Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân với những mục tiêu phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, vừa được ban hành như một luồng gió mới, mang theo sức sống mãnh liệt cho ngành y tế nói chung và cộng đồng y tế tư nhân nói riêng.
Nghị quyết 72 tạo đột phá chiến lược cho phát triển y tế tư nhân
Là một người hoạt động hơn 20 năm trong lĩnh vực y tế, với vai trò Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam và thành viên Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, GS Nguyễn Văn Đệ bày tỏ sự phấn khởi khi đón nhận văn kiện quan trọng này.
Theo ông, Nghị quyết 72-NQ/TW không chỉ là kết tinh của trí tuệ tập thể Đảng ta dưới sự chỉ đạo trực tiếp, sâu sát của Tổng Bí thư Tô Lâm, mà còn phản ánh sự quan tâm đặc biệt, quyết liệt của các thành viên Chính phủ, sự sát sao của Thường trực Chính phủ, đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã tận tâm, tận lực để văn kiện này trở thành hiện thực, tạo động lực mạnh mẽ cho y tế tư nhân phát triển vượt bậc.
Đặc biệt, cộng đồng y tế tư nhân Việt Nam rất vui mừng, phấn khởi khi đón nhận nghị quyết này như một luồng sinh khí mới, khơi dậy khí thế, động lực, lòng quyết tâm và sự hưng phấn để yên tâm đầu tư, dấn thân vào sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Nghị quyết ra đời trong bối cảnh đặc biệt, tạo đà cho Việt Nam cất cánh
Nghị quyết 72-NQ/TW ra đời trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, khi Đảng ta đang triển khai đồng bộ “Bộ tứ nghị quyết trụ cột” nhằm tạo đà cho Việt Nam cất cánh, vươn mình ra thế giới. Đó là Nghị quyết 57-NQ/TW về thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, Nghị quyết 59-NQ/TW về chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân và Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới toàn diện công tác xây dựng, thi hành pháp luật.
Gần đây nhất, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã bổ sung thêm sức mạnh, tạo nên một hệ thống nghị quyết chiến lược, liên kết chặt chẽ, dưới sự định hướng khoa học của Đảng. Trong dòng chảy cách mạng ấy, Nghị quyết 72-NQ/TW nổi lên như một trụ cột quan trọng, không chỉ tập trung vào y tế mà còn hòa quyện hài hòa với các lĩnh vực khác, góp phần xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước. Với những định hướng đột phá, đặc biệt trong việc tháo gỡ khó khăn cho y tế tư nhân, nghị quyết đã mang lại niềm tin mãnh liệt, khơi dậy tinh thần hăng hái của cộng đồng y tế tư nhân trong việc đóng góp vào sự nghiệp y tế quốc gia.
Lộ trình rõ ràng, khả thi
GS Nguyễn Văn Đệ, Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam – Ảnh: VGP/HM
Xét về mặt khoa học và chiến lược, Nghị quyết 72-NQ/TW đã phân tích sâu sắc thực trạng hệ thống y tế Việt Nam, chỉ rõ những thành tựu đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, bất cập tồn tại, trong đó có những rào cản lớn đối với sự phát triển của y tế tư nhân.
Bên cạnh việc nâng cao năng lực phòng ngừa, kiểm soát dịch bệnh, hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở, Nghị quyết đã vạch ra lộ trình rõ ràng, khả thi đến năm 2030 và tầm nhìn 2045, với những chính sách mang tính đột phá nhằm tháo gỡ những vướng mắc lâu nay.
Đặc biệt, Nghị quyết tập trung vào vai trò của y tế tư nhân như một động lực then chốt, tạo điều kiện thuận lợi để khu vực này đầu tư, mở rộng, góp phần giảm tải cho y tế công lập và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Với cộng đồng y tế tư nhân, GS Nguyễn Văn Đệ cho rằng, đây là cơ hội vàng để vượt qua những trở ngại lớn, từ hạn chế về đất đai, tài chính đến các rào cản pháp lý, để vươn mình phát triển mạnh mẽ.
7 điểm đột phá trong tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của y tế tư nhân
Một trong những điểm nhấn quan trọng nhất của Nghị quyết 72-NQ/TW là việc đưa ra các cơ chế, chính sách cụ thể nhằm tháo gỡ những khó khăn lớn nhất mà y tế tư nhân đang đối mặt, đồng thời tạo động lực mạnh mẽ để khu vực này phát triển bền vững. Những chính sách này không chỉ mang tính đột phá mà còn thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với vai trò của y tế tư nhân trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Nghị quyết tập trung vào vai trò của y tế tư nhân như một động lực then chốt, tạo điều kiện thuận lợi để khu vực này đầu tư, mở rộng, góp phần giảm tải cho y tế công lập và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Trước hết, việc ưu tiên quỹ đất sạch, đất thu hồi từ các dự án, cùng với việc cho phép chuyển đổi linh hoạt mục đích sử dụng đất sang đất y tế, là một bước tiến lớn, giải quyết triệt để vấn đề đất đai – một trong những rào cản lớn nhất đối với các nhà đầu tư y tế tư nhân kéo dài, dai dẳng trong suốt nhiều thập kỷ qua.
Trong bối cảnh quỹ đất tại các đô thị lớn ngày càng khan hiếm, chính sách này sẽ giúp các bệnh viện tư nhân tiếp cận nguồn lực đất đai một cách dễ dàng hơn, đồng thời tạo điều kiện để xây dựng các cơ sở y tế hiện đại, quy mô lớn, tạo nền tảng quan trọng để phát triển các bệnh viện chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, đồng thời giảm áp lực cho hệ thống y tế công lập.
Thứ hai, việc cho phép áp dụng cơ chế giải phóng mặt bằng nhanh để phát triển cơ sở chăm sóc sức khỏe là một quyết định trí tuệ, sáng kiến mang tính đột phá, giúp rút ngắn thời gian triển khai các dự án y tế tư nhân. Trước đây, quy trình giải phóng mặt bằng thường kéo dài, phức tạp, gây chậm trễ và tăng chi phí đầu tư. Với cơ chế mới, các nhà đầu tư y tế tư nhân có thể triển khai dự án một cách nhanh chóng, hiệu quả, từ đó sớm đưa vào hoạt động các cơ sở y tế chất lượng cao, phục vụ cộng đồng. Điều này đã thể hiện rõ sự quyết tâm của Đảng trong việc cải thiện môi trường đầu tư, khơi dậy tinh thần hăng hái của cộng đồng y tế tư nhân trong việc tham gia vào sự nghiệp y tế quốc gia.
Thứ ba, chính sách không thu tiền sử dụng đất, giảm hoặc miễn tiền thuê đất đối với cơ sở y tế tư nhân phi lợi nhuận là một nội dung mang tính nhân văn sâu sắc. Đối với các cơ sở y tế tư nhân không vì mục tiêu lợi nhuận, đây là sự hỗ trợ thiết thực, giúp giảm đáng kể chi phí vận hành, từ đó tạo điều kiện để họ cung cấp dịch vụ y tế với giá cả hợp lý, tiếp cận được với nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người có thu nhập thấp, điều này đã rõ nét cho định hướng của Đảng trong việc phát triển y tế toàn diện, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Thứ tư, việc không áp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với cơ sở y tế tư nhân phi lợi nhuận, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, là một chính sách đột phá, tạo động lực mạnh mẽ để khu vực này phát triển. Trước đây, gánh nặng thuế đã là một rào cản lớn khiến nhiều tổ chức y tế tư nhân gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động. Với chính sách này, các cơ sở y tế phi lợi nhuận có thể tái đầu tư toàn bộ nguồn lực vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ, mua sắm trang thiết bị hiện đại và đào tạo nhân lực, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Thứ năm, việc cho phép áp dụng hình thức thuê công trình thuộc sở hữu nhà nước đối với cơ sở y tế tư nhân theo quy định là một sáng kiến sáng tạo, giúp tận dụng tối đa cơ sở hạ tầng sẵn có của nhà nước, góp phần giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu cho các nhà đầu tư tư nhân, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở y tế tư nhân nhanh chóng đi vào hoạt động, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, nơi nguồn lực y tế còn hạn chế. Điều này thể hiện sự linh hoạt và tầm nhìn xa của Đảng trong việc huy động mọi nguồn lực cho sự nghiệp y tế.
