

Loại có Shunt phải – trái: Thường là những dị tật gây tăng áp lực khoang tim phải làm máu từ phải sang trái gây trộn lẫn máu động mạch và máu tĩnh mạch phát sinh tím, tím xuất hiện khi Hb > 5g/100ml và độ bão hòa O2 < 70%, đây là bệnh tim bẩm sinh gây tím. Các bệnh thuộc nhóm này như tứ chứng Fallot, tam chứng Fallot, Ebstaine.

Loại không có Shunt: là dị tật bẩm sinh trong tim hay trên các mạch máu lớn nhưng không có shunt như hẹp eo động mạch chủ, hẹp dưới van chủ hay phổi…

Nguồn: Cao đẳng Điều dưỡng TP HCM

Chuyên mục
Bệnh Thường Gặp

Các Loại Dụng Cụ Thông Thường Trong Phẫu Thuật

Bài viết sau đây sẽ giới thiệu các loại dụng cụ thông thường trong phẫu thuật.

Mục tiêu:

1. Biết được một số dụng cụ thông thường trong phẫu thuật.

2. Biết cách sử dụng một số dụng cụ thông thường.

3. Hiểu cấu trúc các dụng cụ kim loại.

1. Đại cương về các loại dụng cụ thông thường trong phẫu thuật

Dụng cụ kim loại dùng trong phẫu thuật phải có những tính chất sau:

  • Trước đây làm bằng sắt hoặc thép rồi mạ để tránh rỉ, nhưng nay đều làm bằng hợp kim, hợp kim này không rỉ, nhẹ, chắc, mặt ngoài nhẵn nhưng không bóng để tránh phản chiếu ánh sáng. Các chữ hay số trên dụng cụ không còn được dập sâu vào dụng cụ mà thay bằng áp điện để dễ cọ rửa và tiệt trùng.
  • Những dụng cụ dễ mòn do cặp vào vật cứng hay dùng thường xuyên được gia công thêm một bản carbon, rất cứng (Thí dụ: 2 má của kéo, kìm cặp kim…). Những dụng cụ này được mạ vàng phía chuôi để dễ phân biệt trong khi dùng (Hình 1.3-C, 1.4e).
  • Sau khi dùng xong, các dụng cụ này trước đây được ngâm trong nước, rồi dùng bàn chải cọ sạch dưới vòi nước. Làm như vậy dễ làm hỏng dụng cụ (mòn) và khó có thể cọ ở các khe, máu vẫn bám vào, khi tiệt trùng (lò sấy) sẽ két lại. Nay dùng một dung dịch có tính chất làm tiêu-tan các chất bám vào dụng cụ (mỗi hãng sản xuất đặt một tên khác nhau, căn bản là có enzym), ngâm một thời gian, xả nước sạch rồi đưa vào lò sấy.
  • Đối với những dụng cụ mổ vi phẫu, rất mỏng mảnh và rất đắt nên lại càng phải hết sức thận trọng khi dùng cũng như khi lau chùi, tiệt trùng. Những dụng cụ này thường được cài từng chiếc lên một khay sao cho các dụng cụ không va chạm, nằm đè lên nhau sẽ làm cong hay gẫy nhất là khi đang sấy ở nhiệt độ cao.

2. Nguyên tắc sử dụng

  • Mỗi dụng cụ làm ra nhằm thực hiện một mục đích riêng, do đó không được tuỳ tiện dùng làm việc khác sẽ hỏng (Thí dụ: kìm cặp kim nhỏ cho chỉ 5-0, 6-0 không được dùng để cặp kim khâu cơ hay khâu da, chỉ cần trót cặp nhầm một lần là đã hỏng phải vứt bỏ mà mỗi kìm này giá vài triệu đồng; kéo phẫu tích không được dùng để cắt chỉ…).
  • Khi cặp vào một tạng hoặc một mô tinh tế (não, thành mạch…) mà không định cắt bỏ thì không được dùng các loại kẹp có răng.
  • Không bao giờ hai người cầm một dụng cụ: người phụ đang cầm nhưng nếu người mổ cần đến (để đặt lại, để khâu…) thì người phụ phải thả ngay dụng cụ đó, nếu không rất dễ rách phần mô đang cặp.
  • Trong khi mổ, không bao giờ nhóm mổ (người mổ chính và người phụ mổ) được tự mình thò tay lên bàn dụng cụ để lấy mà phải nói qua dụng cụ viên, chính vì vậy người mổ cũng phải biết tên dụng cụ mà gọi. Một khi đã làm việc thành thạo, người mổ chỉ việc chìa tay, không cần nói, dụng cụ viên cũng tự biết phải đưa dụng cụ nào.

