Theo Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan, danh mục dịch vụ kỹ thuật được Quỹ BHYT chi trả hiện nay là hơn 9.000 dịch vụ kỹ thuật, đáp ứng hầu hết nhu cầu điều trị cơ bản của người dân. Việt Nam được đánh giá là một trong số ít quốc gia có phạm vi thuốc do Quỹ BHYT chi trả khá đầy đủ, toàn diện…
Bộ Y tế cho biết đã nhận được Công văn của Ủy ban Dân nguyện và Giám sát về việc chuyển bổ sung kiến nghị của cử tri gửi tới sau kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV, trong đó có ý kiến cử tri tỉnh Quảng Ninh.
Cử tri phản ánh hiện nay, dù có thẻ BHYT nhưng vẫn phải tự chi trả một số chi phí điều trị do danh mục thuốc, vật tư y tế và dịch vụ kỹ thuật được chi trả còn hạn chế, hoặc do tình trạng thiếu thuốc, thiếu vật tư xảy ra tại một số cơ sở khám chữa bệnh. Cử tri đề nghị Bộ Y tế chỉ đạo cập nhật đầy đủ, kịp thời danh mục thuốc, vật tư, dịch vụ kỹ thuật và tỷ lệ thanh toán BHYT; công khai thông tin để người dân nắm rõ.
Đồng thời, cần tập trung chỉ đạo khắc phục tình trạng chậm đấu thầu, thiếu thuốc, thiếu vật tư tại các cơ sở y tế; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện để chính sách BHYT thực sự trở thành điểm tựa an sinh, góp phần chăm lo, bảo vệ sức khỏe Nhân dân một cách hiệu quả và bền vững.
Việt Nam là một trong số ít quốc gia có phạm vi thuốc do Quỹ BHYT chi trả khá đầy đủ và toàn diện
Trả lời ý kiến cử tri đối với việc cập nhật, mở rộng danh mục thuốc, vật tư, dịch vụ kỹ thuật và tỷ lệ thanh toán BHYT, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết: Bộ Y tế luôn coi việc bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT, đặc biệt là việc cung ứng đầy đủ thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật và thanh toán kịp thời, minh bạch là nhiệm vụ trọng tâm, gắn với mục tiêu an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Danh mục dịch vụ kỹ thuật được Quỹ BHYT chi trả hiện nay là hơn 9.000 dịch vụ kỹ thuật, đáp ứng hầu hết nhu cầu điều trị cơ bản của người dân. Hầu hết các dịch vụ kỹ thuật đang triển khai tại cơ sở khám, chữa bệnh đều nằm trong phạm vi chi trả của Quỹ BHYT.
“Các danh mục này được Bộ Y tế thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia, phù hợp với khả năng chi trả của Quỹ BHYT cũng như của người bệnh”, Bộ trưởng Đào Hồng Lan cho hay.
Việt Nam được đánh giá là một trong số ít quốc gia có phạm vi thuốc do Quỹ BHYT chi trả khá đầy đủ và toàn diện so với mức phí đóng.
Theo quy định của Luật BHYT, mức hưởng của người tham gia có thể là 80%, 95% hoặc 100% chi phí khám, chữa bệnh tùy theo từng nhóm đối tượng.
Về danh mục thuốc, Việt Nam được đánh giá là một trong số ít quốc gia có phạm vi thuốc do Quỹ BHYT chi trả khá đầy đủ và toàn diện so với mức phí đóng. Đối với thuốc tân dược, Thông tư số 20/2022/TT-BYT ngày 31/12/2022 của Bộ Y tế về ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế đã quy định 1.037 hoạt chất/thuốc hóa dược và sinh phẩm thuộc 27 nhóm lớn, cùng 59 thuốc phóng xạ và chất đánh dấu; trong đó có 76 hoạt chất thuộc nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch.
“Danh mục này được quy định theo tên hoạt chất/thành phần, không giới hạn dạng bào chế hay tên thương mại, qua đó tạo điều kiện để số lượng thuốc thành phẩm được BHYT chi trả thực tế đa dạng và phong phú hơn”- Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết.
Bên cạnh đó, Bộ trưởng Đào Hồng Lan thông tin thêm, danh mục thuốc cổ truyền, dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền cũng rất rộng, bao gồm 229 thuốc đông y, dược liệu và 349 vị thuốc cổ truyền, được áp dụng thống nhất cho mọi tuyến khám chữa bệnh, kể cả tuyến huyện.
“Hiện nay, Bộ Y tế đang tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung danh mục này để đáp ứng tốt hơn nhu cầu điều trị”- Bộ trưởng Đào Hồng Lan chia sẻ.
Cũng theo Bộ Y tế, ngày 16/11/2024, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 37/2024/TT-BYT quy định nguyên tắc, tiêu chí xây dựng, cập nhật, ghi thông tin, cấu trúc danh mục và hướng dẫn thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT; trong đó, quy định nguyên tắc và tiêu chí xây dựng, cập nhật danh mục, tỷ lệ, mức và điều kiện thanh toán thuốc.
Trên cơ sở đó, Bộ Y tế đang xây dựng Thông tư mới thay thế Thông tư số 20/2022/TT-BYT nhằm tiếp tục mở rộng và cập nhật danh mục thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi chi trả của BHYT.
Bộ Y tế đang nghiên cứu sửa đổi Thông tư về đấu thầu thuốc để bảo đảm đồng bộ với các quy định mới
Đối với tình trạng chậm đấu thầu, thiếu thuốc, thiếu vật tư tại các cơ sở y tế, Bộ trưởng Đào Hồng Lan thông tin trong giai đoạn 2022–2023, tình trạng thiếu thuốc chỉ xảy ra cục bộ tại một số nơi, nguyên nhân do đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, khó khăn trong dự trù nhu cầu và vướng mắc đối với một số quy định đấu thầu.
Để giải quyết tình trạng này, Chính phủ, Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan đã tham mưu trình Quốc hội ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động lựa chọn nhà thầu, đặc biệt trong lĩnh vực y tế.
Các quy định mới về chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp, chào giá cạnh tranh đã cơ bản giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động lựa chọn nhà thầu, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế. Luật số 90/2025/QH15 đã có quy định phân cấp triệt để cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc quyết định hoạt động mua sắm.