Thứ sáu, việc huy động nguồn lực xã hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, đặc biệt ở các lĩnh vực đầu tư, nghiên cứu, sản xuất thuốc – vaccine – thiết bị y tế, kiểm định – kiểm nghiệm – kiểm chuẩn, là một cơ chế mang tính đột phá, mở ra cơ hội lớn cho y tế tư nhân.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhu cầu về thuốc, vaccine và thiết bị y tế chất lượng cao ngày càng tăng và y tế tư nhân có thể đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu này. Chính sách này sẽ khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu khoa học, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp y tế trong nước, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, đồng thời tạo ra hàng nghìn việc làm chất lượng cao.
Cuối cùng, việc khuyến khích phát triển các bệnh viện tư nhân có quy mô lớn, kỹ thuật chuyên sâu ngang tầm quốc gia và quốc tế là một định hướng chiến lược, đánh dấu sự quan tâm đặc biệt, đánh giá cao những đóng góp và sự chuyển mình mạnh mẽ của y tế tư nhân Việt Nam.
GS Nguyễn Văn Đệ nhấn mạnh, trong bối cảnh các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc,… đã phát triển mạnh các bệnh viện tư nhân chất lượng cao, thu hút bệnh nhân quốc tế, Việt Nam hoàn toàn có tiềm năng để đi theo con đường này. Những bệnh viện tư nhân quy mô lớn sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ trong nước, thúc đẩy quảng bá hình ảnh y tế Việt Nam ra thế giới, mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể, đồng thời tạo động lực cho cộng đồng y tế tư nhân đầu tư mạnh mẽ hơn.
Cộng đồng y tế tư nhân cam kết quyết liệt triển khai thực hiện Nghị quyết 72
Chủ tịch Hiệp hội Y tế tư nhân cũng khẳng định, những chính sách trên đã thể hiện tư duy đổi mới, sáng tạo của Đảng trong việc phát triển y tế tư nhân. Đối với cộng đồng y tế tư nhân, đây là dấu mốc lịch sử, khơi dậy niềm tin và sự hưng phấn để đầu tư dài hạn.
Từ góc độ thuyết phục khoa học, Nghị quyết 72-NQ/TW vừa là văn kiện chính trị vừa là tài liệu chiến lược dựa trên cơ sở dữ liệu thực tiễn. Theo các nghiên cứu quốc tế, các nước phát triển như Mỹ, Đức, Nhật Bản đều dựa vào y tế tư nhân để nâng cao hiệu quả hệ thống, với tỷ lệ đầu tư tư nhân chiếm tới 50-60% tổng chi phí y tế.
Tại Việt Nam, theo quan điểm cá nhân của GS Nguyễn Văn Đệ, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, dân số trẻ, chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm, để đạt được mục tiêu đến năm 2030, 100% dân số được bao phủ bảo hiểm y tế, giảm tỷ lệ tử vong do bệnh không lây nhiễm, nâng cao tuổi thọ trung bình; người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi BHYT theo lộ trình. …
Đối với cộng đồng y tế tư nhân, những định hướng này là nguồn động lực mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần hăng hái, quyết tâm đầu tư để cùng đất nước đạt được những thành tựu rực rỡ.
Cộng đồng y tế tư nhân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, cam kết thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 72-NQ/TW, đóng góp tích cực vào sự nghiệp cách mạng.
“Chúng tôi sẽ đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở vật chất, công nghệ, đào tạo nhân lực, đảm bảo dịch vụ y tế chất lượng, giá cả phải chăng, hướng tới lợi ích của nhân dân. Đồng thời, chúng tôi kêu gọi các cấp, các ngành triển khai đồng bộ các nghị quyết trụ cột, tạo môi trường thuận lợi để y tế tư nhân phát triển, góp phần thực hiện khát vọng Việt Nam hùng cường”, GS Đệ nhấn mạnh
Nghị quyết 72-NQ/TW đã thể hiện rõ đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, với những định hướng đột phá tháo gỡ khó khăn cho y tế tư nhân. Đây là động lực to lớn để y tế tư nhân vươn mình, đóng góp vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Toàn Đảng, toàn dân ta hãy đoàn kết, hành động quyết liệt để biến nghị quyết thành hiện thực, đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu dưới sự lãnh đạo vĩ đại của Đảng, với tinh thần hăng hái, quyết tâm của cộng đồng y tế tư nhân.
Thành tựu đột phá trong sản phụ khoa tại Việt Nam trong gần 1 năm trở lại đây là kỹ thuật sóng siêu âm hội tụ cường độ cao (US – HIFU), cho phép tiêu diệt khối u mà không cần phẫu thuật, gây mê sâu hay dao mổ. Các bác sĩ của Việt Nam đã làm chủ kỹ thuật này, giúp người bệnh bảo tồn được cơ quan sinh sản và khả năng sinh sản.
GS.TS Nguyễn Viết Tiến tư vấn cho người bệnh – Ảnh: VGP/HM
Mỗi năm có đến hàng chục nghìn phụ nữ Việt Nam phải đối mặt với u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung. Những bệnh lý phụ khoa này không chỉ làm giảm chất lượng cuộc sống mà còn là một trong những nguyên nhân phổ biến gây vô sinh hiếm muộn, để lại những hệ lụy âm thầm cho chất lượng dân số.
Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng thành công US-HIFU – kỹ thuật điều trị tiêu diệt khối u không xâm lấn, đặc biệt người phụ nữ sau khi điều trị hoàn toàn có thể lại có thai tự nhiên, thậm chí một số người buộc phải làm thụ tinh trong ống nghiệm cũng thực hiện thuận lợi hơn. Kỹ thuật này đang được đánh giá là thành tựu lớn đối với ngành sản phụ khoa ở nước ta.
Hành trình đưa kỹ thuật “mổ lấy u không dùng dao” về Việt Nam
Sau hơn hai thập kỷ được ứng dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia phát triển, đến cuối năm 2024, kỹ thuật US-HIFU chính thức có mặt tại Việt Nam. Đây là kỹ thuật điều trị các khối u bằng sóng siêu âm hội tụ cường độ cao dưới hướng dẫn của siêu âm.
Kỹ thuật này được coi là “cuộc cách mạng trong điều trị không xâm lấn” của y học nhờ khả năng xử lý hiệu quả các khối u mà không cần rạch mổ, không gây chảy máu, không để lại sẹo.
Gần 300 ca đã áp dụng kỹ thuật US – HIFU “mổ lấy u không dùng dao” tại Việt Nam – Ảnh: VGP/HM
Cơ chế của kỹ thuật này dựa trên việc tập trung năng lượng sóng siêu âm vào vùng mô bệnh, làm nhiệt độ tăng cao tới 100°C, gây biến tính protein và làm mô mục tiêu hoại tử đông không hồi phục. Các khối u sau đó sẽ dần tự tiêu theo thời gian. Người bệnh hồi phục nhanh và có thể xuất viện ngay trong ngày.
