Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Lấy dân làm trung tâm mọi quyết sách

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng khẳng định “dân là gốc” không chỉ là nguyên tắc chính trị mà phải được hiện thực hóa bằng hành động cụ thể, lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả lãnh đạo.

Đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. (Ảnh: TTXVN)

Sau những ngày làm việc nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp để lại dấu ấn sâu sắc và lan tỏa niềm tin, khí thế phấn khởi trong các tầng lớp nhân dân cả nước.

Theo dõi Báo cáo chính trị và các văn kiện trình Đại hội cùng những nội dung quan trọng được thông qua, nhiều cán bộ lão thành và cán bộ quản lý tại Thanh Hóa bày tỏ sự đồng tình, nhất trí cao, đồng thời gửi gắm kỳ vọng lớn lao vào việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIV.

Đặc biệt, quan điểm xuyên suốt “dân là gốc” được thể hiện rõ nét trong Báo cáo chính trị đã nhận được sự ủng hộ và đánh giá cao của các tầng lớp nhân dân.

Khẳng định vai trò trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng

Là cán bộ đã nghỉ hưu, khi theo dõi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và lắng nghe Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ông Nguyễn Văn Tòng, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thanh Hóa đặc biệt tâm đắc với quan điểm xuyên suốt “lấy dân làm gốc.”

Theo ông, báo cáo không chỉ tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng mà còn thể hiện rõ nét hơn tinh thần vì dân, gần dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Mọi chủ trương, đường lối được xác định đều đặt trên nền tảng lợi ích chính đáng, hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Từ trải nghiệm qua nhiều giai đoạn phát triển của đất nước, ông Nguyễn Văn Tòng cho rằng, việc nhấn mạnh xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, quan liêu, xa dân với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” chính là minh chứng sinh động cho tư tưởng “dân là gốc” trong Báo cáo chính trị lần này.

Quan điểm đó không chỉ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng mà còn khẳng định rõ: Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực, đồng thời là thước đo hiệu quả cao nhất đối với sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ mới – thời kỳ tăng tốc phát triển đất nước hùng cường, văn minh, hạnh phúc.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIV ra mắt Đại hội. (Ảnh: TTXVN)

Ông Nguyễn Văn Tòng kỳ vọng, sau Đại hội, các Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, tạo ra những “cú hích” mạnh mẽ về hạ tầng, khoa học-công nghệ và chuyển đổi số, qua đó mang lại các giá trị thiết thực về vật chất và tinh thần để mọi người dân đều được thụ hưởng. Đồng thời, ông nhấn mạnh cần tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí một cách quyết liệt, đồng bộ, không ngừng nghỉ; đặc biệt kiên quyết chấn chỉnh tình trạng tham nhũng vặt, nhũng nhiễu người dân và doanh nghiệp.

Ông đề xuất phải xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực thực sự hiệu quả, đủ mạnh để ngăn chặn, đẩy lùi tệ chạy chức, chạy quyền; đồng thời có chính sách đồng bộ nhằm thu hút người có tâm, có tài tham gia công tác trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, từng bước sàng lọc, đưa ra khỏi bộ máy cán bộ yếu kém, không hoàn thành nhiệm vụ.

Đặc biệt, cần có cơ chế phù hợp để đội ngũ cán bộ hưu trí, người cao tuổi tiếp tục phát huy kinh nghiệm, trí tuệ trong công tác giám sát, phản biện xã hội, qua đó, góp phần hiện thực hóa sâu sắc hơn quan điểm “lấy dân làm gốc” trong thực tiễn.

Xây dựng thế trận lòng dân

Theo Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đậu Bá Thìn, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức (Thanh Hóa), trong Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt “dân là gốc” và coi đây là một bài học lớn mang ý nghĩa phương pháp luận trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền.

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đậu Bá Thìn, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức (Thanh Hóa) đồng tình và gửi gắm kỳ vọng vào những quyết sách trong nhiệm kỳ mới của Đại hội XIV. (Ảnh: Việt Hoàng/TTXVN)

Việc đặt “dân là gốc” trong nhóm bài học quan trọng khẳng định đây không phải là khẩu hiệu mà là nguyên tắc chỉ đạo mọi chủ trương, quyết sách.

Quan điểm này kế thừa nền tảng lý luận của chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quyết định của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Theo đó, nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực và nguồn lực của phát triển. Mọi chủ trương, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm quyền làm chủ và dựa vào nhân dân.

Báo cáo cũng nhấn mạnh, niềm tin của nhân dân không đến từ lời nói hay khẩu hiệu mà được tạo dựng từ hành động cụ thể, từ sự liêm chính của đội ngũ cán bộ, từ hiệu lực, hiệu quả của bộ máy và sự công bằng trong thực thi chính sách.

Quan điểm “dân là gốc” được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với nhiệm vụ xây dựng thế trận lòng dân – sự đồng thuận xã hội và gắn bó bền chặt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Báo cáo xác định việc quán triệt quan điểm này, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện đầy đủ phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng,” đồng thời lấy sự hài lòng và tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp làm tiêu chí đánh giá cán bộ là yêu cầu then chốt trong giai đoạn phát triển mới.

Lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo

Theo ông Nguyễn Minh Tuân, Bí thư Đảng ủy xã Thạch Quảng, tỉnh Thanh Hóa, một điểm mới nổi bật, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc trong Báo cáo chính trị là yêu cầu lấy sự hài lòng, tín nhiệm của nhân dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ.