Theo đó, kể từ ngày 01/7/2025 các bệnh viện tự chủ chi thường xuyên (tự chủ nhóm 2), tự chủ chi đầu tư, chi thường xuyên (tự chủ nhóm 1) được tự quyết định việc mua sắm thuốc, thiết bị y tế từ nguồn thu của bệnh viện, nguồn chi bảo hiểm y tế và các nguồn vốn khác không phải ngân sách nhà nước mà không nhất thiết phải đấu thầu theo quy định của Luật Đấu thầu.
Ngày 04/8/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 214/2025/NĐ-CP thay thế Nghị định số 24/2024/NĐ-CP và Nghị định số 17/2025/NĐ-CP, nhằm đơn giản hóa thủ tục, tăng cường minh bạch và nâng cao hiệu quả lựa chọn nhà thầu.
Trên cơ sở đó, Bộ Y tế đang nghiên cứu sửa đổi Thông tư số 07/2024/TT-BYT về đấu thầu thuốc để bảo đảm đồng bộ với các quy định mới.
Trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, đơn vị liên quan và các cơ sở khám, chữa bệnh để đẩy mạnh công khai, minh bạch thông tin về danh mục, tỷ lệ thanh toán BHYT.
Bên cạnh đó, Bộ Y tế tiếp tục tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành tập trung triển khai về đảm bảo cung ứng thuốc đặc biệt các thuốc hiếm, khó khăn về nguồn cung. Phát huy vai trò chủ động trong quản lý của chính quyền, ngành y tế địa phương trong chỉ đạo, điều hành, sự chủ động của các cơ sở y tế trong việc thường xuyên rà soát, chủ động, kịp thời lập kế hoạch và tổ chức mua sắm. Tổ chức các hội nghị, lớp đào tạo, tập huấn về các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành để việc triển khai trong thực tiễn kịp thời, hiệu quả.
“Hiện nay, các giải pháp trên đã giúp đảm bảo cơ bản đầy đủ thuốc, trang thiết bị y tế phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân”- Bộ trưởng Đào Hồng Lan nói và cho biết thêm: Trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, đơn vị liên quan và các cơ sở khám, chữa bệnh để đẩy mạnh công khai, minh bạch thông tin về danh mục, tỷ lệ thanh toán BHYT; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; đồng thời kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm.
Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) vừa yêu cầu Công ty Cổ phần Dược phẩm Pymepharco khẩn trương ngừng kinh doanh và biệt trữ toàn bộ lô thuốc Cốm pha hỗn dịch uống Pyfaclor Kid sau khi lô thuốc này bị phát hiện vi phạm chất lượng.
Lô thuốc Cốm pha hỗn dịch uống Pyfaclor Kid (Cefaclor 125mg), Số GĐKLH: VD-26427-17, Số lô: 410923 NSX: 13/09/2023 HD: 13/09/2026 do Công ty cổ phần dược phẩm Pymepharco sản xuất.
Theo yêu cầu của Cục Quản lý Dược, Pymepharco phải báo cáo tình hình phân phối lô thuốc tới các cơ sở bán buôn, cơ sở khám chữa bệnh và gửi báo cáo về Cục Quản lý Dược cùng Sở Y tế tỉnh Quảng Trị trong vòng 7 ngày, tính từ ngày 29/9/2025.
Doanh nghiệp đồng thời phải thông báo thu hồi tới tất cả cơ sở bán buôn, bán lẻ, chuỗi nhà thuốc, cơ sở khám chữa bệnh và người đã sử dụng lô thuốc này; tổ chức thu hồi và tiếp nhận toàn bộ thuốc bị thu hồi trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 29/9/2025.
Cục Quản lý Dược cũng yêu cầu Pymepharco xử lý toàn bộ lô thuốc thu hồi, chi trả chi phí thu hồi, xử lý và bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định pháp luật. Việc xử lý thuốc phải tuân thủ theo Điều 16 và Điều 17 Thông tư 30/2025/TT-BYT ngày 01/7/2025 của Bộ Y tế về tiêu chuẩn chất lượng, kiểm nghiệm, thu hồi và xử lý thuốc vi phạm.
Thu hồi trên toàn quốc lô thuốc Cốm pha hỗn dịch uống Pyfaclor Kid (Cefaclor 125mg) do Công ty cổ phần dược phẩm Pymepharco sản xuất.
Cục Quản lý Dược đề nghị các cơ sở bán buôn, bán lẻ và chuỗi nhà thuốc ngừng kinh doanh, cung cấp và cấp phát lô thuốc Cốm pha hỗn dịch uống Pyfaclor Kid bị thu hồi. Các cơ sở này phải thông báo rộng rãi và tổ chức thu hồi, tiếp nhận toàn bộ lô thuốc, đồng thời hoàn trả thuốc về đơn vị đã cung cấp.
Các cơ sở khám, chữa bệnh và người sử dụng thuốc phải ngừng việc kê đơn, bán, cấp phát và sử dụng lô thuốc này; đồng thời trả lại thuốc cho cơ sở đã cung cấp.
Sở Y tế tỉnh Quảng Trị và Sở Y tế Đắk Lắk chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát Công ty Cổ phần Dược phẩm Pymepharco trong quá trình thu hồi, đánh giá hiệu quả và xử lý lô thuốc theo quy định.
Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đơn vị y tế ngành phải thông báo cho toàn bộ cơ sở kinh doanh, sử dụng thuốc về quyết định thu hồi lô thuốc không đạt chất lượng; công bố thông tin trên trang thông tin điện tử của Sở; kiểm tra, giám sát việc thực hiện và xử lý các đơn vị vi phạm theo quy định hiện hành; đồng thời báo cáo về Cục Quản lý Dược và các cơ quan chức năng liên quan.
Quyết định thu hồi được đưa ra dựa trên kết quả kiểm nghiệm của Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm Quảng Trị, cho thấy lô thuốc Cốm pha hỗn dịch uống Pyfaclor Kid (Cefaclor 125mg) – Số GĐKLH: VD-26427-17, Số lô: 410923, NSX: 13/09/2023, HD: 13/09/2026 – không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu Tính chất và Định lượng (vi phạm mức độ 2).