3. Cách sử dụng một số loại dụng cụ phẫu thuật cơ bản

3.1. Kẹp phẫu tích

Kẹp được giữ bằng ngón cái và ngón trỏ như kiểu cầm bút.

3.2. Kéo.

Luồn ngón cái vào một vòng, vòng kia là ngón giữa hay ngón nhẫn, ngón trỏ đỡ kéo.

3.3. Kìm cặp kim.

Cầm như cầm kéo để dễ dàng mở và khép kìm. Không được dùng cả bàn tay nắm lấy kìm vì như vậy mỗi khi mở hay khép lại phải chuyển tay trở về tư thế như kiểu cầm kéo, động tác này không những mất thêm thì giờ mà điểm chính là gây rách mô đang khâu nhất là những mô mỏng, dễ nát mỗi khi chuyển tay. Chỉ trừ khi phải khâu qua một mô rất cứng, rất dai (xương, mô xơ dày…) mà kim lại cùn thì mới nắm như vậy để có sức.

 Kìm kẹp kim.

Khi mổ do vị trí đứng nên không phải luôn luôn thuận chiều cầm dụng cụ, bắt buộc người mổ (cả người mổ chính và phụ mổ) phải sử dụng linh hoạt hơn. Điều chủ yếu là phải sử dụng cổ tay, làm sao bàn tay có thể ở mọi tư thế khi sử dụng, không thể chỉ biết sấp-ngửa. Mặt khác, thí dụ như kẹp Kocher, phải biết mở kẹp cả tay phải lẫn tay trái, cả xuôi chiều lẫn trái chiều (vòng tay sang đối diện để mở ngược trở lại).

3.4. Dao mổ 

Trước đây là loại dao mổ cán liền lưỡi. Loại này phải luôn luôn mài cho sắc. Nay gần như đã thay thế hoàn toàn bằng loại cán rời, loại này có lợi là các lưỡi dao tháo lắp đơn giản, dùng một lần vứt lưỡi đi không bao giờ phải mài, có rất nhiều loại lưỡi khác nhau,

Cán dao mổ và các loại lưỡi dao.

Cầm dao mổ có hai cách: cách thông thường là cầm như kiểu cầm cán kéo khi chơi vĩ cầm để rạch da, nhưng khi rạch da xong thì gần như ai cũng cầm theo kiểu cầm bút.

Câu hỏi lượng giá:

1. Hãy nêu những nguyên tắc khi sử dụng dụng cụ mổ.

2. Hãy nêu 5 dụng cụ cơ bản khi mổ.

Nguồn: Cao đẳng Y Dược

Chuyên mục
Bệnh Thường Gặp

Cách điều trị bệnh viêm tai giữa

Viêm tai giữa là bệnh thường gặp nhưng có thể để lại hậu quả khôn lường. Vì vậy khi có nghi ngờ hoặc phát hiện bệnh cần đưa đi khám để được điều trị hợp lý tránh tình trạng tự ý mua thuốc  tự điều trị.

Nguyên tắc chung trong điều trị viêm tai giữa

Nguyên tắc chung trong điều trị viêm tai giữa

Bệnh viêm tai giữa là căn bệnh thường gặp ở mọi đối tượng khác nhau, theo đó bệnh có thể để lại nhiều biến chứng nguy hiểm nên khi xác định được căn bệnh cần có sự phân loại viêm tai giữa cấp tính hay mạn tính, vì nguyên tắc điều trị có khác nhau. Cụ thể:

Viêm tai giữa cấp tính

Trong viêm tai giữa cấp tính, đối tượng hay gặp là ở trẻ em, phần lớn bệnh bắt nguồn từ viêm mũi họng cấp như viêm amidan, viêm VA, viêm họng cấp…Điều trị trong trường hợp cấp tính lại khác nhau ở mỗi giai đoạn của bệnh. Giai đoạn đầu tiên của bệnh là giai đoạn xung huyết, lúc này trong tai chưa có ứ đọng mủ. Điều trị giai đoạn này chủ yếu là điều trị các bệnh viêm mũi họng. Khi các bệnh viêm mũi họng được chữa khỏi, bệnh tai giữa cũng tự khỏi.

Sau giai đoạn xung huyết là giai đoạn ứ mủ, lúc này mủ ứ đọng trong tai giữa làm màng nhĩ căng phồng gây đau đớn và sốt cao, ở giai đoạn này cần có nguyên tắc điều trị phù hợp: trích rạch màng nhĩ để tháo mủ, dùng thuốc rửa viêm tai giữa để rửa hằng ngày, cân nhắc việc dùng thuốc kháng sinh cho trẻ, dùng thuốc giảm đau hạ sốt để điều trị triệu chứng cho trẻ, và giải quyết các vấn đề mũi họng nếu có.

Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn chảy mủ. Giai đoạn này sẽ xuất hiện nếu giai đoạn ứ mủ không được điều trị hiệu quả và dứt điểm, lúc này màng nhĩ sẽ bị rách, mủ chảy ra ngoài, giai đoạn này đau, sốt thuyên giảm thường gây lầm tưởng cho cha mẹ là bệnh đã khỏi, ở giai đoạn này cần điều trị như sau: dùng thuốc rửa viêm tai giữa hằng ngày và theo dõi đến khi màng nhĩ liền lại, dùng thuốc kháng sinh tùy tình trạng nhiễm khuẩn của trẻ, và giải quyết các vấn đề mũi họng nếu có.

Viêm tai giữa mạn tính

Viêm tai giữa mạn tính được xác định khi có thời gian chảy mủ trên 6 tuần, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, người lớn mắc viêm tai giữa chủ yếu là tình trạng này. Điều trị viêm tai giữa mạn tính rất khó khăn và có thể để lại di chứng như giảm sức nghe, thậm chí là điếc hoàn toàn.

Theo đó, trong viêm tai giữa mạn tính được chia là 2 loại:

Viêm tai giữa mủ nhầy: ở giai đoạn này có thể gây viêm ống tai ngoài, xơ màng nhĩ, hoặc điếc. Nguyên tắc điều trị viêm tai giữa thể này cần chú ý: dùng thuốc rửa viêm tai giữa, nhỏ kháng sinh, chống viêm vào tai, điều trị các vấn đề mũi họng nếu có.

Những sai lầm khi điều trị viêm tai giữa

Thể thứ 2 là viêm tai giữa có tổn thương xương. Đây là thể bệnh nguy hiểm nhất của viêm tai giữa, bệnh gây hoại tử xương, có thể dẫn tới điếc, viêm xương chũm, viêm não- màng não, và ảnh hưởng đến tính mạnh. Nguyên tắc điều trị cho thể này là: sử dụng phương pháp phẫu thuật là chính, mục đích để dẫn lưu mủ, lấy bệnh tích và vá màng nhĩ, phục hồi chức năng nghe cho tai, điều trị triệt để các bệnh viêm mũi họng.

Những sai lầm khi điều trị viêm tai giữa

Theo các bác sĩ điều trị bệnh học chuyên khoa cho biết, không phải cứ viêm tai giữa là dùng kháng sinh. Tùy từng thể bệnh, giai đoạn bệnh mà bác sĩ điều trị sẽ quyết định viêm tai giữa có dùng kháng sinh hay không. Ví dụ viêm tai giữa xung huyết chỉ cần điều trị viêm mũi họng thì viêm tai giữa sẽ tự khỏi.

Không dùng nước rửa oxy già, vì đây là chất sát khuẩn mạnh, sẽ làm tổn thương niêm mạc. Nếu dùng lâu dài sẽ gây xơ hẹp ống tai, làm giảm khả năng nghe của trẻ. Mặt khác không rắc các loại thuốc, các loại lá vào tai theo kinh nghiệm, vì nhiều người tự ý nghiền thuốc kháng sinh thành bột rồi rắc vào tai để điều trị viêm tai giữa, điều này sẽ gây bít tắc màng nhĩ khiến mủ không thoát ra ngoài được làm bệnh nặng thêm, dễ gây viêm tai giữa mạn tính và gây tổn thương xương khớp.

Nguồn: benhhoc.edu.vn

Chuyên mục
Bệnh Thường Gặp

Tham khảo những cách chăm sóc khi mắt bị chắp hoặc lẹo

Chắp và lẹo là những bệnh thường gặp ở bờ mi mắt. Bệnh gây đau nhức, kết hợp với tình trạng phù nề làm cho bệnh nhân khó chịu khi nhìn, ảnh hưởng đến sinh hoạt.

Tìm hiểu về bệnh lẹo và chắp mắt

Chắp mắt và lẹo mắt khác nhau như thế nào?

Nhiều người thường mặc định chắp và lẹo mắt đều là một bệnh và do một nguyên nhân gây nên, tuy nhiên thực tế thì chắp và lẹo là 2 căn bệnh hoàn toàn khác nhau

Theo bác sĩ bệnh da liễu thì chắp là do sưng dạng u hạt mạn tính của một tuyến mebomius thường diễn ra sau khi tuyến này bị viêm. Chắp có nhiều dạng, gồm chắp bên trong và chắp bên ngoài. Chắp bên ngoài có kích thước và độ rắn giống như hạt đậu. Chắp bên trong nằm ở mặt trong của mi mắt. Còn lẹo mắt là chứng viêm cấp tính, do một loại tụ cầu khuẩn xâm nhập vào tuyến chân lông mi hoặc vi khuẩn như Staphylococus gây nên. Khi lẹo mới mọc sẽ có cảm giác ngứa, đau, sưng nhẹ, hơi đ ở mi mắt. Tiếp đó ở chỗ đau nổi lên một khối rắn to cỡ hạt gạo. Lẹo thường mọc ở ngay bờ mi, dính chặt vào da mi, sau 3-4 ngày lẹo mưng mủ và vỡ. Lẹo rất hay tái phát, lan từ mi này sang mi khác, có khi sưng to cả mi mắt và gây ứ phù màng tiếp hợp.