Nhận thấy giá trị y học sâu sắc của kỹ thuật này, GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Y khoa Quốc gia, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, đã dành nhiều tâm huyết để tìm hiểu, tiếp cận và chuyển giao thành công kỹ thuật US-HIFU về Việt Nam.
Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn khẳng định, sự xuất hiện của US-HIFU là dấu mốc quan trọng nâng tầm y học Việt Nam.
Các bác sĩ của Việt Nam đã làm chủ được kỹ thuật US – HIFU – Ảnh: VGP/HM
Đến nay, hàng trăm bệnh nhân đã được điều trị khối u bằng kỹ thuật US-HIFU, bao gồm các trường hợp: u xơ tử cung, bệnh tuyến cơ tử cung, ung thư gan, u vú.
Tất cả bệnh nhân sau điều trị đều không có biến chứng, phục hồi nhanh; thể tích khối u giảm rõ rệt (lên tới hơn 80% với u xơ tử cung và bệnh tuyến cơ tử cung); người bệnh cải thiện triệu chứng rong kinh, chèn ép, đau bụng kinh; có thể đi lại, sinh hoạt và làm việc bình thường sau chưa đầy 24 giờ can thiệp.
Đặc biệt, nhiều trường hợp mang thai tự nhiên và thực hiện IVF thành công sau điều trị, chất lượng cuộc sống được nâng cao rõ rệt.
Kỹ thuật thay đổi diện mạo ngành sản phụ khoa
Chị Phạm Thị Huyền Trang (30 tuổi, quê Ninh Bình) mắc đa u xơ tử cung (u lớn nhất kích thước 46x44x34mm), là một trong những bệnh nhân đầu tiên điều trị khối u bằng kỹ thuật US-HIFU (được triển khai ứng dụng tại Bệnh viện Phụ sản Thiện An).
Bệnh nhân có tiền sử đã sảy thai, khối u gây đau đớn, kéo dài chu kỳ kinh nguyệt và rất mong có con.
Sau khi tìm đến bệnh viện để thăm khám và tìm hướng điều trị, tháng 11/2024, chị có chỉ định điều trị đa u xơ tử cung bằng kỹ thuật US-HIFU.
Chỉ chưa đầy một ngày sau điều trị, chị đã có thể đi lại, sinh hoạt như bình thường. Kết quả tái khám sau 1 tháng cho thấy, khối u xơ gần 5cm đã giảm kích thước còn 2cm, giảm đau bụng kinh. Sau 3 tháng, chị có thai tự nhiên mà không cần đến bất kỳ phương pháp hỗ trợ sinh sản nào.
Hiện tại, chị đang được theo dõi, quản lý thai nghén tại bệnh viện, dự sinh vào tháng 12/2025.
Người bệnh được điều trị bằng kỹ thuật US – HIFU – Ảnh: VGP/HM
Một trường hợp khác là bệnh nhân nữ 43 tuổi, nhiều năm “sống chung” với đa u xơ tử cung và đã trải qua 5 lần thực hiện IVF tại nhiều cơ sở y tế khác nhau nhưng đều thất bại. Khi được tư vấn điều trị bằng US-HIFU để xử lý khối u trước khi tiếp tục làm các biện pháp hỗ trợ sinh sản, điều kỳ diệu lại xảy ra. Chỉ một tháng sau điều trị, bệnh nhân mang thai tự nhiên.
Theo GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến, với kỹ thuật US-HIFU, cơ tử cung của phụ nữ sau điều trị vẫn giữ được độ chắc khỏe, không để lại sẹo như phẫu thuật mổ hở hay mổ nội soi, nhờ đó hạn chế nguy cơ vỡ tử cung trong thai kỳ. Thực tế, trên thế giới đã ghi nhận hàng vạn trường hợp mang thai, sinh con sau khi điều trị u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung bằng US-HIFU và chưa có ca nào gặp biến chứng vỡ tử cung.
Chia sẻ về một số điểm vượt trội của kỹ thuật này, GS Nguyễn Viết Tiến cho biết, đây là kỹ thuật không phải mổ mở, bệnh nhân không đau nhiều mà cả khối u tiêu rất nhanh, thậm chí tiêu diệt cùng một lúc nhiều khối u.
Đặc biệt, có trường hợp sau khi mổ mở và bóc tách những khối u to, những u nhỏ có thể lại phát triển. Nhưng đối với US – HIFU, sau khi đã diệt các khối u to, những u nhỏ bên cạnh cũng bị ảnh hưởng, cơ hội phát triển rất hiếm.
Riêng đối với lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung, GS Nguyễn Viết Tiến cho biết, bệnh lý này điều trị rất khó khăn và gây vô sinh, hiếm muộn. Nếu người bệnh có thai thì thai dễ bị sảy. Hiện nay, các thuốc điều trị bệnh này chỉ là điều trị triệu chứng, không điều trị được căn nguyên. Trong đó, các thuốc giảm đau có thể gây hậu quả rong kinh, rong huyết, gây đau đớn theo chu kỳ kinh, làm chất lượng cuộc sống vô cùng khó khăn. Không ít người phải chấp nhận mổ và cắt bỏ tử cung. Như vậy, họ không còn cơ hội có con.
Tuy nhiên, khi triển khai kỹ thuật US-HIFU, đa số các ca bệnh không còn cảm giác đau, có người đau phảng phất, nhẹ nhàng, không phải dùng thuốc. Và quan trọng hơn nữa là các khối u bị teo nhỏ, tiêu dần, bệnh nhân hoàn toàn có thể có thai tự nhiên sau đó.
Đến nay, đã có 4 ca sau khi phẫu thuật bằng kỹ thuật US – HIFU đã mang thai tự nhiên, 2 ca sau khi điều trị u cũng đã chuyển phôi thụ tinh trong ống nghiệm thành công và có thai. Trước đây, với những trường hợp này, rất khó để can thiệp có thai tự nhiên.
Kỹ thuật US-HIFU có thể tiêu diệt nhiều khối u cùng một lúc – Ảnh: VGP/HM
Kết hợp điều trị hiệu quả nhiều khối u
Hiện tại, các ca bệnh chủ yếu điều trị ở Bệnh viện Phụ sản Thiện An là u lạc nội mạc tử cung, u xơ tử cung, u lạc nội mạc ở thành bụng, u xơ vú, u gan. Thời gian tới, Bệnh viện sẽ triển khai thêm về điều trị ung thư gan, ung thư tụy và xương đối với một số trường hợp mắc u ác tính, u kháng thuốc, không thể mổ mở, nếu sau khi thăm khám có thể làm được bằng kỹ thuật US – HIFU. Khi đó, khối u sẽ bị diệt, có thể là khối u nguyên phát hoặc thứ phát, giúp bệnh nhân giảm đau nhiều.
Bệnh viện đang có kế hoạch phối hợp cùng với Bệnh viện K và Bệnh viện Ung bướu Hà Nội để giúp người bệnh có thêm lựa chọn và được áp dụng phương pháp điều trị hiệu quả này.
GS Nguyễn Viết Tiến cũng khuyến cáo, không phải tất cả các khối u đều có thể triển khai bằng phương pháp US – HIFU, một số u xơ và u lạc nội mạc tử cung mà có cuống hoặc u bị ruột che phủ, không đẩy được ruột ra nếu sử dụng phương pháp này sẽ không chính xác, gây tổn thương, thậm chí nguy hiểm. Những trưởng hợp này chiếm khoảng 10% là không thể làm được US – HIFU.
Trường hợp này phải mổ mở hoặc nội soi, cũng có trường hợp phải kết hợp cả mổ mở, mổ nội soi và US – HIFU.