Ông Nguyễn Minh Tuân, Bí thư Đảng ủy xã Thạch Quảng, tỉnh Thanh Hóa đánh giá cao những Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. (Ảnh: Việt Hoàng/TTXVN)

Đây được xem là bước phát triển quan trọng của tư tưởng “dân là gốc,” gắn quyền lực với trách nhiệm phục vụ. Khi sự hài lòng của nhân dân trở thành chuẩn mực đánh giá, quyền lực không còn được đo bằng chức vụ hay quy trình mà bằng kết quả mang lại cho xã hội và đời sống người dân.

Cách tiếp cận này thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy “đúng quy trình” sang tư duy “đúng và trúng với cuộc sống,” từ chú trọng ban hành chính sách sang coi trọng tác động thực chất của chính sách.

Nhìn tổng thể, Báo cáo đã nâng tầm tư tưởng “dân là gốc”: Từ một chân lý mang tính đạo lý lịch sử trở thành phương pháp lãnh đạo hiện đại; từ nguyên tắc chính trị chung thành cơ chế kiểm soát quyền lực; từ mục tiêu phát triển thành thước đo hiệu quả lãnh đạo.

Khi “dân là gốc” trở thành tư tưởng hành động, chi phối cách Đảng lãnh đạo, chỉ đạo và tự đánh giá, trách nhiệm trước nhân dân cũng được đặt ra ở mức cao hơn bao giờ hết.

Cũng theo Bí thư Đảng ủy xã Thạch Quảng, trong bối cảnh mới, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu chuyển hóa mạnh mẽ từ nhận thức sang hành động, lấy nhân dân làm trung tâm trong mọi quyết sách.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự đặt câu hỏi trong từng việc làm: việc đó có lợi cho dân hay không, có làm cho dân tin hơn, cuộc sống tốt hơn và đất nước phát triển bền vững hơn hay không? Chỉ khi những câu hỏi ấy được trả lời bằng hành động cụ thể và kết quả thực chất, tư tưởng “dân là gốc” mới thực sự trở thành nền tảng cho sự phát triển lâu dài của đất nước trong thời kỳ mới.

(Nguồn: vietnamplus.vn)

 

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Virus Nipah – cơ chế gây bệnh và các biện pháp phòng ngừa

Virus Nipah – là một bệnh truyền nhiễm nhóm A lây từ động vật sang người hoặc tiếp xúc với vật phẩm, thực phẩm bị nhiễm virus. Theo ghi nhận tỷ lệ chết/ mắc ở các trường hợp nhập viện khoảng 40-75%.

Virus Nipah là một virus nguy hiểm hiếm gặp, có thể gây viêm não và viêm phổi nặng, với tỷ lệ tử vong cao nếu không được phát hiện và chăm sóc kịp thời.

Nguồn lây của virus Nipah

– Ổ chứa tự nhiên của virus Nipah là dơi ăn quả

– Virus có thể lây sang người:

– Qua thực phẩm hoặc đồ uống nhiễm virus

– Qua tiếp xúc gần với người bệnh (dịch tiết hô hấp)

Vì vậy, Nipah không chỉ là bệnh từ động vật, mà có thể lây từ người sang người.

Cơ chế gây bệnh của virus Nipah

Sau khi xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp hoặc tiêu hóa, virus Nipah sẽ:

– Tấn công mạch máu và tế bào nội mô

– Gây viêm mạch hệ thống và vi huyết khối

– Tổn thương nặng ở:

+ Não dẫn đến viêm não

+ Phổi dẫn đến viêm phổi, phù phổi

Đây là lý do bệnh có thể diễn tiến nhanh và nặng.

Thời gian ủ bệnh trong khoảng 4-14 ngày.

Các dấu hiệu cần đi khám ngay

Sốt cao, đau đầu nhiều

Ho, khó thở

Buồn ngủ bất thường, rối loạn ý thức

Co giật hoặc thay đổi hành vi

Không chờ đợi khi có triệu chứng thần kinh hoặc hô hấp nặng.

Phòng bệnh do virus Nipah

Virus Nipah hiện chưa có vaccine phòng ngừa

Không ăn trái cây bị dơi cắn

Không uống nhựa cây hoặc nước ép không đảm bảo vệ sinh

Hạn chế tiếp xúc gần với người nghi nhiễm

Thực hành vệ sinh tay – đeo khẩu trang khi cần thiết

Do chưa có vaccine đặc hiệu để phòng ngừa virus Nipah nên phòng bệnh là yếu tố quan trọng nhất

(Nguồn: suckhoedoisong.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Chuyên gia khuyến cáo chủ động phòng tránh dịch bệnh do virus Nipah

Nhiều sân bay tại châu Á đã triển khai sàng lọc y tế tại sân bay đối với hành khách đến từ vùng dịch virus Nipah vừa xuất hiện tại Ấn Độ. Chuyên gia cảnh báo, virus này có tỷ lệ tử vong cao, cần hết sức cảnh giác. 

Khách du lịch tại sân bay quốc tế Suvarnabhumi ở Bangkok, Thái Lan. (Ảnh minh họa: THX/TTXVN)

Virus có tỷ lệ tử vong rất cao

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (nay là Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế) cho biết, virus Nipah là tác nhân truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao, cần được giám sát chặt chẽ.

Theo ông Phu, virus Nipah lần đầu tiên được ghi nhận trong đợt dịch tại Malaysia, sau đó xuất hiện rải rác tại một số quốc gia, chủ yếu ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á. Điều đáng lo ngại nhất của virus Nipah là tỷ lệ tử vong rất cao. Người mắc bệnh thường có các triệu chứng như sốt, nhiễm trùng, suy hô hấp và đặc biệt là viêm não, dẫn đến nguy cơ tử vong lớn.

Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A, lây truyền chủ yếu từ động vật sang người (tại Ấn Độ hiện nay truyền qua loài dơi ăn quả), hoặc tiếp xúc với vật phẩm, thực phẩm bị nhiễm virus và cũng có thể lây truyền từ người sang người (qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết, dịch bài tiết của bệnh nhân); thời gian ủ bệnh trong khoảng 4-14 ngày, người nhiễm vi rút có thể có các triệu chứng: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, sau đó có thể xuất hiện chóng mặt, buồn ngủ, rối loạn ý thức và các dấu hiệu thần kinh cho thấy viêm não cấp tính.

Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh (HCDC), trước đây trên thế giới đã từng xảy ra nhiều đợt dịch do virus Nipah. Malaysia và Singapore là 2 quốc gia ghi nhận đợt bùng phát đầu tiên của virus Nipah vào những năm 1998-1999. Đợt bùng phát này đã khiến 105 người tử vong, trong đó có 96 người ở Malaysia và 9 người ở Singapore.

Tại Ấn Độ, đợt bùng phát virus Nipah này là đợt bùng phát thứ tư tại Kerala trong vòng 5 năm, đợt gần đây nhất là vào năm 2021. Theo thông tin từ hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, từ ngày 27/12/2025 đến ngày 26/1/2026, Ấn Độ ghi nhận 5 trường hợp nghi ngờ mắc bệnh do virus Nipah (trong đó có 02 trường hợp có xét nghiệm khẳng định) tại một bệnh viện ở Tây Bengal.

Chuyên gia y tế dự phòng này cho hay, điểm đáng lo ngại của đợt dịch tại Ấn Độ lần này là lây nhiễm tại khu vực y tế. Hai nhân viên y tế này có khả năng bị lây nhiễm từ một người bệnh có biểu hiện khó thở trước đó. Bệnh nhân này đã tử vong trước khi được xét nghiệm virus Nipah. Điều này cho thấy virus có khả năng lây truyền trong môi trường y tế nếu không kiểm soát tốt, trong khi mức độ nguy hiểm và tỷ lệ tử vong của bệnh vẫn rất cao.

Chủ động phòng tránh dịch bệnh do virus Nipah

Đánh giá nguy cơ virus Nipah xâm nhập Việt Nam, ông Phu cảnh báo 2 yếu tố cần phải chú ý. Thứ nhất là nguy cơ xâm nhập từ bên ngoài, thông qua người đi về từ các vùng đang có dịch, không chỉ riêng Ấn Độ mà cả những quốc gia từng ghi nhận virus Nipah lưu hành.

Thứ hai, Việt Nam nằm trong khu vực châu Á, nơi có sự phân bố của các loài dơi ăn quả. Dù từ trước đến nay Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh nào, nhưng vẫn cần giám sát nguy cơ vi rút lưu hành trong quần thể động vật, đặc biệt là dơi. Dơi có thể bay từ vùng này sang vùng khác, mang theo mầm bệnh. Ngoài ra, chúng có thể lây truyền sang đàn heo, tăng nguy cơ lây truyền sang người.

Ông nhấn mạnh, đây là bệnh lây truyền từ động vật sang người, nên công tác giám sát trên động vật và trên người đều rất quan trọng.

Chuyên gia này khuyến cáo: “Mọi người cần đặc biệt lưu ý các triệu chứng như sốt cao, biểu hiện viêm đường hô hấp, viêm não, nhất là khi có yếu tố dịch tễ như đi về từ vùng có dịch hoặc tiếp xúc với động vật nghi ngờ mang mầm bệnh.

Trong trường hợp có triệu chứng nghi ngờ, người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, cách ly, điều tra dịch tễ và xét nghiệm xác định. Do triệu chứng của vi rút Nipah có thể trùng lặp với nhiều bệnh khác, xét nghiệm là bước quyết định để chẩn đoán”.

Về phòng bệnh, chuyên gia này khuyến cáo người dân không tiếp xúc trực tiếp với dơi và các động vật nghi là nguồn lây. Đồng thời, cần bảo đảm vệ sinh trong chăn nuôi, giết mổ, đặc biệt là với heo. Ăn chín, uống chín; thực hiện vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng, đeo khẩu trang để phòng bệnh.

Đặc biệt, người làm trong lĩnh vực chăn nuôi, giết mổ cần trang bị đầy đủ bảo hộ lao động để tránh tiếp xúc với nguồn lây nếu có. Khi có triệu chứng nghi ngờ, chủ động khai báo y tế và đến cơ sở y tế sớm để được thăm khám, chẩn đoán và điều trị, cách ly kịp thời.

Ông cũng khuyến cáo các cơ sở y tế cần nâng cao cảnh giác, đặc biệt với những bệnh nhân có biểu hiện sốt, viêm não, viêm hô hấp và có yếu tố dịch tễ liên quan. Công tác giám sát tại cửa khẩu cũng cần được tăng cường đối với người nhập cảnh từ vùng có dịch.

Việt Nam hiện chưa ghi nhận ca bệnh Nipah, nhưng không vì thế mà chủ quan. Cần có kế hoạch, khuyến cáo để phát hiện sớm, cách ly kịp thời và kiểm soát tốt, ngăn chặn nguy cơ lây lan ra cộng đồng.

(Nguồn:nhandan.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Văn phòng Bộ mời cung cấp báo giá vận chuyển và sắp xếp kho lưu trữ tài liệu

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Đại hội lần thứ XIV của Đảng: Bệnh viện Nhi Trung ương với những dấu ấn nổi bật

 

Bệnh viện Nhi Trung ương thực hiện thành công nhiều kỹ thuật khó, chuyên sâu.