Bên cạnh đó khi bị chắp, người bệnh thường có cảm giác sưng, đau, đỏ, khó chịu ở bề mặt kết mạc của mi mắt, sau vài ngày chắp xẹp xuống chỉ còn khối tròn không đau. Còn đối với lẹo thì lại đau đỏ, ấn đau bờ mi, sau hóa cứng, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, cảm giác như có dị vật ở mắt, mưng mủ ở trung tâm chỗ hóa cứng, ít lâu sau áp-xe vỡ ra, chảy mủ, hết đau. Lẹo trong diễn biến nặng hơn, áp-xe hiện ra ổ, thường tái phát. Thực tế đây là 2 căn bệnh thường gặp ở mắt, khá dễ chữa và không để lại quá nhiều nguy hiểm.

Lẹo và chắp mắt có thể tự khỏi trong thời gian ngắn, tuy nhiên người bệnh cần giữ mắt thật sạch sẽ

Những nguyên nhân chính gây ra chắp và lẹo ở mắt

Theo kiến thức bệnh học chuyên khoa, lẹo hình thành từ sự nhiễm trùng ở vùng chân lông mi. Do có vị trí xuất hiện đặc trưng như thế nên còn gọi là lẹo ngoài. Lẹo còn có thể xuất hiện phía trong hoặc bên dưới mi mắt nếu một trong các ống tuyến nhờn bị nhiễm trùng. Còn nguyên nhân gây nên chắp là do được tạo nên từ sự tắc nghẽn ống tuyến nhờn của mi mắt. Trường hợp bị lẹo trong được thoát lưu hoặc không điều trị khỏi hẳn thì nó có thể chèn ép các tuyến và tạo nên chắp.

Về cơ bản chỉ khi bị chắp và lẹo thì chỉ sau 3 – 5 ngày người bệnh sẽ khỏi. Tuy nhiên để không mất thẩm mỹ cũng như làm tình trạng bệnh trở lên nặng hơn chúng ta lưu ý:

– Không trang điểm mắt hoặc soi gương nhiều cho đến khi chiếc mụn lẹo ở mí mắt đã lành hẳn.

– Áp dụng nén ấm cho mắt ngày 3-6 lần/ngày bằng cách dùng một chiếc khăn sạch nhúng vào chậu nước ấm nóng, vắt nước rồi đắp lên mắt.

– Không được ép hoặc tự tay sờ, nặn chắp hoặc lẹo khi nó vẫn đang sưng, nhất là đối với chắp mắt có mưng mủ

Hầu hết chắp và lẹo mắt sẽ tự khỏi sau một thời gian. Nhưng nếu bệnh nặng hơn hoặc có hiện tượng xuất huyết, tốt nhất bạn hãy đến gặp bác sĩ để kiểm tra sức khỏe mắt an toàn. Các bác sĩ có thể sẽ tiến hành chích vết chắp hoặc lẹo nếu chúng sưng to và có mủ. Để vết chích mau lành và giảm thiểu khả năng mọc lại chắp, lẹo, bạn sẽ được kê đơn kem bôi đặc trị.

Nguồn: benhhoc.edu.vn

Chuyên mục
Bệnh Thường Gặp

Bệnh mỡ máu tiềm ẩn nguy cơ chết người

Có nhiều ý kiến cho rằng bệnh mỡ máu không có gì nguy hiểm chỉ cần dùng thuốc là khỏi bệnh tuy nhiên bệnh mỡ máu lại tiềm ẩn nguy cơ chết người đáng sợ.

Bệnh mỡ máu tiềm ẩn nguy cơ chết người

Bệnh mỡ máu và nguyên nhân gây bệnh

Bệnh mỡ máu chính là tình trạng mà lượng mỡ trong máu cao hơn mức cho phép gây nhiều hậu quả nghiêm trọng cho người bệnh đồng thời là nhân tố chủ yếu gây ra các bệnh: cao huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim….