“Nếu phối hợp với các phương pháp khác như hóa trị, xạ trị thì US-HIFU là một lựa chọn khá hợp lý để tăng cường khả năng điều trị và kết quả điều trị cho bệnh nhân ung thư”, GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến cho biết.
Sự hiện diện của kỹ thuật US-HIFU tại Việt Nam đánh dấu bước ngoặt quan trọng của ngành sản phụ khoa nói riêng và ngành y tế nước nhà nói chung. Với việc tiếp tục phát triển và ứng dụng rộng rãi trong tương lai, nhiều người bệnh sẽ có thêm lựa chọn tối ưu để điều trị bệnh, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Bộ Y tế đặt mục tiêu đến năm 2030, tối thiểu 5 địa phương trọng điểm (Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Khánh Hòa) sẽ triển khai mô hình du lịch y tế tích hợp giữa bệnh viện – khách sạn – khu nghỉ dưỡng – lữ hành; cùng đó phát triển dịch vụ khám, chữa bệnh chất lượng cao thu hút người nước ngoài…
TS.BS Hà Anh Đức – Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế cho biết, Bộ Y tế đang lấy ý kiến dự thảo Đề án phát triển dịch vụ khám, chữa bệnh chất lượng cao, thúc đẩy du lịch y tế, thu hút người nước ngoài và người Việt Nam có khả năng chi trả giai đoạn 2025-2030.
Từ đó, từng bước đáp ứng và thu hút người nước ngoài khám, chữa bệnh tại Việt Nam; đồng thời giảm tình trạng người Việt Nam ra nước ngoài khám, chữa bệnh. Nhiều nước đã thành công với mô hình du lịch y tế như Thái Lan, Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, Malaysia…
Ứng dụng robot trong phẫu thuật ung thư tại Bệnh viện K.
Y tế Việt Nam có nhiều lợi thế để ‘hút’ người nước ngoài khám chữa bệnh
Đội ngũ bác sĩ Việt Nam đã làm chủ nhiều kỹ thuật phức tạp ngang tầm thế giới như mổ robot, nội soi, ghép tạng, điều trị ung bướu, bệnh truyền nhiễm và các phẫu thuật chuyên sâu về mắt, tai mũi họng, tim mạch… Các bác sĩ được đào tạo bài bản trong và ngoài nước, có tay nghề cao, được đồng nghiệp quốc tế đánh giá tích cực.
Một số kỹ thuật như mổ nội soi tim, u tuyến giáp đã được nước ngoài đến học hỏi. Bên cạnh đó, y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử lâu đời, với các danh y nổi tiếng như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông và các phương pháp điều trị cổ truyền như châm cứu, bấm huyệt… đang dần được quốc tế công nhận và ứng dụng.
Trong 5 năm gần đây, chất lượng khám, chữa bệnh đã được cải thiện rõ rệt. Các bệnh viện tích cực triển khai đổi mới phong cách phục vụ, nâng cao y đức và thái độ ứng xử, hướng đến sự hài lòng của người bệnh.
Chất lượng chuyên môn lâm sàng và cận lâm sàng cũng từng bước nâng cao, đi kèm với việc áp dụng rộng rãi bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện. Hoạt động chuyển giao kỹ thuật từ bệnh viện hạt nhân cho bệnh viện vệ tinh đang phát huy hiệu quả, với khoảng 85% bệnh viện vệ tinh ghi nhận xu hướng giảm chuyển tuyến.
Cùng đó, chi phí điều trị tại Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước phát triển trong khu vực và thế giới, bao gồm cả các kỹ thuật nha khoa, thẩm mỹ, nội soi, ung bướu, thụ tinh ống nghiệm, ghép tạng… Tính hiệu quả về chi phí là một lợi thế cạnh tranh lớn trong thu hút người bệnh nước ngoài và người Việt Nam có thu nhập cao…
Việt Nam có nền y học cố truyền lâu đời, nhiều dược liệu quý…
Thế nhưng vẫn có khoảng 40.000 người Việt Nam thu nhập cao ra nước ngoài điều trị mỗi năm
Tuy nhiên, trong đề án, Bộ Y tế cũng cho hay, bên cạnh những thuận lợi, hệ thống các bệnh viện tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với một số khó khăn, thách thức cần được quan tâm khắc phục.
Các chuyên gia của Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1 đã can thiệp thông tim bào thai thành công cho sản phụ người Singapore. Ảnh: Bệnh viện Từ Dũ cung cấp
Làm gì để triển khai, phát triển mô hình du lịch y tế tại Việt Nam hiệu quả?
Đề án phát triển dịch vụ khám, chữa bệnh chất lượng cao, thúc đẩy du lịch y tế, thu hút người nước ngoài và người Việt Nam có khả năng chi trả giai đoạn 2025-20230 đặt mục tiêu đến năm 2030, ít nhất 15 bệnh viện trên toàn quốc (bao gồm cả công lập và tư nhân) đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (JCI hoặc tương đương), trong đó có tối thiểu 5 bệnh viện công lập. 100% các cơ sở khám, chữa bệnh tham gia thí điểm có bộ phận tiếp thị và truyền thông quốc tế, cung cấp thông tin bằng ít nhất 3 ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung hoặc Hàn).
Đồng thời, xây dựng và đưa vào vận hành các gói dịch vụ du lịch y tế, bao gồm các gói dịch vụ khám, chữa bệnh kỹ thuật cao (ung bướu, tim mạch, chỉnh hình…); gói dịch vụ y học cổ truyền kết hợp nghỉ dưỡng; chăm sóc sức khỏe toàn diện (tầm soát, phục hồi chức năng…).
Đề án sẽ được triển khai toàn quốc, ưu tiên các tỉnh, thành phố có điều kiện thuận lợi phát triển du lịch và hệ thống y tế chất lượng cao. Trong đó, đến năm 2030, tối thiểu 5 địa phương trọng điểm (như Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Khánh Hòa) triển khai mô hình du lịch y tế tích hợp giữa bệnh viện – khách sạn – khu nghỉ dưỡng – lữ hành.
Đề án được chia thành 2 giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 (năm 2025-2027: Tổ chức thí điểm tại một số bệnh viện và địa phương có điều kiện thuận lợi; phát triển 10-15 gói dịch vụ đầu tiên kết hợp y tế – du lịch – nghỉ dưỡng; triển khai truyền thông, xúc tiến, đào tạo nhân lực;
Mỗi ngày, BV Nội tiết Trung ương tiếp nhận gần 2.800 người đến khám ngoại trú và hơn 1.000 BN điều trị nội trú. Chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu có ý nghĩa quan trọng trong hiện đại hóa quy trình chăm sóc sức khỏe, quản lý hồ sơ y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ và cải thiện trải nghiệm cho người bệnh.
Hội nghị khoa học Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2025 với thông điệp “Quản lý – Chăm sóc toàn diện bệnh Nội tiết – Đái tháo đường – Rối loạn chuyển hóa trong thời kỳ chuyển đổi số” (diễn ra ngày 12 và 13/9/2025) khẳng định quyết tâm của bệnh viện trong việc ứng dụng công nghệ, cập nhật y học hiện đại, mang đến dịch vụ y tế thông minh, nhân văn và gần gũi hơn với cộng đồng.
Người bệnh là trung tâm của hệ thống chăm sóc
Chia sẻ bên lề hội nghị, PGS.TS Phan Hướng Dương – Phó Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho biết: “Xu hướng y học hiện đại trên thế giới đều lấy người bệnh làm trung tâm. Việc điều trị ngày nay không chỉ dừng lại ở thăm khám, kê đơn, mà là một quá trình quản lý toàn diện, bao gồm tầm soát biến chứng, can thiệp sớm, chăm sóc thể chất kết hợp tinh thần.
Tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương, các khoa điều trị đang mở rộng dịch vụ chăm sóc, thẩm mỹ và tư vấn tinh thần nhằm giúp người bệnh nâng cao chất lượng sống. Người bệnh cũng được theo dõi và tư vấn từ xa, ngay tại nhà, thông qua hệ thống công nghệ thông tin của bệnh viện. Điều này khẳng định phương châm: bệnh viện không chỉ chữa bệnh, mà còn chăm sóc con người toàn diện”.
Người dân đến đăng ký khám và trải nghiệm hệ thống ki-ốt thông minh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương.
Ở lĩnh vực nội tiết – chuyển hoá, đặc biệt là đái tháo đường, tốc độ gia tăng bệnh nhân ngày càng nhanh và có xu hướng trẻ hóa. Hiện Việt Nam có khoảng 7,3 triệu người mắc đái tháo đường nhưng chỉ 1/3 trong số đó được chẩn đoán và điều trị. Trong khi đó, các phương pháp điều trị, từ thuốc men đến kỹ thuật y khoa, đều phát triển với tốc độ vượt bậc trên toàn cầu.
“Chính vì vậy, các bác sĩ luôn nỗ lực cập nhật các phác đồ, thuốc mới, đồng thời báo cáo và tham mưu cho Bộ Y tế để triển khai rộng rãi trong hệ thống y tế. Đây là cách duy nhất để bảo đảm người bệnh tại Việt Nam được tiếp cận những tiến bộ y học ngang tầm quốc tế” – PGS.TS Phan Hướng Dương nhấn mạnh.
Theo khảo sát năm 2020, có tới 6,3% dân số mắc đái tháo đường nhưng chưa được chẩn đoán. Điều này đồng nghĩa, hàng triệu người chỉ phát hiện bệnh khi đã có biến chứng. Từ hội nghị khoa học lần này, các bác sĩ kêu gọi người dân nâng cao ý thức tầm soát định kỳ, ít nhất mỗi 6 – 12 tháng nên kiểm tra đường huyết.
Hiện nay, nhờ sự hỗ trợ của công cụ số hóa và nền tảng tư vấn trực tuyến, người bệnh dễ dàng tiếp cận thông tin, được hướng dẫn chăm sóc ngay tại nhà – từ chế độ ăn uống, vận động cho tới theo dõi biến chứng.
Chuyển đổi số trong y tế không chỉ là công nghệ, mà chính là cầu nối đưa dịch vụ y tế đến gần hơn với cộng đồng, giúp phát hiện sớm bệnh, điều trị kịp thời, hạn chế tối đa biến chứng nguy hiểm.PGS.TS Phan Hướng Dương khẳng định.
Hoàn thiện mô hình ‘bệnh viện thông minh’
Trong bối cảnh cả nước đẩy mạnh chuyển đổi số, y tế là một trong những lĩnh vực đi đầu. Với bệnh viện, chuyển đổi số giúp quản lý thông minh hơn, tiết kiệm nhân lực, thời gian và chi phí. Người bệnh được hưởng lợi rõ rệt như: đăng ký khám trực tuyến, lựa chọn bác sĩ, sử dụng mã QR để rút ngắn thủ tục hành chính, tiếp cận dịch vụ nhanh chóng.
Đặc biệt, việc triển khai bệnh án điện tử đã mở ra một kỷ nguyên mới: dữ liệu y khoa được kết nối, lưu trữ và khai thác đồng bộ, giúp bác sĩ có thể theo dõi toàn bộ quá trình điều trị, từ đó đưa ra quyết định chính xác và kịp thời hơn. “Đây là ước mơ nhiều năm của chúng tôi – xây dựng một hệ thống y tế thông minh, minh bạch, nơi bác sĩ và người bệnh đều được hỗ trợ tối đa” – PGS.TS Phan Hướng Dương chia sẻ.
Ngày 12/9/2025, Bệnh viện Nội tiết Trung ương chính thức bấm nút triển khai áp dụng hồ sơ bệnh án điện tử. Bệnh án điện tử là một trong nhiều mục tiêu chiến lược chuyển đổi số y tế quốc gia của Chính phủ và Bộ Y tế. Việc chuyển đổi sang bệnh án điện tử giúp tất cả thông tin về tình trạng sức khỏe, lịch sử bệnh lý và quá trình điều trị của bệnh nhân được lưu trữ và quản lý trực tuyến. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho bác sĩ và nhân viên y tế truy cập thông tin nhanh chóng, giảm thiểu sai sót trong quá trình chẩn đoán và điều trị, giảm áp lực khi khám chữa bệnh và vận hành quản lý.
Bệnh án điện tử là bước tiến đột phá trong việc hiện đại hóa quy trình chăm sóc sức khỏe, quản lý hồ sơ y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ và cải thiện trải nghiệm của người bệnh.
Trước đó từ đầu năm 2025, bệnh viện đã triển khai phần mềm HIS, LIS, PACS, áp dụng bệnh án điện tử vào hoạt động khám chữa bệnh, điều trị nội trú, ngoại trú tại bệnh viện, các hệ thống phần mềm được kết nối tích hợp liên thông.
ThS. Đặng Ngọc Tú – Trưởng phòng Công nghệ thông tin của bệnh viện cho hay, bệnh viện đã trang bị khoảng 20 ki-ốt thông tin, ki-ốt tiếp đón người bệnh nhanh chóng, thuận tiện. Ngoài ra còn có ứng dụng đặt lịch khám online “BV Nội tiết TW”, thanh toán không dùng tiền mặt… làm giảm đáng kể thời gian chờ đợi khi khám chữa bệnh.
Bệnh viện cũng tiến hành chuyển đổi phần mềm khám, chữa bệnh triển khai lắp đặt hạ tầng mạng thiết bị kỹ thuật, hoàn thiện các hệ thống ứng dụng nâng cao EMR, PACS, quản lý điều dưỡng, quản lý đào tạo, quản lý chất lượng bệnh viện, quản lý văn phòng số, ký xác thực người bệnh qua VneID… Tất cả những bước đi này đang từng bước hoàn thiện mô hình “bệnh viện thông minh” trong tương lai gần.
TS.BS. Phan Hoàng Hiệp – Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương nhấn mạnh, chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ đặt ra nhiều cơ hội và thách thức lớn với ngành y tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực Nội tiết – Đái tháo đường – Rối loạn chuyển hóa nói riêng. Vì vậy, rất nhiều vấn đề thời sự được các chuyên gia tập trung thảo luận tại hội nghị như: ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số trong quản lý, chẩn đoán và chăm sóc người bệnh; cập nhật tiến bộ trong điều trị đái tháo đường, rối loạn lipid máu, bệnh béo phì, ung thư tuyến giáp; tiếp cận chăm sóc toàn diện cho người bệnh trong bối cảnh đa chuyên khoa…
“Sự kiện lần này quy tụ hơn 1.000 đại biểu gồm các giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học, bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng trong và ngoài nước. Đây là minh chứng cho sự nỗ lực không ngừng trong cập nhật tri thức, ứng dụng công nghệ số, nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị và chăm sóc toàn diện người bệnh, góp phần xây dựng hệ thống y tế hiện đại, hiệu quả và bền vững” – TS.BS. Phan Hoàng Hiệp nói.
Ngành Y tế sẽ hiện thực hóa hợp tác công tư giữa bệnh viện công và tư nhân. Đây là một cơ hội lớn tạo ra đột phá để phát triển y tế tư nhân.