Bên thềm Đại hội lần thứ XIV của Đảng, chia sẻ về những nỗ lực của đơn vị trong thời gian qua, GS.TS Trần Minh Điển, Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết: “Trong năm 2025, bệnh viện đã đạt một số thành tích nổi bật như: Tổ chức thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ Bệnh viện Nhi Trung ương lần thứ XXII (nhiệm kỳ 2025–2030), khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng. Đại hội đã xác định các mục tiêu chiến lược phát triển Bệnh viện theo hướng chuyên sâu, hiện đại, hội nhập quốc tế, lấy người bệnh làm trung tâm, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển bền vững.

Điểm nhấn của năm qua, Bệnh viện đã hoàn thiện, khánh thành cơ sở 2 tại cửa ngõ phía Tây Hà Nội với hạ tầng hiện đại, quy mô hàng trăm giường bệnh. Cơ sở được đưa vào hoạt động sẽ góp phần giảm tải cho cơ sở chính và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ nhi khoa chất lượng cao cho người dân khu vực lân cận. Cùng với đó, Bệnh viện duy trì khối lượng hoạt động ở mức cao với trên 1,2 triệu lượt khám và gần 128.000 lượt bệnh nhi điều trị nội trú, trong đó tỷ lệ lớn là ca bệnh nặng, bệnh phức tạp và phẫu thuật loại đặc biệt, khẳng định vai trò tuyến cuối và năng lực chuyên môn cao của bệnh viện tuyến đầu về Nhi khoa”.

Bệnh viện Nhi Trung ương cũng đã có nhiều mốc đột phá về chuyên môn như: Ghép gan từ người hiến chết não cho trẻ nhỏ. Đây là dấu ấn đột phá trong y học khi Bệnh viện đã thực hiện thành công 2 ca ghép gan cho trẻ suy gan giai đoạn cuối từ người hiến chết não, trong đó có 1 ca ghép gan xuyên Việt với nguồn gan vận chuyển từ Bệnh viện Trung ương Cần Thơ ra Hà Nội, thể hiện trình độ kỹ thuật cao và năng lực phối hợp, điều phối ở quy mô quốc gia. Bệnh viện Nhi Trung ương cũng là đơn vị đầu tiên phối hợp đa chuyên khoa (sinh lý thần kinh, ngoại thần kinh, phục hồi chức năng…) triển khai thành công kỹ thuật cắt rễ thần kinh lưng chọn lọc Selective Dorsal Rhizotomy (SDR) cho trẻ bại não thể co cứng, giúp giảm co cứng cơ, cải thiện vận động và giảm nhu cầu phẫu thuật chỉnh hình, mở ra cơ hội điều trị hiệu quả cho trẻ bại não nặng. Bệnh viện cũng triển khai phát hiện, chẩn đoán và điều trị hiệu quả nhiều bệnh lý miễn dịch bẩm sinh và bệnh hiếm phức tạp ở trẻ em; triển khai các phương pháp hiện đại như giải mẫn cảm thuốc, điều trị đích và sinh học (sirolimus, JAK inhibitors, anakinra, kháng thể đơn dòng), khẳng định năng lực chuyên môn sâu và phối hợp đa chuyên khoa.

Đặc biệt, trong năm 2025, Bệnh viện đã được công nhận với 1 Giáo sư và 4 Phó Giáo sư. Đây là những cán bộ tiêu biểu, có đóng góp nổi bật trong điều trị, đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm đào tạo – nghiên cứu hàng đầu về Nhi khoa.

Bên cạnh đó, Bệnh viện Nhi Trung ương cũng đưa hoạt động nghiên cứu khoa học phát triển mạnh, có chiều sâu. Trong năm 2025, Bệnh viện có 1 đề tài cấp nhà nước, 2 đề tài cấp tỉnh đã được nghiệm thu thành công. Đồng thời, triển khai 6 đề tài cấp bộ và các đề tài từ các nguồn kinh phí khác, bao gồm 11 thử nghiệm lâm sàng: được phê duyệt mới 1 đề tài cấp nhà nước và 3 đề tài cấp bộ; công bố 71 bài quốc tế…

Công tác triển khai số hóa cũng được tăng tốc; đảm bảo đời sống cho cán bộ, nhân viên y tế. Bệnh viện duy trì chi trả thu nhập tăng thêm cho toàn thể cán bộ, viên chức và người lao động, góp phần ổn định đời sống, tạo động lực để đội ngũ y tế yên tâm công tác và cống hiến.

Về nhiệm vụ trong năm mới, GS.TS Trần Minh Điển cho biết: “Trong giai đoạn tới, Bệnh viện tiếp tục phát triển theo hướng chuyên sâu, hiện đại, tập trung vào các lĩnh vực mũi nhọn của nhi khoa, làm chủ kỹ thuật cao, nâng cao chất lượng điều trị bệnh nặng, bệnh hiếm, bệnh phức tạp. Cùng với đó là xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, chú trọng đào tạo cán bộ chuyên môn đầu ngành và đội ngũ quản lý kế cận, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch và có động lực cống hiến; đẩy mạnh đổi mới quản trị và chuyển đổi số, hoàn thiện bệnh án điện tử, số hóa quy trình quản lý, nâng cao hiệu quả điều hành và chất lượng phục vụ người bệnh”.

Theo đó, với vai trò là tuyến đầu Nhi khoa của cả nước, Bệnh viện Nhi Trung ương tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học và chuyển giao kỹ thuật, gắn nghiên cứu với thực tiễn điều trị, từng bước nâng cao vị thế của bệnh viện trong khu vực và quốc tế. Đặc biệt, phát huy vai trò bệnh viện tuyến cuối trong chỉ đạo tuyến và hỗ trợ cơ sở, góp phần nâng cao năng lực nhi khoa toàn quốc, giảm tải cho tuyến trên và bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khỏe trẻ em.