Kết quả kiểm nghiệm bổ sung của Viện Kiểm nghiệm thuốc TP. Hồ Chí Minh cũng cho thấy lô thuốc này không đạt tiêu chuẩn tương tự.
Thuốc Cốm pha hỗn dịch uống Pyfaclor Kid (Cefaclor 125mg) được chỉ định trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và dưới mức độ nhẹ và vừa do vi khuẩn nhạy cảm, gồm: viêm tai giữa cấp, viêm xoang cấp, viêm họng, viêm amidan tái phát nhiều lần, viêm phế quản cấp có bội nhiễm, viêm phổi, đợt bùng phát của viêm phế quản mạn tính. Thuốc cũng được chỉ định điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu không biến chứng do các chủng vi khuẩn nhạy cảm, bao gồm viêm thận – bể thận và viêm bàng quang.
Bộ Y tế đang lấy ý kiến đóng về dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tăng cường thực thi hiệu quả Công ước quốc tế về quyền người khuyết tật và các khuyến nghị của Ủy ban về quyền người khuyết tật Liên hiệp quốc (Kế hoạch).
Dự thảo nêu rõ, mục đích của Kế hoạch nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quyết định số 1100/QĐ-TTg, ngày 21 tháng 6 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước của Liên hiệp quốc về quyền của người khuyết tật.
Đồng thời, xác định rõ nội dung công việc, lộ trình thực hiện các quy định của Công ước về quyền của người khuyết tật (Công ước) và các Khuyến nghị phù hợp của Ủy ban về quyền người khuyết tật Liên hiệp quốc (2025). Từ đó, góp phần bảo đảm quyền, nâng cao sự thụ hưởng của người khuyết tật về sức khỏe, giáo dục, văn hóa, thể thao, du lịch, việc làm, v.v… phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam; bảo đảm các yêu cầu đối ngoại, đối nội, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Tăng cường hợp tác quốc tế trong trợ giúp người khuyết tật, đặc biệt là hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thành viên Công ước và với các cơ quan của Liên hợp quốc trong việc tuyên truyền, phổ biến nội dung Công ước CRPD và các khuyến nghị phù hợp của Ủy ban về quyền người khuyết tật.
Theo dự thảo, một trong những nhiệm vụ, giải pháp Kế hoạch đặt ra là tiếp tục nội luật hóa và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm thực hiện Công ước và các khuyến nghị phù hợp của Ủy ban về quyền của người khuyết tật.
Các bộ, ngành chủ trì rà soát, đánh giá tính tương thích giữa quy định tại các dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Công ước trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật.
Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính tương thích với các quy định của Công ước, bao gồm: nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật người khuyết tật và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, trong đó chú trọng đến các quy định về chống phân biệt đối xử, cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, vấn đề giới, áp dụng hình phạt tử hình, giảm án, giam giữ đối với người khuyết tật; quyền của người khuyết tật khi tham gia, thành lập tổ chức của người khuyết tật; quyền bầu cử, ứng cử…
Trong đó, Bộ Y tế chủ trì nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Người khuyết tật (lưu ý việc thống nhất các khái niệm, định nghĩa về “giao tiếp”, “ngôn ngữ”, “điều chỉnh hợp lý”, “thiết kế phổ quát” theo Điều 2 của Công ước CRPD).
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi bổ sung các quy định về thành lập và hoạt động của các tổ chức của người khuyết tật, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, v.v…
Bộ Ngoại giao chủ trì nghiên cứu, đề xuất sửa đổi thủ tục tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế đối với các tổ chức của người khuyết tật.
Kế hoạch cũng đặt ra nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về người khuyết tật và các khuyến nghị phù hợp của Ủy ban về quyền của người khuyết tật.
Trong đó, Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tiếp tục rà soát, sửa đổi bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành Luật người khuyết tật theo cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các Bộ, ngành hiện nay và chính quyền địa phương hai cấp, đảm bảo phân định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các chính sách, pháp luật về người khuyết tật.
Bộ Y tế chủ trì sơ kết, tổng kết đánh giá việc triển khai, kết quả thực hiện Chỉ Thị 39 –CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật; Quyết định số 1100/QĐ-TTg, ngày 21/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước của Liên hiệp quốc về quyền của người khuyết tật, Quyết định số 1190/QĐ-TTg, ngày 25/8/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021 – 2030, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, biện pháp, phân công, phân nhiệm và nguồn lực cụ thể thực hiện các nội dung của chỉ thị và 2 Kế hoạch này.
Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế vừa có văn bản gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố: Huế, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hưng Yên, Phú Thọ, Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Lai Châu, Điện Biên và các tỉnh chịu ảnh hưởng của bão số 10, các cơ sở sản xuất, nhập khẩu thuốc về việc tập trung khắc phục hậu quả bão số 10 và ứng phó mưa lũ sau mưa bão.
Theo đó, Cục Quản lý Dược đề nghị Sở Y tế các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, chỉ đạo các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu thuốc trên địa bàn xây dựng kế hoạch dự trữ, cung ứng đủ thuốc phục vụ công tác khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh sau bão, lũ; bảo đảm không để xảy ra tình trạng thiếu thuốc, tăng giá đột biến;
Chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn rà soát, xây dựng, cập nhật danh mục thuốc thiết yếu phục vụ nhân dân; khẩn trương triển khai kế hoạch mua sắm, bổ sung dự trữ đảm bảo đủ cơ sở thuốc phục vụ nhân dân, kể cả trong các tình huống y tế phát sinh do thiên tai, dịch bệnh…
Cùng đó, kịp thời báo cáo về Bộ Y tế (Cục Quản lý Dược, Vụ Kế hoạch – Tài chính) khi có dấu hiệu thiếu thuốc để có phương án điều phối, hỗ trợ.
Đối với các cơ sở sản xuất, nhập khẩu thuốc phải chủ động bảo đảm duy trì nguồn cung thuốc đạt chất lượng, giá cả hợp lý, sẵn sàng cung ứng cho các nhu cầu phòng, chống dịch bệnh và khắc phục hậu quả bão, lũ. Ưu tiên bố trí nguồn hàng phục vụ cấp bách tại các khu vực bị ảnh hưởng nặng bởi bão, hoàn lưu sau bão.