Theo bác sĩ Phạm Hồng Quân từng tốt nghiệp văn bằng 2 Cao đẳng Dược Hà Nội chi ra nguyên nhân gây bệnh được xác định chủ yếu do, chế độ ăn uống không điều độ. chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa và không chịu vận động. Thậm chí, nguyên nhân của bệnh cũng có thể do giới tính và tuổi tác.Thông thường phụ nữ ở độ tuổi mãn kinh khả năng mắc bệnh xơ vữa động mạch cao hơn. Ngoài ra, cũng có thể do áp lực từ việc học hành hay công việc khiến rối loạn chuyển hóa những chất ở trong cơ thể, mỡ tích tụ lâu ngày và không được chuyển hóa thành năng lượng gây ra bệnh tim mạch, mỡ máu cao.

Liệt kê một số đối tượng nguy cơ mắc bệnh mỡ máu cao

Theo Y tá trưởng từng tốt nghiệp văn bằng 2 Cao đẳng Điều dưỡng cho biết một số đối tượng được liệt kê dưới đây nguy cơ mắc bệnh mỡ máu sẽ cao hơn:

  • Cơ thể bị thừa cân, hút thuốc lá, uống nhiều rượu và ăn các thực phẩm có chứa hàm lượng chất béo cao sẽ làm tăng triglycerid trong máu nguy cơ mắc bệnh mỡ máu cao.
  • Các đối tượng sử dụng thuốc tránh thai, thuốc tim mạch hay bị bệnh đái tháo đường, tim mạch thì nguy cơ mắc bệnh mỡ máu sẽ chiếm khoảng 10 %.

Bệnh mỡ máu tiềm ẩn nguy cơ chết người

Tại sao nói bệnh mỡ máu tiềm ẩn nguy cơ chết người? bởi mỡ máu cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi hình thành các mảng xơ vữa ở thành mạch máu, gây hẹp lòng mạch, tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim, thiếu máu não… Trường hợp nặng hơn khiến bại não, đột qụy dẫn đến tử vong.

Phương pháp điều trị bệnh mỡ máu

Phương pháp điều trị bệnh mỡ máu

Khị bị bệnh mỡ máu cao, người bệnh có thể dùng thuốc dành cho đối tượng bị bệnh mỡ máu như thuốc atorvastatin…hoặc sử dụng phương pháp tự nhiên:

  • Atorvastatin thường được sử dụng trong việc hạ cholesterol và các loại chất béo có hại (như LDL, triglyceride) đồng thời tăng cường các cholesterol có lợi (HDL) trong máu. Thuốc hoạt động theo cơ chế giảm lượng cholesterol có hại và tăng cholesterol có lợi giúp người sử dụng có thể giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch như đau tim, đột qụy, bệnh mạch vành…tuy nhiên việc cần sử dụng thuốc atorvastatin kết hợp với một chế độ ăn uống hợp lý mới mang lại hiệu quả.
  • Thực hiện ăn các thực phẩm có chứa hàm lượng cholesterol thấp như rau xanh, các sản phẩm được làm từ đậu, thịt nạc thăn… Tăng cương ăn chất xo có nhiều trong rau xanh.
  • Thực hiện chế độ ăn nhạt, kiêng các thức ăn có nồng độ chất béo cao, nên ăn những thức ăn ít chất béo như cá, đậu phụ, đỗ tương.
  • Nên ăn thực phẩm có nhiều tác dụng giảm mỡ trong máu như: gừng, chế phẩm đậu sữa, nấm hương, mộc nhĩ, hành tây, ba ba, trà, dầu ngô.

Nguồn: benhhoc.edu.vn

Chuyên mục
Bệnh Thường Gặp

Nguyên nhân gây ra bệnh mỡ máu

Bệnh mỡ máu chính là tình trạng rối loạn chuyển hóa lipit và bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi vậy nguyên nhân gây ra bệnh do đâu? Phương pháp điều trị như thế nào?

Nguyên nhân gây ra bệnh mỡ máu

Bệnh mỡ máu tăng cao nếu không được điều trị kịp thời sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm như: xơ vữa động mạch, làm tăng huyết áp, tắc nghẽn mạch máu đặc biệt mạch máu ở não và mạch vành…Chính vì vậy, mỗi người trong chúng ta cần phải biết rõ nguyên nhân gây bệnh để có cách phòng bệnh tốt nhất trước khi quá muộn.

Nguyên nhân gây ra bệnh mỡ máu

  • Do tuổi tác và giới tính

Tại sao tuổi tác và giới tính lại được xếp vào các nguyên nhân gây ra bệnh mỡ máu?