Nguồn: tintuc.vn

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Những dịch bệnh dễ bùng phát dịp cuối năm

 

Trước hết là các bệnh đường hô hấp. Nhiệt độ giảm, độ ẩm cao, chênh lệch nóng – lạnh trong ngày khiến hệ hô hấp dễ tổn thương, đặc biệt ở trẻ nhỏ, người cao tuổi và người mắc bệnh nền. Cúm mùa, viêm đường hô hấp cấp, viêm phổi có xu hướng gia tăng mạnh vào cuối năm, nhất là trong bối cảnh nhiều người chủ quan, nhầm lẫn triệu chứng với cảm lạnh thông thường. Việc tụ tập đông người trong không gian kín như trung tâm thương mại, phương tiện giao thông, tiệc tất niên càng làm nguy cơ lây nhiễm tăng cao.

Bên cạnh đó, các bệnh tiêu hóa và ngộ độc thực phẩm cũng là mối lo lớn. Dịp cuối năm gắn liền với liên hoan, tiệc tùng, sử dụng nhiều thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn để lâu hoặc không được bảo quản đúng cách. Vi khuẩn đường ruột, virus gây tiêu chảy cấp có thể phát triển mạnh nếu khâu vệ sinh an toàn thực phẩm bị xem nhẹ. Trên thực tế, không ít ca nhập viện dịp cuối năm xuất phát từ ngộ độc thực phẩm tập thể hoặc rối loạn tiêu hóa nặng.

Sốt xuất huyết và các bệnh do muỗi truyền tuy thường được nhắc đến nhiều vào mùa mưa, nhưng cuối năm vẫn tiềm ẩn nguy cơ nếu thời tiết còn ẩm, mưa trái mùa hoặc khu vực dân cư tồn tại nhiều điểm nước đọng. Việc lơ là các biện pháp diệt lăng quăng, muỗi vào thời điểm “cuối mùa dịch” khiến nguy cơ bùng phát trở lại không thể loại trừ, đặc biệt tại các đô thị đông dân.

Một nhóm bệnh khác cần lưu ý là các bệnh lây truyền qua tiếp xúc gần và giọt bắn, thường gia tăng trong dịp lễ hội, du lịch cuối năm. Khi mật độ di chuyển cao, việc kiểm soát nguồn lây trở nên khó khăn hơn. Những người có hệ miễn dịch suy giảm dễ trở thành nhóm chịu ảnh hưởng nặng nề nhất nếu mắc bệnh trong giai đoạn này.

Ngoài yếu tố thời tiết và môi trường, sự mệt mỏi tích lũy cuối năm cũng góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Áp lực công việc, học tập, thiếu ngủ, sinh hoạt thất thường khiến hệ miễn dịch suy yếu, làm cơ thể kém khả năng chống đỡ với tác nhân gây bệnh. Đây là lý do nhiều người dù không tiếp xúc nguồn lây rõ ràng vẫn dễ đổ bệnh vào giai đoạn này.

Để hạn chế nguy cơ bùng phát dịch bệnh dịp cuối năm, các chuyên gia khuyến cáo cần duy trì tiêm chủng đầy đủ theo hướng dẫn, giữ vệ sinh cá nhân, đeo khẩu trang khi đến nơi đông người, đảm bảo an toàn thực phẩm và chủ động giữ ấm cơ thể khi thời tiết lạnh. Khi xuất hiện các triệu chứng bất thường như sốt cao, ho kéo dài, tiêu chảy nhiều lần hoặc mệt mỏi không rõ nguyên nhân, người dân không nên chủ quan mà cần đi khám sớm để được chẩn đoán và xử trí kịp thời.

Chủ động phòng bệnh trong những tháng cuối năm không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe cá nhân mà còn góp phần giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh trong cộng đồng, đặc biệt trong giai đoạn nhu cầu giao thương, đi lại và tụ tập tăng cao.

Nguồn: vtv.vn

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Chỉ thị của Bộ Chính trị về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị của Bộ Chính trị về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Chỉ thị số 01-CT/TW, ngày 23/1/2026). Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị số 1-CT/TW.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TTXVN

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội đã thông qua Nghị quyết và các văn kiện Đại hội (sau đây gọi chung là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng). Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là sự tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn, kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; có giá trị định hướng và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội, góp phần hiện thực hoá niềm tin và khát vọng của cả dân tộc vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Để Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng được triển khai ngay, đồng bộ, hiệu quả, thực chất, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cấp, các ngành tập trung thực hiện tốt các nội dung sau:

1. Xác định việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2026 và cả nhiệm kỳ, phải được thực hiện nghiêm túc, bài bản, khoa học; đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để mỗi cán bộ, đảng viên nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo, hiệu quả Nghị quyết, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận của Nhân dân, khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhằm góp phần tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

2. Nội dung nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng bao gồm: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 – 2025) và đề xuất, định hướng bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng.

3. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trì và chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; xây dựng chương trình hành động, kế hoạch cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, thực hiện thường xuyên, liên tục trong cả nhiệm kỳ; kịp thời cập nhật và bổ sung Chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng bộ, chi bộ ở từng cấp gắn với chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với đặc điểm tình hình và điều kiện thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị, thể hiện sự quyết tâm, đổi mới sáng tạo, bảo đảm tính khả thi, thiết thực, hiệu quả. Kết quả thực hiện Chương trình hành động là cơ sở quan trọng để kiểm điểm, đánh giá tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị, người đứng đầu hằng năm và cả nhiệm kỳ. Thời gian hoàn thành Chương trình hành động trong quý I/2026.

4. Tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng phải được tiến hành ngay, đồng bộ, thường xuyên, phong phú, sinh động, kết hợp hài hoà giữa phương thức truyền thống với phát huy hiệu quả các ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số. Kết hợp tự nghiên cứu với nghe phổ biến, đổi mới mạnh mẽ tư duy từ “học tập, quán triệt” sang “hiểu sâu – hành động đúng – làm đến cùng” trong từng bước triển khai.

Nội dung tuyên truyền tập trung về thành công của Đại hội, những nội dung cốt lõi, đổi mới của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; nhận diện đầy đủ những cơ hội, thuận lợi và khó khăn, thách thức trong giai đoạn tới; định hướng dư luận xã hội gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; phản ánh kịp thời, đầy đủ, toàn diện việc triển khai thực hiện Nghị quyết tới các tầng lớp nhân dân trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài, góp phần củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận trong thực hiện mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

5. Tổ chức thực hiện

– Ban Bí thư Trung ương Đảng chủ trì tổ chức Hội nghị toàn quốc “Nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng” bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến cấp uỷ cơ sở. Thời gian hoàn thành trong quý I/2026.

– Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, các cơ quan, đơn vị có liên quan khẩn trương xây dựng, ban hành Kế hoạch tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc của Ban Bí thư Trung ương Đảng về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; hướng dẫn việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị này định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

– Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức các hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cho báo cáo viên nòng cốt của cấp uỷ các cấp, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, lãnh đạo các cơ quan báo chí, xuất bản, văn nghệ sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo trong cả nước. Thời gian hoàn thành các hội nghị trong quý I/2026.

– Các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương chỉ đạo tổ chức các hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cho từng đối tượng cụ thể, từ tỉnh uỷ, thành uỷ tới cơ sở; phát động sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp. Đối với những cán bộ, đảng viên chưa được tham gia học tập tại Hội nghị do Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức, đồng chí bí thư cấp uỷ, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trực tiếp quán triệt. Thời gian hoàn thành các hội nghị trong quý I/2026.

– Văn phòng Trung ương Đảng chủ trì, hướng dẫn việc bảo đảm kinh phí phục vụ nghiên cứu, học tập, quán triệt và tuyên truyền Nghị quyết của Đảng bảo đảm thiết thực, hiệu quả, đúng quy định.

– Uỷ ban Kiểm tra Trung ương xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát chuyên đề việc triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng tại các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương; kịp thời báo cáo kết quả thực hiện với Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo quy định.

Chỉ thị này phổ biến đến chi bộ./.

(Nguồn: baochinhphu.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!

 

Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN

TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!

Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa kết thúc rất thành công là sự kiện chính trị đặc biệt trọng đại, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới cho đất nước. Đại hội là sự tập trung cao độ ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, kết tinh trí tuệ và khát vọng vươn lên của dân tộc. Phương châm của Đại hội: “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển” không chỉ là khẩu hiệu, mà thực sự là lời hiệu triệu, là mệnh lệnh của trách nhiệm trước lịch sử, khẳng định niềm tin tất thắng vào con đường Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Với quá trình chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, khoa học và tiếp thu rộng rãi ý kiến đóng góp trong toàn Đảng, toàn dân, văn kiện Đại hội XIV được thông qua thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị cao nhất. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử các kỳ đại hội, Đại hội XIV ban hành Chương trình hành động kèm theo Nghị quyết – một bước đột phá nhằm bảo đảm Nghị quyết đi ngay vào cuộc sống. Từ chủ trương đến kế hoạch và tổ chức thực hiện đều được xác định rõ ràng ai làm, làm khi nào, cần nguồn lực gì và mục tiêu cuối cùng ra sao. Nhờ vậy, Nghị quyết Đại hội XIV thực sự trở thành một cẩm nang hành động của Đảng và cả hệ thống chính trị, là “ngọn đuốc soi đường” trên con đường phát triển mới.

Nghị quyết Đại hội XIV đề ra mục tiêu tổng quát cho giai đoạn 2026 – 2030 và tầm nhìn đến 2045 hết sức rõ ràng, táo bạo nhưng khả thi: giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển đất nước nhanh và bền vững; nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tăng cường tự chủ, tự cường để tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Quan trọng hơn, Văn kiện Đại hội XIV đã cụ thể hóa ngay tinh thần hành động quyết liệt. Chương trình hành động kèm theo Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu “lựa chọn đúng – triển khai nhanh – làm đến nơi đến chốn – đo lường bằng kết quả” đối với mọi nhiệm vụ. Mỗi quyết sách lớn của Đại hội đều được xây dựng thành kế hoạch triển khai thực tế, xác định rõ mục tiêu, giải pháp và tiêu chí đánh giá. Tư tưởng “Dân là gốc” được quán triệt xuyên suốt: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc phát triển, mọi chính sách đều hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; đồng thời đề cao việc tôn trọng, lắng nghe và phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân. Nhờ thế, Nghị quyết Đại hội XIV không dừng ở tầm nhìn và định hướng, mà đã mang trong mình hơi thở của cuộc sống, khơi dậy khát vọng phát triển và động lực hành động mạnh mẽ, sẵn sàng đi vào thực tiễn ngay sau Đại hội.