Cục Quản lý Dược nêu rõ, trong quá trình triển khai, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc, đề nghị các đơn vị phản ánh về Cục Quản lý Dược (Phòng Quản lý Kinh doanh dược) để được hướng dẫn, giải quyết.
Trẻ em dân tộc thiểu số, miền núi và vùng khó khăn luôn đối mặt với nhiều nguy cơ nếu bữa ăn không đủ dinh dưỡng.
Nguy cơ từ việc không đảm bảo bữa ăn đủ dinh dưỡng
Theo các chuyên gia dinh dưỡng, khi bữa ăn bổ sung của trẻ, đặc biệt là trẻ vùng cao, vùng dân tộc thiểu số không đảm bảo đủ dinh dưỡng sẽ kéo theo nhiều hệ lụy. Trước hết, trẻ dễ bị suy dinh dưỡng thể thấp còi, nhẹ cân, chậm tăng trưởng chiều cao và cân nặng so với lứa tuổi.
Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng như sắt, kẽm, vitamin A, vitamin D… cũng phổ biến khiến trẻ giảm sức đề kháng, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu chảy, viêm phổi và khó hồi phục sau khi ốm. Không chỉ ảnh hưởng đến thể chất, dinh dưỡng kém còn tác động trực tiếp đến sự phát triển trí não.
Trẻ thiếu dinh dưỡng thường chậm biết nói, kém tập trung, giảm khả năng tiếp thu, ảnh hưởng tới kết quả học tập, cơ hội phát triển. Sự thua thiệt này tạo ra khoảng cách về tầm vóc, trí tuệ giữa trẻ em vùng cao với trẻ ở khu vực thuận lợi, làm gia tăng bất bình đẳng trong phát triển con người.
Đáng lo ngại hơn, suy dinh dưỡng trẻ em góp phần duy trì vòng luẩn quẩn nghèo đói và bệnh tật khiến thế hệ tương lai khó có thể bứt phá.
Cán bộ Trạm Y tế xã Quảng Long cân, đo theo dõi thể trạng trẻ em. Ảnh: Hoài Minh
Nhiều chương trình phòng chống suy dinh dưỡng
Tại Quảng Ninh, theo số liệu thống kê đến tháng 6/2025, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể cân nặng theo tuổi trên địa bàn tỉnh là 4,74%. Điều này cho thấy, tỉnh vẫn còn hàng nghìn trẻ bị suy dinh dưỡng thể thấp còi, nhẹ cân, tập trung chủ yếu ở các địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Quảng Ninh đã thực hiện chương trình phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em thông qua việc lồng ghép các đề án, chương trình. Chẳng hạn như: “Nâng cao chất lượng dân số vùng đồng bào DTTS và miền núi”, thực hiện đề án “Dân số và phát triển tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023-2025, định hướng đến năm 2030”, đề án “Tuyên truyền, vận động cải thiện dinh dưỡng, thể lực cho trẻ em vùng cao, vùng sâu, vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025”, dự án “Chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao thể trạng, tầm vóc người DTTS, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em”…
Các cấp, ngành, đơn vị giáo dục và tổ chức đoàn thể đã triển khai nhiều hoạt động sáng tạo, thiết thực. Tiêu biểu như, tháng 7/2025, CDC Quảng Ninh tổ chức chiến dịch bổ sung vitamin A đợt 1 năm 2025, đặt mục tiêu ít nhất 98% trẻ từ 6 đến dưới 36 tháng tuổi được uống vitamin A. Trẻ từ 6 đến dưới 12 tháng tuổi uống 1 viên 100.000 IU, trẻ từ 12 đến dưới 36 tháng uống 1 viên 200.000 IU. Ngoài ra, trẻ từ 6 đến dưới 60 tháng mắc các bệnh như tiêu chảy kéo dài, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính hoặc suy dinh dưỡng cấp tính cũng được bổ sung vitamin A theo chỉ định của Bộ Y tế.
Tại Trường Mầm non Yên Than (xã Điền Xá), năm học 2025–2026 có 8 lớp với hơn 160 học sinh, trong đó 65% là trẻ dân tộc Sán Chỉ và Tày. Đời sống phụ huynh còn khó khăn nên giáo viên và học sinh tận dụng đất trống trong sân trường để trồng rau xanh. Những vườn rau sạch vừa giúp tiết kiệm chi phí, vừa đảm bảo thực phẩm rõ nguồn gốc cho bữa ăn bán trú. Nhà trường còn cử giáo viên đến từng hộ gia đình tuyên truyền về chế độ dinh dưỡng hợp lý. Thực đơn bữa trưa được xây dựng cân đối, phong phú dựa trên thực phẩm địa phương…
Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Quảng Ninh cũng tích cực nhiều hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Qua những buổi tuyên truyền, chị em phụ nữ nuôi con nhỏ sẽ biết thêm về kiến thức, kỹ năng phòng, chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, chế độ dinh dưỡng từ thực đơn hằng ngày đảm bảo năng lượng và chất cho trẻ, cách chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng cho trẻ em theo từng mùa và giai đoạn phát triển.
Tại xã Điền Xá, cán bộ Hội đến từng hộ gia đình có con nhỏ để hướng dẫn về chế độ dinh dưỡng theo mùa, theo độ tuổi; kêu gọi hỗ trợ sữa, thực phẩm cho trẻ khó khăn. Một số mô hình hiệu quả như “Câu lạc bộ chăm sóc – giáo dục trẻ thơ” tại xã Quảng Tân hay nhóm “Cha mẹ chăm sóc – giáo dục phát triển toàn diện trẻ thơ” (30 thành viên, sinh hoạt mỗi quý/lần) đã giúp nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi chăm sóc, dinh dưỡng cho trẻ. Đặc biệt, tại các thôn người Dao sinh sống, nội dung tuyên truyền còn được phiên dịch sang tiếng dân tộc, giúp bà con dễ hiểu, dễ áp dụng hơn góp phần tăng thêm hiệu quả tuyên truyền.
Các mô hình trường học xanh, bữa ăn bán trú đủ chất, kết hợp truyền thông dinh dưỡng đến từng hộ gia đình đã góp phần giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho trẻ em vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Quảng Ninh.