Theo tìm hiểu và nghiên cứu của chuyên gia Ông Dương Văn Hùng đã từng là giảng viên chuyên ngành Cao đẳng Dược tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cho biết Estrogen có ảnh hưởng đến việc chuyển hóa chất béo và ảnh hưởng gián tiếp đến các mạch máu. Thông thường nữ giới trong độ tuổi từ 15 đến 45 tuổi tỉ lệ triglyceride thấp hơn so với nam giới. Nhưng khi chuyển sang thời kỳ mãn kinh lượng triglyceride và cholesterol xấu này ngày càng tăng nguyên nhân gây ra bệnh xơ vữa động mạch ở nữ giới.

  • Bệnh béo phì

Nguyên nhân gây ra bệnh mỡ máu

Nhận định từ một số chuyên gia, khi cơ thể thừa cân đồng nghĩa với hàm lượng cholesterol trong máu tăng.

  • Chế độ ăn uống nhiều chất béo

Chuyên gia dinh dưỡng Chị Mai Phương Loan tốt nghiệp Liên thông Cao đẳng Dược cho biết, thường xuyên nạp chất béo sẽ thúc đẩy cholesterol tăng gây ra mỡ máu cao. Nên người bệnh nên tránh xa các thực phẩm: thịt bò, thịt lợn, thịt bê, sữa, trứng và các loại thực phẩm đóng gói, đồ hộp chứa dầu dừa thay vào đó thì tập trung ăn nhiều rau xanh, các loại củ quả.

  • Căng thẳng, stress

Khi áp lực, mệt mỏi khiến mọi người chán nản, lười vận động và ăn uống cũng thất thường và sử dụng chất kích thích nhiều hơn đều có thể dẫn đến việc hàm lượng mỡ máu tăng lên nhiều hơn.

  • Hút thuốc lá

Hút thuốc lá vừa có hại cho phổi lại còn là nguyên nhân gây nên bệnh mỡ máu do, hút thuốc sẽ làm giảm lượng cholesterol tốt HDL trong cơ thể của bạn. Chính vì vậy, để hạn chế bệnh gây hại cho cơ thể cần hạn chế hút thuốc lá.

Phương pháp điều trị bệnh mỡ máu

Để hạn chế bệnh mỡ máu có, mọi người cần hạn chế các nguyên nhân đã nêu ở trên đồng thời có thể sử dụng thêm một số thuốc tân dược như: Atorvastatin có tác dụng hạ cholesterol và chất béo có hại đồng thời làm tăng cholesterol có lợi (HDL) trong máu. Sử dụng với liều lượng như sau: khởi đầu: 10, 20 hoặc 40 mg uống mỗi ngày một lần. Liều khởi đầu 40 mg dành cho bệnh nhân cần giảm LDL-cholesterol hơn 45%.

Nguồn: benhhoc.edu.vn

 

Chuyên mục
Bệnh Nhi Khoa

Dược sĩ cho biết nguyên nhân và điều trị bệnh viêm tiểu phế quản

 Viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh là căn bệnh gặp vào giai đoạn cuối đông đầu xuân, có thể rất nguy hiểm nếu như bố mẹ không phát hiện và điều trị kịp thời.

Dược sĩ cho biết nguyên nhân và điều trị bệnh viêm tiểu phế quản

Nguyên nhân nào gây nên bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh?

Theo Dược sĩ Liên thông Cao đẳng Dược Hà Nội – Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cho biết: Viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh được gây ra bởi vi rút, chiếm đa số các ca mắc bệnh là vi rút hợp bào hô hấp. Vì khả năng lây lan của vi rút này rất mạnh nên bệnh viêm tiểu phế quản có thể trở thành dịch. Tuy người lớn, trẻ lớn cũng có thể mắc bệnh nhưng biểu hiện chỉ dừng lại ở ho, cảm sốt thông thường. Loại vi rút khác gây ra bệnh viêm tiểu phế quản nhiều thứ hai là vi rút cúm và á cúm. Một số trường hợp bệnh còn được phát hiện là do Adenovirus. Đây cũng là nguyên nhân trẻ bị viêm phổi.

Ngoài việc bị tấn công trực tiếp từ vi rút,viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh còn có thể do bị lây nhiễm do sức đề kháng còn rất yêu nếu trẻ sống trong vùng có dịch cúm hoặc bệnh viêm đường hô hấp do vi rút, đặc biệt là các trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ. Nếu không được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, các trẻ đã từng bị viêm mũi họng, viêm amidan… cũng sẽ dễ bị mắc bệnh viêm tiểu phế quản.

Đồi với trẻ sơ sinh mắc bệnh tim bẩm sinh, phải chịu cảnh sống trong khói thuốc lá từ phụ huynh, bị bệnh phổi hoặc bị suy giảm miễn dịch đều là đối tượng lý tưởng của bệnh viêm tiểu phế quản.