Từ nghị quyết đến hành động

Nghị quyết đã có, Chương trình đã rõ, vấn đề còn lại là hành động. Đại hội yêu cầu tất cả các cấp ủy đảng khẩn trương quán triệt, học tập, cụ thể hóa Nghị quyết thành những chương trình, kế hoạch phù hợp với địa phương, đơn vị mình, nhanh chóng đưa Nghị quyết và Chương trình hành động vào cuộc sống. Tinh thần chung là phải chuyển mạnh từ “nói” sang “làm”, từ nhận thức thành hành động. Văn kiện Đại hội đã chỉ rõ, cần kiên quyết khắc phục triệt để tình trạng “nói nhiều làm ít”, “nói hay, làm dở”, “nói không đi đôi với làm”, chấm dứt lối làm việc quan liêu, hình thức. Mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt người đứng đầu, phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu đi đầu trong việc biến quyết sách thành hiện thực. Từ nay, “nói đi đôi với làm” phải trở thành nguyên tắc hành động; mọi chủ trương, nhiệm vụ đề ra đều phải xác định rõ mục tiêu, giải pháp, gắn trách nhiệm với kết quả, gắn đột phá với bền vững và kỷ luật thực thi phải gắn với sự hài lòng của Nhân dân.

Chuyển sang giai đoạn mới, mỗi chủ trương đúng đắn khi ban hành phải được thực hiện với quyết tâm gấp mười lần và hành động gấp trăm lần trong thực tiễn; quyết tâm chính trị phải ở mức cao nhất, nỗ lực ở mức lớn nhất, hành động phải quyết liệt nhất – đó là mệnh lệnh xuất phát từ ý chí và khát vọng phát triển của dân tộc. Từ Trung ương đến địa phương, từ các cơ quan Đảng, Nhà nước đến Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, tất cả phải đồng loạt vào cuộc với khí thế mới; trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là từng đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phải gương mẫu, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung, đặt kết quả phục vụ Nhân dân làm thước đo cao nhất cho hiệu quả công việc.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV ra mắt Đại hội. Ảnh: TTXVN

Giai đoạn 5 – 10 năm tới

Khoảng thời gian 5 – 10 năm tới chính là giai đoạn bản lề có ý nghĩa quyết định đối với hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước. Trong khoảng thời gian không dài này, chúng ta vừa phải hoàn thành các mục tiêu của chặng đường 5 năm 2026 – 2030, vừa tạo nền tảng vững chắc để vươn tới các mốc phát triển cao hơn vào năm 2045. Mục tiêu đến năm 2030 là đưa nước ta trở thành quốc gia có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Điều đó đòi hỏi nền kinh tế liên tục trong nhiều năm phải tăng trưởng bình quân 10%/năm hoặc cao hơn – một tốc độ đột phá chưa từng có, nhưng là mục tiêu hoàn toàn có cơ sở khi chúng ta biết phát huy tối đa các nguồn lực. Đến năm 2045, chúng ta phải thực hiện cho bằng được mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phát triển, thu nhập cao, ngang tầm thế giới.

Chính vì thời gian ngắn, nhiệm vụ nặng nề và mang tính quyết định như vậy, Đại hội XIV đã đề ra những chủ trương, giải pháp có tính cách mạng và đột phá nhằm tranh thủ từng cơ hội, vượt qua mọi thách thức. Trong 5 năm tới, chúng ta phải tăng tốc toàn diện trên tất cả các lĩnh vực then chốt: kinh tế phải bứt phá để đạt mức tăng trưởng cao liên tục; khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được thúc đẩy mạnh mẽ để làm động lực cho phát triển; cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh phải tiến hành quyết liệt, thông thoáng để giải phóng mọi nguồn lực xã hội. Đồng thời, các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa cần được quan tâm đầu tư ngang tầm với tăng trưởng kinh tế, bảo đảm phát triển hài hòa, bền vững. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục đặt ra yêu cầu rất cao, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ – những người “thật sự tiêu biểu về phẩm chất, trí tuệ, bản lĩnh, đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ to lớn mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó”.

Nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng là giai đoạn cực kỳ quan trọng để toàn Đảng, toàn dân lập thành tích cao nhất chào mừng 100 năm Ngày thành lập Đảng (2030). Từ bây giờ, tư duy “5 năm với tầm nhìn 20 năm” phải được quán triệt trong chỉ đạo điều hành. Nghĩa là thực hiện thắng lợi mục tiêu 5 năm trước mắt cũng đồng thời là đặt nền móng vững chắc cho mục tiêu nhiều năm tiếp theo. Những quyết sách đúng đắn và đột phá hôm nay không chỉ đem lại kết quả tức thì cho giai đoạn 2026 – 2030, mà còn tạo đà cho bước phát triển nhảy vọt trong những thập niên tới. Nếu chúng ta tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức của 5 – 10 năm bản lề này, chắc chắn đất nước sẽ cất cánh mạnh mẽ, hiện thực hóa được hoài bão trở thành một Việt Nam hùng cường vào giữa thế kỷ 21. Ngược lại, nếu để lỡ thời cơ hoặc chậm trễ, sai sót trong giai đoạn bản lề, cái giá phải trả sẽ rất đắt – có thể đánh mất cơ hội của cả dân tộc, tụt hậu xa hơn trong một thế giới biến động nhanh chóng. Nhận thức rõ điều đó, toàn Đảng và toàn dân ta càng quyết tâm hành động thần tốc, quyết liệt ngay từ đầu nhiệm kỳ, không để “một ngày lãng phí, một tuần chậm trễ”.