Văn phòng Chính phủ vừa có Văn bản số 9425/VPCP-KGVX truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long về việc xử lý thông tin phản ánh liên quan đến giải pháp đồng bộ bảo đảm ATTP học đường.
Văn bản nêu rõ, theo phản ánh, bước vào năm học 2025-2026, ATTP học đường tiếp tục là mối lo ngại khi nguy cơ mất an toàn không chỉ xuất phát từ bữa ăn bán trú trong trường mà còn từ thực phẩm bày bán quanh cổng trường.
Dù đã có các mô hình như tự nấu, suất ăn sẵn hay chế biến tại chỗ, việc truy xuất nguồn gốc vẫn chủ yếu dựa vào giấy tờ, chưa kiểm soát tận gốc. Công tác giám sát an toàn thực phẩm (ATTP) còn lỏng lẻo do thiếu sự phối hợp giữa nhà trường, phụ huynh và đơn vị cung cấp. Ngoài ra, thực phẩm từ hàng rong không rõ nguồn gốc, chế biến kém vệ sinh cũng tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc cao cho học sinh.
Trước thực trạng này, các chuyên gia đề xuất cần một giải pháp đồng bộ, bền vững, không chỉ siết chặt từ khâu cung ứng đến chế biến trong trường mà còn tăng cường kiểm soát khu vực xung quanh. Ba yếu tố cốt lõi được nhấn mạnh là: cơ chế – công nghệ – cộng đồng.
Cụ thể, cần thực thi nghiêm Luật ATTP; tăng cường thanh tra, xử lý vi phạm; ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc qua mã QR; đồng thời phát huy vai trò giám sát xã hội và nâng cao nhận thức của phụ huynh, học sinh.
Về vấn đề này, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất giải pháp đồng bộ bảo đảm ATTP học đường; chủ động thực hiện theo thẩm quyền hoặc báo cáo, kiến nghị cấp có thẩm quyền những giải pháp phù hợp nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, bảo đảm ATTP tại các cơ sở giáo dục, đào tạo./.
Mạng lưới y tế công lập của tỉnh Tây Ninh (mới) gồm 11 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến tỉnh; 26 trung tâm y tế khu vực; 96 trạm y tế trung tâm và 9 bệnh viện tư nhân.
Trung tâm Y tế khu vực Bến Lức (Tây Ninh) vừa được đầu tư máy khám mắt mới. (Ảnh: Đức Hạnh/TTXVN)
Sau khi hai tỉnh Long An và Tây Ninh sáp nhập thành tỉnh Tây Ninh, hệ thống y tế trên địa bàn đã được kiện toàn, sắp xếp lại nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, phục vụ tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân.
Hiện nay, mạng lưới y tế công lập của tỉnh Tây Ninh (mới) gồm 11 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến tỉnh; 26 trung tâm y tế khu vực; 96 trạm y tế trung tâm cùng nhiều trạm y tế điểm.
Song song đó, hệ thống y tế tư nhân cũng phát triển mạnh với 9 bệnh viện tư nhân và gần 2.000 phòng khám đa khoa, chuyên khoa… góp phần quan trọng trong việc giảm tải cho tuyến trên, bảo đảm người dân được tiếp cận dịch vụ y tế ngay tại cơ sở.
Các trung tâm y tế huyện trước đây được chuyển đổi thành trung tâm y tế khu vực. Trung tâm Y tế khu vực Bến Lức (trước đây là Trung tâm Y tế huyện Bến Lức) phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân các xã Bến Lức, Thạnh Lợi, Bình Đức, Lương Hòa, Mỹ Yên.
Với đặc thù là địa bàn tập trung đông khu, cụm công nghiệp, lượng công nhân lớn, trung tâm đã trở thành điểm đến tin cậy của người dân trong vùng. Những năm gần đây, cùng với đề án đầu tư trang thiết bị của tỉnh, đội ngũ y bác sỹ tại trung tâm không ngừng nỗ lực đổi mới, nâng cao chất lượng phục vụ.
Các Trung tâm Y tế khu vực tại tỉnh Tây Ninh ngày càng phục vụ tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân. (Ảnh: Đức Hạnh/TTXVN)
Bác sỹ Nguyễn Văn Tùng, Phó trưởng Khoa Khám bệnh – Trung tâm Y tế khu vực Bến Lức cho biết khoa hiện có 10 phòng khám, được trang bị máy móc cơ bản như thiết bị đo mắt, nội soi tai mũi họng, máy nha khoa… Nhờ đó, nhiều bệnh lý thông thường được xử lý ngay tại tuyến cơ sở, bệnh nhân không phải chuyển lên tuyến trên.
Tuy nhiên, hiện trung tâm vẫn thiếu đội ngũ bác sỹ kế thừa, đặc biệt ở các chuyên khoa mắt, răng hàm mặt, tai mũi họng hiện chỉ có 1 bác sỹ. Nếu bác sỹ bận hoặc nghỉ đột xuất thì việc bố trí người thay thế gặp khó khăn.
Chị Võ Ngọc Phương Linh, ngụ xã Bến Lức chia sẻ: “Quy trình khám chữa bệnh tại Trung tâm y tế hiện nay rất thuận lợi, bệnh nhân được hướng dẫn tận tình, không phải chờ đợi lâu. Cơ sở vật chất mới khang trang, thiết bị hiện đại hơn, bác sỹ nhiệt tình, niềm nở. Gia đình tôi có bà nội, bà ngoại lớn tuổi thường xuyên đến khám bệnh như tim mạch, huyết áp tại đây và thấy rất yên tâm.”
Theo Sở Y tế tỉnh Tây Ninh, nhiều bệnh viện tuyến tỉnh cũng được trang bị các thiết bị hiện đại như hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền DSA, máy cộng hưởng từ MRI 1.5 Tesla, CT Scanner 128 lát cắt, hệ thống định vị phẫu thuật thần kinh sọ não, máy lọc máu liên tục, hệ thống đốt sóng cao tần RFA.
Đặc biệt, 89 máy lọc thận nhân tạo đã được bổ sung cho các cơ sở y tế công lập, tăng số lượng bệnh nhân được điều trị suy thận ngay tại địa phương. Sự đầu tư này không chỉ giúp nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị, còn giảm tải đáng kể tình trạng chuyển tuyến, tiết kiệm chi phí và thời gian cho người dân.