Các triệu chứng bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh

Những triệu chứng ban đầu của viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh là ho, sổ mũi và sốt nhẹ. Sau đó từ 3 – 5 ngày, triệu chứng ho ngày một nhiều, thở khò khè, thở rít, hởi thở nhanh, nông. Nếu quan sát, trẻ khó thở, cánh mũi phập phồng, các cơ liên sườn ở ngực bị co kéo.

Khi bệnh trở nên nghiêm trọng, trẻ bắt đầu quấy khóc và bỏ bú dẫn đến mệt mỏi, da trở nên tím, tái. Dấu hiệu này gần giống dấu hiệu bé bị viêm phổi.

Biến chứng các triệu chứng bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh

Suy hô hấp và viêm phổi do bị bội nhiễm, xẹp phổi, viêm tai giữa là các biến chứng thường gặp của bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh. Đối với trẻ dưới 3 tháng tuổi, trẻ suy dinh dưỡng, sinh non, nhẹ cân, trẻ bị bệnh tim, phổi bẩm sinh, suy giảm miễn dịch thì bệnh sẽ có nhiều biến chứng, mức độ bệnh sẽ nặng và kéo dài hơn, cần cho trẻ nhập viện sớm. Khả năng tái phát của bệnh này cũng khá cao, nếu không chữa trị và phòng ngừa đúng cách, bệnh viêm tiểu phế quản về sau có thể gây ra bệnh hen phế quản.

Mùa đông lạnh thời tiết thay đổi phụ huynh cần giữ ấm cho trẻ

Điều trị bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh

Điều trị bệnh tại nhà:

Có thể chăm sóc trẻ tại nhà nếu dấu hiệu bệnh nhẹ. Cho trẻ uống nước từng ngụm nhỏ và thường xuyên. Chia bữa ăn của trẻ thành nhiều đợt nhỏ.

Điều chỉnh nhiệt độ phòng để không khí không quá khô và lạnh.

Phụ huynh cần rửa tay sạch sẽ trước khi chăm sóc trẻ và tuyệt đối không để trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá.

Cần theo đúng chỉ dẫn của bác sỹ về liều lượng và thời gian dùng thuốc cho trẻ, tái khám đúng hẹn.

Đưa trẻ đến bệnh viện hoặc cơ sở y tế ngay khi:

Thân nhiệt trẻ tăng cao, khó hạ. Trẻ mệt mỏi, thở gấp hoặc khó thở, cánh mũi phập phồng hoặc co lõm ở ngực. Trẻ nôn ói, bỏ bú, không uống được nhiều nước, da tím tái.

Cách phòng ngừa bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh

Để trẻ có hệ miễn dịch tối ưu giúp chống lại bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh, cần nuôi con bằng sữa mẹ cho đến lúc trẻ 2 tuổi. Đến tuổi trẻ ăn dặm cần thực hiện đúng cách và chú ý cung cấp bổ sung đủ dưỡng chất cần thiết để trẻ phát triển toàn diện.

  • Cần cho trẻ uống nhiều nước giúp hệ tiêu hóa vận hành trơn tru.
  • Tuy có nhiều thông tin trái chiều nhưng việc chủng ngừa cho trẻ cần được phụ huynh thực hiện đầy đủ.
  • Mặc ấm cho trẻ khi thời tiết trở lạnh, hạn chế việc cho trẻ ra đường khi trời trở gió.
  • Không để trẻ tiếp xúc với người đang mắc các bệnh về đường hô hấp như cúm, ho, cảm sốt.
  • Bỏ thói quen hút thuốc lá khi có trẻ bên cạnh.

Khi thời tiết giao mùa thì viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh là bệnh rất hay gặp đối với con nhỏ. Các bậc phụ huynh có thể tham khảo bài viết trên để chăm sóc sức khỏe cho con trẻ được tốt nhất.

Nguồn: Bênh học

Chuyên mục
Bệnh Nhi Khoa

Những thực phẩm nào bé nên ăn và không nên khi bị viêm họng?

Khi con trẻ bị bệnh cha mẹ thường rất lo lắng cũng như khi trẻ bị viêm họng nên cho trẻ ăn gì và kiêng gì cho mau khỏe và hết bệnh, bởi thực tế không phải ai cũng am hiểu về chế độ dinh dưỡng phù hợp cho bé mắc viêm họng. 

Những thực phẩm nào bé nên ăn và không nên khi bị viêm họng?

Nên ăn những thực phẩm nào khi trẻ bị viêm họng?