Bộ trưởng Đào Hồng Lan phát biểu tại phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 8/2025 – Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Báo cáo nhiệm vụ của ngành y trong 8 tháng đầu năm
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8/2025, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết, trong 8 tháng đầu năm, Bộ Y tế đã tập trung vào nhiều giải pháp, trong đó xây dựng hoàn thiện thể chế là một trong những nhiệm vụ mà Bộ Y tế đã triển khai tích cực để tháo gỡ những khó khăn, tồn tại trong lĩnh vực y tế.
Ngay trong đầu năm, Luật Dược và Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/7. Đến thời điểm này, Bộ trưởng cho rằng, tất cả các văn bản hướng dẫn triển khai đã được xây dựng. Thông qua hai Luật này, những vướng mắc liên quan đến chính sách về bảo hiểm y tế, vấn đề gia hạn thuốc… đã được giải quyết cơ bản. Đây cũng là những vấn đề mà Thủ tướng Chính phủ rất quan tâm và chỉ đạo trong thời gian vừa qua.
Liên quan đến công tác chống hàng giả, Bộ Y tế cho biết, Bộ đã phối hợp rất tích cực với Bộ Công an và các địa phương để tập trung triển khai các giải pháp chống hàng giả trong các lĩnh vực dược phẩm, mỹ phẩm và an toàn thực phẩm.
Trong công tác khám bệnh, chữa bệnh, cũng ngay trong đầu năm nay, các cơ sở y tế luôn quan tâm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cũng như sự hài lòng của người bệnh đối với công tác khám bệnh, chữa bệnh.
Hiện nay, Bộ Y tế cũng đã ký hợp tác với Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch để gắn kết giữa việc phát triển du lịch với công tác khám bệnh, chữa bệnh. Nếu làm tốt công tác nay, Bộ trưởng Đào Hồng Lan nhấn mạnh, ngành y tế sẽ góp phần tăng trưởng hai con số của đất nước trong thời gian tới.
Hiện thực hóa hợp tác công tư giữa bệnh viện công và tư
Đối với những vướng mắc liên quan đến vấn đề cấp cứu hiện nay, Bộ trưởng Đào Hồng Lan cho biết, Bộ Y tế đang triển khai đề án cấp cứu ngoại viện để phục vụ người dân khi triển khai thực hiện vấn đề cấp cứu ở ngoài bệnh viện.
Với lĩnh vực phát triển công nghiệp dược, sau khi Thủ tướng ban hành chiến lược phát triển lĩnh vực này, Bộ Y tế cũng đã triển khai những công việc cụ thể. Đến hiện tại, Bộ đã ký hợp tác sản xuất thuốc ung thư với Nga, phối hợp sản xuất vaccine với Pháp và sản xuất thuốc với Cuba cùng các nhà máy đã được đưa vào triển khai hoạt động. Đây là những tín hiệu rất tích cực của ngành dược trong những tháng đầu năm nay.
Cũng tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Y tế có đề xuất, trong thời gian tới, Bộ sẽ hiện thực hóa hợp tác công tư giữa bệnh viện công và tư nhân. Đây là một cơ hội lớn tạo ra đột phá để phát triển y tế tư nhân.
Trong một số trường hợp, người lao động ngừng đóng bảo hiểm y tế vẫn được tính là đang tham gia để áp dụng mức hưởng quyền lợi chi trả 100% chi phí khám, chữa bệnh.
Sáu trường hợp ngừng đóng bảo hiểm y tế vẫn được hưởng 100% chi phí khám, chữa bệnh. (Ảnh minh họa: ĐỖ THOA)
Người tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục được hưởng 100% chi phí khám, chữa bệnh
Theo Luật Bảo hiểm y tế, chỉ có một số nhóm được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả 95%-100% chi phí khám, chữa bệnh; còn lại chỉ được chi trả 80%, người bệnh cùng chi trả 20%. Tuy nhiên, người tham gia bảo hiểm y tế thuộc nhóm chỉ được chi trả 80% vẫn có thể được hưởng mức 100% nếu đáp ứng điều kiện đã tham gia bảo hiểm y tế liên tục từ 5 năm trở lên.
Cụ thể, điểm d khoản 1 Điều 22Luật Bảo hiểm y tế quy định người tham gia bảo hiểm y tế sẽ được hưởng 100% chi phí khám, chữa bệnh khi có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 lần mức lương cơ sở.
Như vậy, để có mức hưởng 100%, điều kiện đầu tiên là người bệnh đã tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục. Tuy nhiên, có những trường hợp tham gia gián đoạn hoặc ngừng đóng bảo hiểm y tế nhưng vẫn được tính là đang tham gia bảo hiểm y tế liên tục. Điều này được quy định tại Điều 18 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế.
Sáu trường hợp đặc biệt
Theo Nghị định 188, có 6 trường hợp người tham gia ngừng đóng bảo hiểm y tế vẫn được tính tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục, được chi trả 100% chi phí khám, chữa bệnh gồm:
Thứ nhất là gián đoạn tham gia bảo hiểm y tế trong vòng 90 ngày.
Thứ hai là người được cơ quan có thẩm quyền cử đi công tác, học tập, làm việc; hoặc theo chế độ phu nhân/phu quân hoặc con đẻ, con nuôi hợp pháp dưới 18 tuổi đi theo bố/mẹ công tác nhiệm kỳ tại cơ quan Việt Nam ở nước ngoài thì thời gian ở nước ngoài được tính là thời gian tham gia bảo hiểm y tế.
Thứ ba là người lao động khi đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng và các trường hợp được cơ quan nhà nước cử đi làm việc ở nước ngoài. Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm y tế trước khi đi làm việc ở nước ngoài sẽ được tính nối tiếp nếu khi về nước họ tiếp tục tham gia bảo hiểm y tế (tham gia trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhập cảnh).
Thứ tư là trong thời gian người lao động làm thủ tục đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm (trừ thời gian từ ngày chấm dứt hợp đồng đến ngày được nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp) thì thời gian đã tham gia bảo hiểm y tế trước đó được tính là thời gian đã tham gia bảo hiểm y tế.
Thứ năm là 3 nhóm tham gia bảo hiểm y tế thuộc lực lượng vũ trang khi nghỉ hưu, xuất ngũ, chuyển ngành hoặc thôi việc, gồm:
Sĩ quan quân đội, quân nhân chuyên nghiệp đang tại ngũ; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân.
Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội đang tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ trong công an; học viên quân đội, học viên công an, học viên cơ yếu hưởng sinh hoạt phí là người Việt Nam.
Học viên đào tạo sĩ quan dự bị từ 3 tháng trở lên chưa tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Với 3 nhóm trên, thời gian học tập, công tác trong quân đội, công an và tổ chức cơ yếu được tính là thời gian tham gia bảo hiểm y tế.
Trường hợp không đủ cơ sở để xác định thời gian tham gia bảo hiểm y tế, cơ quan bảo hiểm căn cứ vào một trong các giấy tờ do đơn vị của họ cấp có thể hiện quá trình công tác như: Sổ bảo hiểm xã hội, quyết định phục viên xuất ngũ, thôi việc; lý lịch; giấy xác nhận quá trình công tác của đơn vị cấp trung đoàn và tương đương trở lên để xác định thời gian tham gia bảo hiểm y tế.
Thứ sáu là dân quân thường trực khi thôi thực hiện nghĩa vụ. Với nhóm này, thời gian thực hiện nghĩa vụ được tính là thời gian tham gia bảo hiểm y tế.
Với việc ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến và phối hợp đa chuyên khoa để điều trị các khối u phức tạp, các bác sĩ Bệnh viện Đại học Phenikaa đã phẫu thuật thành công cắt toàn bộ tụy do ung thư.