Ông Đỗ Hồng Sơn, Giám đốc Sở Y tế Tây Ninh cho biết năm 2025, tỉnh triển khai dự án mua sắm máy chạy thận nhân tạo và một số trang thiết bị cấp bách với tổng vốn 75 tỷ đồng.
Ngoài ra, tỉnh cũng phân bổ hơn 135 tỷ đồng để mua sắm trang thiết bị thiết yếu cho các trung tâm y tế khu vực.
Theo Giám đốc Sở Y tế Tây Ninh, giai đoạn mới, ngành y tế sẽ tập trung sắp xếp tổ chức, ổn định nhân lực, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đẩy mạnh giám sát dịch bệnh và kiện toàn y tế cơ sở.
Công tác đấu thầu, mua sắm thuốc và vật tư y tế sẽ được thực hiện minh bạch, hiệu quả nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân.
Ngành y tế Tây Ninh tiếp tục chú trọng đầu tư trang thiết bị hiện đại, nâng cao tay nghề cho đội ngũ y bác sỹ, hướng tới mục tiêu phát triển các kỹ thuật chuyên sâu, tạo điều kiện để nhân dân được thụ hưởng dịch vụ y tế chất lượng cao ngay tại địa phương./.
Khói thuốc lá chứa hàng nghìn chất độc hại. Với các loại thuốc lá mới, nhất là thuốc lá điện tử được các công ty sản xuất quảng cáo là “ít hại hơn” nhưng thực tế chứa hàm lượng nicotine rất cao để tăng khả năng gây nghiện, thậm chí bị lợi dụng pha trộn ma tuý.
Các bạn trẻ hãy nói không với thuốc lá.
Theo các nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới, thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong có thể phòng tránh, với hàng triệu ca tử vong mỗi năm trên toàn cầu. Các hợp chất độc hại trong thuốc lá, bao gồm nicotine, hắc ín và các chất gây ung thư, đã được chứng minh là tác nhân trực tiếp dẫn đến ung thư, bệnh tim mạch, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và nhiều hệ lụy sức khỏe khác. Đặc biệt, các sản phẩm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng – dù được quảng bá là “an toàn hơn” – thực chất vẫn chứa nhiều hóa chất độc hại, có khả năng gây nghiện mạnh, tác động tiêu cực đến hệ thần kinh và sự phát triển của não bộ ở người trẻ. Đây là những nguy cơ tiềm ẩn, đã và đang được các công trình nghiên cứu y học cảnh báo mạnh mẽ.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hương, Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá (Bộ Y tế) cho biết, khói thuốc lá chứa 7.000 chất độc hại, trong đó có 69 chất gây ung thư. Các loại thuốc lá mới chứa hàm lượng nicotine cao hơn bình thường, khả năng gây nghiện mạnh hơn, thậm chí bị lợi dụng để chứa ma tuý. Những loại thuốc lá mới dù được các công ty thuốc lá quảng cáo là “ít hại hơn” nhưng vẫn chứa nicotine, thậm chí chứa hàm lượng nicotine cao hơn bình thường, khả năng gây nghiện mạnh hơn và còn bị lợi dụng để chứa ma tuý.
Với chiêu bài “ít hại hơn”, thuốc lá mới “tấn công” giới trẻ, trong đó có sinh viên, nó ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ tinh thần, thể chất người sử dụng; ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, học tập, đến tương lai các em. Tuy nhiên, nhiều người vẫn mơ hồ về tác hại của thuốc lá, nhất là các loại thuốc lá mới. Không ít thanh niên, sinh viên bị khuất phục trước sự hấp dẫn giả tạo của thuốc lá, dẫn đến lệ thuộc vào thuốc lá. Đây được xem là khách hàng rất tiềm tàng bởi một khi thử hút lần đầu, một tỷ lệ lớn giới trẻ sẽ hút thuốc lâu dài. Độ tuổi thích “thử” thường từ 13 đến 24 tuổi. Do vậy các bạn trẻ cần biết nói “không” với thuốc lá, vì sức khoẻ bản thân, người thân và cộng đồng.
Mới đây, một cô gái mới ngoài 20 tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh đã rơi vào tình trạng ngừng tim nguy kịch, khi được đưa đến Bệnh viện Nhân dân 115 đã rơi vào tình trạng hôn mê, tụt huyết áp nặng và nhanh chóng ngừng tuần hoàn. Các bác sĩ phải tiến hành hồi sức tim phổi nâng cao, sốc điện nhiều lần, thở máy, sử dụng thuốc vận mạch và lọc máu liên tục để điều trị suy đa tạng. Rất may, sau 14 ngày điều trị tích cực, bệnh nhân mới hồi phục và xuất viện, may mắn không để lại di chứng thần kinh.
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do bệnh nhân có tiền sử gần hai năm thường xuyên sử dụng thuốc lá điện tử. Trên thế giới, nhiều báo cáo cũng ghi nhận các ca ngừng tim đột ngột ở người trẻ có thói quen hút thuốc lá điện tử. Khi đốt nóng, thuốc lá điện tử tạo ra hỗn hợp khí chứa nicotine, aldehyde, acrolein, hợp chất hữu cơ bay hơi và kim loại nặng – những chất có thể làm rối loạn nhịp thất nguy hiểm.
Tổ chức Y tế thế giới đã ước tính, tại Việt Nam có khoảng 40.000 người tử vong/năm vì các bệnh có liên quan đến thuốc lá, đến năm 2030, sẽ tăng lên tới 70.000 người/năm nếu các biện pháp can thiệp hiệu quả. Riêng tại Bệnh viện K, tỷ lệ bệnh nhân ung thư phổi có hút thuốc lá lên tới 96,8%.
Nhằm ngăn chặn thuốc lá mới tấn công vào giới trẻ, Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá đang phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức các chương trình Truyền thông trực tiếp về tác hại của thuốc lá, thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng. Tại các sự kiện, các cơ quan quản lý, nhà khoa học cung cấp các luận cứ xác thực, cập nhật về tác động tiêu cực của các sản phẩm thuốc lá đối với sức khỏe cộng đồng, từ đó nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, hình thành thói quen lành mạnh và lan tỏa thông điệp “thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng – Nguy hại cho sức khỏe, cho tương lai và cho cả cộng đồng”. Việc chủ động tiếp cận thông tin khoa học, nhận diện đúng các nguy cơ và xây dựng lối sống lành mạnh là của mỗi cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội.