Thực phẩm giàu vitamin A và C

Nên cho trẻ ăn các loại hoa quả và rau củ giàu vitamin A và C để tăng cường đề kháng cơ thể. Ngoài ra, vitamin C còn có khả năng hạn chế các cơn đau ở cổ họng cho trẻ rất hiệu quả. Do vậy, hãy cho trẻ ăn nhiều cam, quýt, bưởi, táo, đu đủ… và các loại rau củ quả như rau lang, rau mồng tơi, cà rốt, khoai tây, cà chua…

Thực phẩm giàu chất kẽm: 

Kẽm có thể giúp tăng cường sức đề kháng của cơ thể và kháng virut gây bệnh rất tốt. Do đó, phụ huynh hãy cho trẻ ăn nhiều thực phẩm chứa kẽm như tôm, cua, sò, nghêu, ốc hay các loại rau củ như củ cải trắng, rau chân vịt, nước cốt dừa…

Thức ăn mềm, giàu dinh dưỡng: 

Hãy chế biến thực phẩm thành những món ăn lỏng, mềm, dễ tiêu hóa như cháo thịt nạc bằm, soup lỏng, canh… Bên cạnh đó, cha mẹ có thể cho bé uống mật ong, nước gừng chưng đường phèn, hoặc uống nước tinh bột nghệ để giảm tình trạng viêm họng cho trẻ. 

Dinh dưỡng của trẻ trong thời kì mắc viêm họng đóng vai trò rất quan trọng trong việc rút ngắn thời gian phục hồi. Do vậy, phụ huynh không được chủ quan, tốt nhất, hãy tham khảo ý kiến của chuyên gia về chế độ dinh dưỡng cho trẻ bị viêm họng để có thể xây dựng một thực đơn khoa học, tốt nhất với trẻ.

Bên cạnh những thực phẩm nên ăn thì cần phải kiêng một số khác khi trẻ viêm họng

Những thực phẩm trẻ không nên ăn khi trong tình trạng viêm họng

Theo Dược sĩ Liên thông Cao đẳng Dược cho biết: Bên cạnh trẻ bị viêm họng nên ăn gì thì những thực phẩm cần kiêng khi trẻ bị viêm họng cũng cần được lưu ý. Để tránh việc khiến bệnh tình của trẻ nặng hơn hay kéo dài thời gian viêm họng, phụ huynh không nên cho trẻ ăn những thực phẩm sau:

Thức ăn cay nóng, nhiều dầu mỡ:

 Thức ăn cay, nóng sẽ khiến cổ họng bị kích ứng, làm tình trạng sưng đau gia tăng. Đặc biệt, thức ăn nhiều dầu mỡ còn sinh ra đờm, khiến trẻ càng khó chịu và khó thở nhiều hơn. Nên việc kiêng những thực phẩm này là rất cần thiết.

Bánh kẹo ngọt, đồ uống có gas: 

Ăn đồ ngọt và uống nước có gas khi bị viêm họng làm giảm sức đề kháng của cơ thể, khiến bệnh nặng và lâu lành hơn. Do vậy, không nên cho trẻ ăn hay uống những loại này khi đang bị bệnh.

Thực phẩm lạnh: 

Cho trẻ ăn đồ ăn lạnh khi bị viêm họng sẽ khiến cổ họng bị kích thích, khiến tình trạng ho khan trở nên trầm trọng hơn, còn có khả năng gây ảnh hưởng đến phổi.

Dược sĩ hướng dẫn cha mẹ cách chăm sóc bé khi bị viêm họng

Ngoài vấn đề bé bị viêm họng nên ăn gì và cần kiêng gì, thì phụ huynh cần lưu ý một số vấn đề sau để chăm sóc trẻ viêm họng đúng cách cũng như đảm bảo an toàn cho trẻ:

  • Đầu tiên hãy giữ ấm vùng cổ họng cho trẻ, ngoài ra, hãy giữ ấm gan bàn tay, gan bàn chân và cơ thể cho trẻ thật tốt nếu thời tiết lạnh.
  • Không tự ý cho trẻ sử dụng bất cứ loại thuốc nào mà không có chỉ định từ bác sĩ. Vì viêm họng ở trẻ khá đa dạng, lại do nhiều nguyên nhân gây nên, việc tự ý dùng thuốc có thể khiến trẻ gặp phải vấn đề ngoài ý muốn.
  • Không để trẻ bỏ bữa nhưng cũng không nên ép trẻ ăn, hãy chia nhỏ bữa ăn trong ngày để trẻ ăn từ từ. Hãy cho trẻ uống nhiều nước lọc và tăng cường bú sữa mẹ.
  • Nếu phát hiện trẻ có các dấu hiệu bất thường như sốt cao không giảm, ho nhiều, khó thở, co giật,… thì cần nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế tuy tín để khám cũng như nhận chỉ định điều trị an toàn từ chuyên gia.

Nguồn: Bệnh học

Exit mobile version