Các bác sĩ tiến hành phẫu thuật cho người bệnh.
Ung thư tụy là một bệnh lý có tiên lượng xấu và trường hợp này càng trở nên khó khăn khi khối u đã lan rộng ra khắp tuyến tụy. Người bệnh được phát hiện tình trạng bệnh trong một lần kiểm tra sức khỏe định kỳ. Khối u được chẩn đoán có kích thước lớn, tăng sinh mạch toàn bộ tụy, huyết khối tĩnh mạch lách, đồng thời xâm lấn lách và đại tràng góc lách.
Tình trạng này đặt ca phẫu thuật trước nguy cơ mất máu nghiêm trọng, có thể đe dọa trực tiếp đến tính mạng của người bệnh. Hơn nữa, sau khi cắt toàn bộ tụy, người bệnh sẽ có các nguy cơ rối loạn chuyển hóa do mất các chức năng tụy nội tiết và ngoại tiết.
Đối diện với thách thức này, các bác sĩ đã xây dựng một kế hoạch điều trị toàn diện, trong đó ưu tiên hàng đầu là bảo đảm an toàn cho người bệnh. Để giảm thiểu rủi ro chảy máu trong quá trình phẫu thuật, đội ngũ y tế đã quyết định sử dụng kỹ thuật nút mạch trước phẫu thuật.
Đây là một thủ thuật điện quang can thiệp nhằm hạn chế các mạch máu tăng sinh nuôi khối u, chuyển một khối u giàu mạch máu thành một khối u an toàn hơn để thực hiện phẫu thuật.
Quá trình này được thực hiện ngay tại phòng mổ, cho phép các bác sĩ có thể xử lý ngay lập tức các biến cố y tế nhằm bảo đảm an toàn tối đa cho người bệnh. Tình trạng đau của người bệnh cũng được kiểm soát ngay từ sau khi nút mạch.
Bệnh nhân hồi phục nhanh sau phẫu thuật.
Tiến sĩ, bác sĩ Trần Thanh Tùng, Trưởng Khoa Ngoại tổng hợp, Bệnh viện Đại học Phenikaa chia sẻ, ca bệnh này rất hiếm gặp và có mức độ phức tạp cao do khối u lớn, tăng sinh mạch và xâm lấn các tạng xung quanh. Nguy cơ chảy máu là yếu tố rủi ro lớn nhất.
“Việc kiểm soát thành công nguy cơ này nhờ kỹ thuật nút mạch là một bước rất quan trọng. Nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng và sự phối hợp nhịp nhàng, ca phẫu thuật cắt toàn bộ tụy, lách và đoạn đại tràng góc lách diễn ra thuận lợi”, bác sĩ Tùng nói.
Bên cạnh đó, các bác sĩ gây mê hồi sức đã áp dụng kỹ thuật giảm đau mặt phẳng cơ dựng sống dưới hướng dẫn siêu âm, giúp kiểm soát đau cho người bệnh một cách tối đa, an toàn và hiệu quả từ trước, trong và sau ca mổ, giúp hạn chế sử dụng các loại thuốc giảm đau opioid, người bệnh sớm hồi phục.
Người bệnh được áp dụng phác đồ tăng cường hồi phục sau phẫu thuật (ERAS – Enhanced Recovery After Surgery) với sự tham gia của các bác sĩ nội tiết, dinh dưỡng, dược lâm sàng, giảm đau…, nhờ đó, người bệnh đã có thể ngồi dậy tỉnh táo chỉ 17 giờ sau khi kết thúc ca mổ.
Đây là một kết quả đáng chú ý, bởi đối với một ca phẫu thuật lớn, trước đây người bệnh thường phải nằm bất động nhiều ngày và chịu nhiều đau đớn.
Thành công của ca bệnh này là một cột mốc quan trọng đối với bệnh viện, bởi không chỉ khẳng định năng lực chuyên môn của các y, bác sĩ trong việc điều trị các bệnh lý phức tạp mà còn cho thấy tầm quan trọng của việc ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến và phối hợp đa chuyên khoa.
Từ của ca bệnh này, các chuyên gia y tế cũng đưa ra lời khuyên đến cộng đồng về tầm quan trọng của việc chủ động bảo vệ sức khỏe. Ung thư tụy và nhiều bệnh lý nguy hiểm khác thường không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn sớm, khi phát hiện thường đã ở giai đoạn muộn và việc điều trị trở nên vô cùng khó khăn.
Do đó, việc khám sức khỏe định kỳ là biện pháp hiệu quả nhất để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường, từ đó có kế hoạch điều trị kịp thời. Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức tầm soát sức khỏe, coi đây là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Sự chủ động này chính là chìa khóa để bảo vệ bản thân và gia đình khỏi những rủi ro sức khỏe không lường trước được.
Trong những năm qua, các quy định về phòng, chống tác hại của thuốc lá đã từng bước được hoàn thiện, từ luật đến nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ, thông tư, hướng dẫn của các bộ, ngành liên quan nhằm giảm thấp nhất tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ người dân.
Tỷ lệ nam giới trưởng thành ở Việt Nam hút thuốc còn khá cao.
Năm 2012, Quốc hội ban hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Luật có hiệu lực từ ngày 1/5/2013 và đã trở thành quy định về pháp lý ở mức cao nhất, thể hiện quyết tâm trong ngăn chặn những hệ lụy của thuốc lá đối với sức khỏe người dân cũng như các lĩnh vực kinh tế-xã hội. Bộ Y tế với vai trò quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá đã phối hợp các bộ, ngành ban hành và thực thi nhiều quyết định, kế hoạch, chỉ thị, văn bản chỉ đạo điều hành về phòng, chống tác hại của thuốc lá. Nhờ đó, tỷ lệ người hút thuốc lá đã giảm đáng kể.
Trước sự gia tăng tỷ lệ thanh thiếu niên sử dụng thuốc lá thế hệ mới, tháng 11/2024, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 173/2024/QH15, trong đó quy định “Cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển, sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, các loại khí, chất gây nghiện, gây tác hại cho sức khỏe con người từ năm 2025”. Như vậy, từ 1/1, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng được coi là mặt hàng cấm tại Việt Nam. Đây là một quyết định nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, giảm thiểu những hệ lụy nghiêm trọng mà thuốc lá gây ra, nhất là với thế hệ trẻ.
Tại kỳ họp tháng 6/2025 vừa qua, Quốc hội cũng đã thông qua Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi, bao gồm việc áp dụng hệ thống thuế tiêu thụ đặc biệt hỗn hợp áp dụng từ năm 2027, với lộ trình tăng thuế thuốc lá liên tục đến năm 2031 với mục tiêu giúp giảm tỷ lệ sử dụng và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Tổ chức Y tế thế giới đã trao tặng Bộ Y tế Việt Nam Giải thưởng Ngày thế giới không thuốc lá 2025 để ghi nhận vai trò lãnh đạo trong kiểm soát các sản phẩm thuốc lá mới.
Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá phát động chiến dịch tăng cường thực hiện môi trường không khói thuốc lá.
Tại Hội nghị toàn cầu về phòng chống tác hại của thuốc lá tại Dublin (Ireland), Phó Giám đốc Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá (Bộ Y tế) Phan Thị Hải khẳng định: Chính phủ Việt Nam cam kết mạnh mẽ trong công cuộc phòng, chống tác hại của thuốc lá. Bên cạnh xây dựng, ban hành hệ thống pháp luật, Quỹ Phòng, chống tác hại thuốc lá cũng được thành lập từ đóng góp bắt buộc của các doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu thuốc lá. Mô hình quản lý quỹ được đánh giá cao nhờ tính đa ngành, minh bạch và dựa trên bằng chứng.