Đại diện các đơn vị tổ chức đề nghị, mong muốn các bạn trẻ hãy kiên quyết “nói không” với thuốc lá dưới mọi hình thức, bởi chỉ một quyết định sai lầm nhất thời cũng có thể để lại hậu quả lâu dài cho sức khỏe và thậm chí sự nghiệp của các em.
18 tháng tuổi, bé T.L mắc suy giảm miễn dịch bẩm sinh thể nặng kết hợp – một thể bệnh nặng nhất trong nhóm rối loạn miễn dịch bẩm sinh đã vượt qua hành trình ghép tế bào gốc tủy xương đầy thách thức để được hồi sinh.
Bệnh nhi được chăm sóc và theo dõi sát sao trong quá trình hậu ghép.
Bé gái mắc thể bệnh nặng nhất trong nhóm rối loạn miễn dịch bẩm sinh
Mắc bệnh nặng ngay từ 4 tháng sau sinh, bé gái T.L (18 tháng tuổi, ở Hải Phòng) bắt đầu có những đợt viêm phổi, phải nhập viện điều trị dài ngày. Thời điểm này, hệ miễn dịch của trẻ liên tục gặp các vấn đề nghiêm trọng như xuất hiện biến chứng hạch nách sưng to sau khi tiêm phòng lao.
Tháng 8/2024, gia đình đã đưa trẻ đến Bệnh viện Nhi Trung ương thăm khám, thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu về miễn dịch và di truyền, kết quả xác định trẻ mắc suy giảm miễn dịch bẩm sinh thể nặng kết hợp do đột biến gene hiếm gặp.
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Vân Anh, Phó Trưởng khoa Miễn dịch-Dị ứng-Khớp, Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, T.L mắc thể bệnh nặng nhất của rối loạn miễn dịch bẩm sinh – hội chứng Omenn, vừa suy giảm nặng dòng tế bào lympho khiến trẻ dễ bị nhiễm trùng nặng, vừa có hiện tượng cơ thể có phản ứng tự viêm, khiến trẻ có tổn thương da đỏ da toàn thân, tổn thương các cơ quan, tăng men gan dai dẳng.
Ngoài biện pháp cách ly, sử dụng kháng sinh chống lại vi khuẩn, nấm, lao, virus, trẻ còn phải dùng thuốc ức chế miễn dịch để làm giảm các phản ứng tự viêm. Vì vậy, việc chuẩn bị cho ghép tế bào gốc tạo máu cấp cho trẻ được tiến hành khẩn trương. Đây là biện pháp vô cùng quan trọng, có thể giúp hệ miễn dịch của trẻ phục hồi hoàn toàn.
T.L đã có thể thỏa thích vui chơi, tươi cười như một trẻ khỏe mạnh.
Sau khi hội chẩn bệnh viện dưới sự chủ trì của Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng – Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, các bác sĩ xác định ghép tế bào gốc tạo máu là con đường cấp thiết để cứu sống T.L. Tuy nhiên, giai đoạn điều trị này vô cùng căng thẳng, bởi trẻ bị nhiễm trùng và tổn thương gan nặng, tưởng chừng không thể vượt qua.
Với sự quyết tâm của các y, bác sĩ, qua rất nhiều cuộc hội chẩn, phối hợp đa chuyên ngành miễn dịch, hô hấp, gan mật, hồi sức và tế bào gốc, đến tháng 7/2025 toàn trạng trẻ ổn định hơn để sẵn sàng cho việc ghép tế bào gốc.
Trải qua thách thức trong ghép tế bào gốc cho trẻ nhỏ
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh Lê – Trưởng khoa Ghép Tế bào gốc, Trung tâm Tế bào gốc, Bệnh viện Nhi Trung ương cho hay, quy trình ghép tế bào gốc ở trẻ nhỏ đặc biệt phức tạp. Trước tiên, bệnh nhi phải trải qua giai đoạn điều kiện hóa theo phác đồ hóa chất đặc hiệu, nhằm loại bỏ toàn bộ tủy xương cũ và ngăn ngừa sự đào thải.
Với trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, điều trị hóa chất rất khó khăn, bởi cơ thể non nớt, khả năng dung nạp thuốc kém, nguy cơ biến chứng cao.
Tại Trung tâm Tế bào gốc, tủy xương sau khi được lấy từ chị gái bệnh nhi, được xử lý bằng hệ thống thiết bị hiện đại, bảo đảm quy trình vô trùng nghiêm ngặt. Quá trình này diễn ra rất khẩn trương và chỉ trong vòng chưa đầy một giờ, tế bào gốc đạt chuẩn đã sẵn sàng để truyền vào cơ thể bệnh nhi.
Trực tiếp thực hiện ca ghép, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh Lê cho biết, ghép tế bào gốc cho trẻ nhỏ là thách thức rất lớn, nhất là đối với bệnh nhi có tình trạng nhiễm khuẩn rất nặng như T.L, không chỉ đòi hỏi kỹ thuật hiện đại mà còn cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa: Hồi sức hô hấp, dinh dưỡng, kiểm soát nhiễm khuẩn, truyền máu và miễn dịch. Từng khâu trong phòng ghép đều phải chính xác tuyệt đối để bảo đảm an toàn cho bệnh nhi.
Sau ca ghép, T.L được điều trị trong phòng vô khuẩn hoàn toàn, nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch, sử dụng thuốc chống thải ghép thế hệ mới và theo dõi sát tình trạng, thực hiện xét nghiệm huyết học, miễn dịch hàng ngày.
Có những giai đoạn trẻ mắc viêm phổi nặng và nhiễm khuẩn máu phải hỗ trợ bằng thông khí nhân tạo xâm nhập, đồng thời truyền nhiều loại kháng sinh mạnh để kiểm soát nhiễm khuẩn. Song, với nỗ lực và quyết tâm không dừng bước của đội ngũ y bác sĩ trong quá trình chăm sóc, hồi sức, tế bào tủy mới của T.L đã phát triển, các chỉ số máu ổn định và hệ miễn dịch mới đã hình thành.
Đến nay, T.L đã có thể tự thở, bú mẹ, cười đùa như một em bé khỏe mạnh và được ra viện. Bác sĩ đánh giá tiên lượng của bé khả quan, sau khi trở về cuộc sống thường nhật, trẻ hoàn toàn có thể phát triển bình thường như bao em nhỏ khác.
Ban lãnh đạo và các y bác sĩ Trung tâm Tế bào gốc tiễn bệnh nhi ra viện trong niềm hạnh phúc.
Xúc động khi thấy con vượt qua nguy kịch và khỏe mạnh trở lại, mẹ T.L nghẹn ngào chia sẻ, niềm hạnh phúc này không thể diễn tả bằng lời. “Gia đình tôi đã được các bác sĩ trao con lại từ tay tử thần. Con có thể vui chơi, cười nói trở lại là món quà vô giá. Gia đình chúng tôi biết ơn Ban lãnh đạo Bệnh viện, các bác sĩ của Trung tâm Tế bào gốc và Khoa Miễn dịch-Dị ứng-Khớp rất nhiều, các bác đã luôn đồng hành, giúp đỡ con và gia đình trong suốt gần 1 năm qua”, mẹ bệnh nhi xúc động nói.
Trước thực trạng các bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh ở trẻ em ngày càng gia tăng nhưng phần lớn không được phát hiện và điều trị kịp thời, câu chuyện của T.L là minh chứng cho tầm quan trọng của chẩn đoán sớm và sự tiến bộ của ứng dụng ghép tế bào gốc trong y học.
Tại Khóa họp Đại hội đồng Y tế Thế giới (WHA) lần thứ 78 vừa diễn ra tại Thụy Sĩ, 124 quốc gia thành viên Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nhất trí thông qua thỏa thuận toàn cầu về tăng cường khả năng ứng phó đại dịch trong tương lai.
Nhân viên y tế tiêm vaccine cho trẻ
Đối với Việt Nam, việc vận dụng tích hợp các khuyến nghị từ nghị quyết này không chỉ giúp bắt nhịp xu thế quốc tế mà còn mở ra cơ hội cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe toàn dân theo hướng bền vững.
Theo Bộ Y tế, thời gian qua hệ thống y tế Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong kiểm soát dịch bệnh, mở rộng mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao năng lực điều trị. Tuy nhiên, 70% gánh nặng bệnh tật hiện nay đến từ các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư, tiểu đường, bệnh phổi mạn tính – phần lớn có thể phòng ngừa hoặc kiểm soát nếu được phát hiện sớm.
“Nếu không chuyển trọng tâm sang phòng ngừa, chúng ta sẽ mãi chạy theo điều trị và không bao giờ đủ nguồn lực. Sàng lọc sớm không chỉ cứu sống hàng ngàn sinh mạng mỗi năm mà còn giúp hệ thống y tế tiết kiệm hàng ngàn tỷ đồng chi phí”, PGS-TS Nguyễn Thị Liên Hương, Thứ trưởng Bộ Y tế, nhấn mạnh.
Khuyến nghị từ Nghị quyết WHA 78 chỉ rõ: muốn nâng cao tuổi thọ khỏe mạnh và giảm chi phí y tế dài hạn, mỗi quốc gia cần lấy phòng ngừa – phát hiện sớm – can thiệp kịp thời làm trụ cột của mọi chiến lược y tế.
Một trong những khuyến nghị cốt lõi là phát triển mô hình sàng lọc sớm và quản lý nguy cơ tại cộng đồng. Thực tế cho thấy, chi phí điều trị ung thư giai đoạn muộn cao gấp 5-10 lần so với phát hiện sớm; phát hiện sớm tăng huyết áp hay bệnh phổi mạn tính giúp giảm hàng chục phần trăm nguy cơ biến chứng tim mạch và tử vong.
Hiện Việt Nam đã triển khai một số chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung, ung thư vú, đái tháo đường tại cộng đồng, nhưng phạm vi còn hạn chế. Trong chiến lược sắp tới, cần xây dựng lộ trình sàng lọc toàn dân, kết hợp y tế cơ sở, y tế tư nhân, bảo hiểm y tế và hệ thống dữ liệu quốc gia.
Các chuyên gia cho rằng, để đạt mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân, Việt Nam cần xây dựng chiến lược y tế theo hướng đa ngành – dài hạn – lấy con người làm trung tâm. Trong đó các trụ cột chính cần bao gồm:
– Phòng ngừa chủ động: đưa mục tiêu dự phòng lên hàng đầu trong mọi chương trình y tế quốc gia.
Sàng lọc toàn dân: tổ chức định kỳ, ưu tiên nhóm nguy cơ cao, mở rộng đến vùng sâu, vùng xa.
– Đổi mới công nghệ – chuyển đổi số: dữ liệu hóa y tế, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dự phòng, giám sát, chẩn đoán sớm.
– Tăng cường y tế công cộng: củng cố y tế cơ sở, đào tạo nhân lực, mở rộng dịch vụ cộng đồng.
Việc tích hợp khuyến nghị từ Nghị quyết WHA 78 vào chính sách y tế quốc gia là bước đi chiến lược giúp Việt Nam xây dựng một hệ thống y tế công cộng hiện đại, công bằng và bền vững.
Khi phòng ngừa trở thành “chìa khóa”, sàng lọc sớm là “lá chắn” và chuyển đổi số là “động lực”, mục tiêu “sức khỏe suốt vòng đời cho mọi người dân” sẽ không chỉ là tầm nhìn xa, mà là thực tế hoàn toàn có thể đạt được.
Nghị quyết WHA 78 được thông qua với 124 quốc gia bỏ phiếu ủng hộ, không có quốc gia nào phản đối và 11 nước bỏ phiếu trắng.
Dự thảo thỏa thuận nhấn mạnh đến việc khắc phục các bất bình đẳng trong phát triển thuốc, vaccine và trang thiết bị y tế, rút ra từ bài học đại dịch Covid-19 giai đoạn 2020 – 2022, vốn đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người trên toàn cầu.