Quỹ do Bộ Y tế chủ trì và có sự tham gia của nhiều bộ, ngành, hoạt động theo nguyên tắc cấp kinh phí dựa trên kết quả đầu ra. Các quy trình lựa chọn, lập kế hoạch, giám sát và đánh giá đều được thực hiện công khai, khoa học, với các chương trình được xây dựng và triển khai dựa trên dữ liệu tin cậy và bằng chứng thực tiễn.
Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá, trong giai đoạn tới, Bộ Y tế và Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá sẽ cùng các bộ, ngành và đơn vị liên quan tiếp tục rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và đánh giá việc xây dựng, thực hiện các văn bản liên quan đến hoạt động phòng, chống tác hại của thuốc lá, kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện các giải pháp để giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá trong cộng đồng. Đây là một trong những mục tiêu quan trọng trong việc giảm các yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe, giảm tỷ lệ tử vong do sử dụng các sản phẩm thuốc lá gây ra, thực hiện các cam kết của Công ước Khung về kiểm soát thuốc lá mà Việt Nam là thành viên. Trong đó thực hiện cả 2 nhóm giải pháp giảm nhu cầu sử dụng cũng như giảm cung cấp và bổ sung các sản phẩm thuốc lá mới, giảm tiếp cận, giảm tính hấp dẫn của các sản phẩm thuốc lá để giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá một cách hiệu quả. Tăng cường các quy định, giải pháp để bảo đảm quyền của mọi người, đặc biệt là người không hút thuốc được sống, làm việc và học tập trong môi trường không khói thuốc….
Thông cáo của WHO được công bố hôm 12/9 cho thấy gần 560.000 ca nhiễm đã được báo cáo trên 60 quốc gia và khu vực, trong đó có hơn 6.000 người đã tử vong vì căn bệnh này.
Bệnh nhân mắc tả được điều trị tại trung tâm y tế ở Kosti, bang White Nile, Sudan. (Ảnh: THX/TTXVN)
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mới đây đã công bố số liệu thống kê về bệnh tả toàn cầu năm 2024, trong đó cho thấy sự gia tăng cả về số người mắc bệnh và tử vong do căn bệnh này.
Thông cáo của WHO được công bố hôm 12/9 cũng cho thấy số ca mắc bệnh tả được báo cáo đã tăng 5% và số ca tử vong tăng 50% trong năm 2024 so với năm 2023. Tổng cộng, gần 560.000 ca nhiễm đã được báo cáo trên 60 quốc gia và khu vực, trong đó có hơn 6.000 người đã tử vong vì căn bệnh này.
Năm 2023, bệnh tả chỉ được báo cáo ở 45 quốc gia và khu vực. Hầu hết các trường hợp mắc bệnh ở châu Phi, Trung Đông và châu Á, chiếm tổng cộng 98% số ca nhiễm. Tỷ lệ tử vong ở châu Phi đã tăng từ 1,4% vào năm 2023 lên 1,9% vào năm 2024.
Cũng theo báo cáo của WHO, phạm vi bùng phát dịch tả tiếp tục mở rộng trong năm 2024, với 12 quốc gia báo cáo có hơn 10.000 ca, trong đó 7 quốc gia ghi nhận các đợt bùng phát lớn lần đầu tiên trong năm.
Sự bùng phát trở lại của dịch tả ở Comoros – sau hơn 15 năm không có đợt bùng phát nào được báo cáo, đã nhấn mạnh mối đe dọa dai dẳng của sự lây lan toàn cầu.
Xung đột, Biến đổi Khí hậu, di dân và tình trạng thiếu hụt lâu dài về nước sạch, vệ sinh môi trường và cơ sở hạ tầng vệ sinh đang thúc đẩy sự gia tăng của dịch bệnh này.
Dữ liệu sơ bộ cho thấy cuộc khủng hoảng dịch tả toàn cầu sẽ tiếp tục đến năm 2025, với 31 quốc gia và khu vực báo cáo các đợt bùng phát kể từ đầu năm./.
Bộ Y tế yêu cầu các đơn vị chức năng tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và đẩy mạnh tuyên truyền để bảo đảm an toàn thực phẩm dịp Tết Trung thu 2025.
Bộ Y tế yêu cầu tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm Tết Trung thu năm 2025. (Ảnh minh họa)
Phó Cục trưởng An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) Nguyễn Minh Hằng vừa ký công văn gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở An toàn thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh và Ban Quản lý An toàn thực phẩm thành phố Đà Nẵng, đề nghị triển khai nhiều biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm trong dịp Tết Trung thu 2025.
Theo nhận định của Cục An toàn thực phẩm, thời gian tới, đặc biệt là gần Tết Trung thu, nhu cầu tiêu dùng các loại bánh, kẹo sẽ tăng đột biến. Do vậy, để bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm, bảo vệ quyền lợi và sức khỏe người tiêu dùng, Cục An toàn thực phẩm đề nghị các địa phương chỉ đạo các đơn vị chức năng tập trung triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm.
Cụ thể, các địa phương cần phối hợp với Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Môi trường tăng cường triển khai hoạt động thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn, tập trung ưu tiên các cơ sở sản xuất, kinh doanh bánh trung thu, bánh kẹo, nước giải khát, thực phẩm truyền thống sản xuất tại các làng nghề, cơ sở nhỏ lẻ; cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố…
Cùng với đó, kịp thời truy xuất, thu hồi các sản phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm và công khai tên cơ sở, địa chỉ, loại sản phẩm vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng, nếu có dấu hiệu hình sự đề nghị chuyển cơ quan công an để xử lý theo quy định của pháp luật.
Chủ động phối hợp các cơ quan truyền thông tăng cường công tác thông tin, giáo dục và truyền thông về an toàn thực phẩm trong dịp Tết Trung thu. Nội dung tuyên truyền hướng tới hai nhóm đối tượng:
Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm: Phải thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm quy định điều kiện cơ sở, trang thiết bị dụng cụ, yêu cầu về kiến thức, thực hành của người trực tiếp tham gia sản xuất, quy định về nguồn gốc nguyên liệu thực phẩm, quy định về đăng ký bản công bố, tự công bố sản phẩm, sử dụng phẩm màu, hương liệu, phụ gia, bao bì thực phẩm, ghi nhãn sản phẩm.
Đối với người tiêu dùng: Cần lựa chọn, chế biến, bảo quản và sử dụng thực phẩm an toàn. Chỉ mua, sử dụng thực phẩm, phụ gia thực phẩm có nhãn mác đầy đủ, nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng; không sử dụng phụ gia thực phẩm ngoài danh mục, không đúng đối tượng, liều lượng theo quy định.
Song song với đó, Cục An toàn thực phẩm cũng yêu cầu Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở An toàn thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh và Ban Quản lý An toàn thực phẩm thành phố Đà Nẵng chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn chuẩn bị phương án, lực lượng thường trực, phương tiện, vật tư, hóa chất để sẵn sàng cấp cứu và điều trị cho bệnh nhân khi xảy ra ngộ độc thực phẩm; điều tra vụ ngộ độc thực phẩm, xác định nguyên nhân gây ngộ độc, thực hiện các biện pháp phòng ngừa nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm.
Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 13/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm trong tình hình mới; Chỉ thị số 38/CT-TTg ngày 11/10/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường phòng ngừa ngộ độc thực phẩm; Chỉ thị số 17/CT-TW ngày 21/10/2022 của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh an toàn thực phẩm trong tình hình mới; Công văn số 2633/BYT-ATTP ngày 30/4/2025 của Bộ Y tế về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng chống thực phẩm giả, ngộ độc thực phẩm.