Chương trình “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng” là điểm nhấn đặc biệt, giàu ý nghĩa chính trị – văn hóa – nghệ thuật, thể hiện niềm tin son sắt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết tâm đoàn kết một lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV. Ảnh: TTXVN

Vượt lên thách thức

Nhìn về phía trước, chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài thành công. Đại hội XIV đã thắp lên ngọn lửa niềm tin tất thắng, đặt lên vai toàn Đảng, toàn dân ta một trọng trách lịch sử vô cùng nặng nề nhưng cũng rất đỗi vẻ vang. Trước mắt là rất nhiều khó khăn, thách thức, song Đảng ta không cho phép bất cứ sự chùn bước hay thất bại nào trên con đường đã chọn. Cùng với Đảng là niềm tin yêu và kỳ vọng của hơn 100 triệu đồng bào, và trước mắt chúng ta là vận mệnh của cả dân tộc trong thế kỷ 21. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng đề ra không chỉ là khát vọng mà còn là lời hứa danh dự trước Nhân dân. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt những người “đứng mũi chịu sào”, phải tự nhắc mình phải vươn lên, phải vượt lên chính mình. Chúng ta không được phép trì hoãn đổi mới, không được phép chậm trễ trong hành động, càng không được phép tự thỏa mãn hay ngủ quên trên vòng nguyệt quế. Bài học của những nhiệm kỳ trước cho thấy: ở đâu có quyết tâm chính trị cao, sự chỉ đạo tập trung, thống nhất, sâu sát, ở đó công việc chuyển biến tích cực; ngược lại, nếu lơi lỏng, chủ quan, thiếu quyết liệt, thì chủ trương dù đúng mấy cũng khó thành công.

Lịch sử đã chứng minh: Dân tộc Việt Nam chúng ta chưa bao giờ khuất phục trước bất kỳ kẻ thù hay khó khăn nào. Từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã hun đúc nên truyền thống kiên cường, bất khuất, càng gian nan thử thách thì càng đoàn kết, đồng lòng để chiến thắng. Trong thế kỷ 20, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã làm nên những chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Ở thời đại mới, trên mặt trận phát triển kinh tế – xã hội, chúng ta càng phải phát huy tinh thần “không lùi bước, không chùn bước, chỉ có tiến lên, tiến lên không ngừng”. Đảng và Nhân dân ta quyết giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bởi mỗi bước đi chậm trễ, mỗi mục tiêu không đạt được đều ảnh hưởng đến tương lai của cả dân tộc. “Thành công, nhất định thành công!” – đó là tâm thế, là quyết tâm chính trị mà chúng ta khắc cốt ghi tâm khi bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV.

Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, chưa bao giờ thời cơ và thách thức lại đan xen phức tạp như hiện nay. Vận mệnh đất nước phụ thuộc vào khả năng nắm bắt thời cơ và vượt qua thách thức của chúng ta. Hội nhập quốc tế sâu rộng đồng nghĩa với việc Việt Nam đứng trước nhiều sức ép cạnh tranh, song cũng mở ra cánh cửa tiếp thu tri thức, công nghệ tiên tiến và nguồn lực phát triển từ bên ngoài. Toàn cầu hóa kinh tế mang lại thị trường lớn cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam, nhưng cũng đòi hỏi chúng ta phải không ngừng nâng cao năng lực nội sinh để vươn lên các nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Những biến động địa – chính trị trên thế giới có thể ảnh hưởng đến môi trường hòa bình, ổn định – điều kiện tiên quyết cho phát triển – vì vậy, nhiệm vụ giữ vững độc lập, chủ quyền và môi trường hòa bình càng trở nên quan trọng. Bối cảnh mới đòi hỏi tư duy và tầm nhìn mới: chúng ta phải chủ động chiến lược, luôn tỉnh táo, nhạy bén trong phân tích tình hình, linh hoạt, sáng tạo trong đối sách, kiên định nguyên tắc nhưng không giáo điều, cứng nhắc.

Với bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc Việt Nam, sự tin yêu, đồng lòng nhất trí của Nhân dân, chúng ta có thể khẳng định thuận lợi sẽ nhiều hơn thách thức. Thế và lực của đất nước sau hơn nửa thế kỷ thống nhất đã lớn mạnh hơn bao giờ hết, tạo tiền đề để chúng ta tự tin vươn lên. Uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao là điều kiện thuận lợi để tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác của bạn bè quốc tế. Điều cốt yếu là chúng ta phải phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, biến sức mạnh tổng hợp ấy thành động lực phát triển đất nước. Chủ động thích ứng, tích cực đổi mới sáng tạo chính là chìa khóa để Việt Nam vượt qua sóng gió, vững vàng tiến bước trong thời đại đầy biến động.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng” do Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam Thành phố Hà Nội tổ chức. Ảnh: TTXVN

Nhất định thắng lợi

Trong thời khắc đặc biệt này, hơn bao giờ hết, lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu vẫn vang vọng: “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”. Lời hiệu triệu của Bác năm xưa đã trở thành niềm tin tất thắng, cổ vũ cả dân tộc ta vùng lên giành độc lập, tự do. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lời hiệu triệu ấy vẫn sục sôi khí thế, thôi thúc chúng ta quyết tâm, chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với bạn bè năm châu.

Gần 6 triệu đảng viên cùng trên 100 triệu đồng bào đang mang trong tim mình một ngọn lửa khát vọng Việt Nam hùng cường. Đại hội XIV đã trao cho chúng ta ngọn cờ quyết thắng. Giờ là lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cùng siết chặt đội ngũ, chung sức đồng lòng, ra sức thi đua lao động, học tập, công tác và chiến đấu, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội. Giờ là lúc biến tất cả chủ trương, nghị quyết thành hành động, thành kết quả cụ thể. Tương lai, vận mệnh của đất nước thúc giục chúng ta phải hành động, hành động quyết liệt hơn nữa. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cùng hành động với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai” với tri thức mới, với sự hỗ trợ của khoa học, công nghệ, dưới ánh sáng soi đường của Đảng; chúng ta hành động với ý chí kiên cường, tiến bước trên mọi mặt trận kinh tế, văn hóa, xã hội như những “chiến sĩ thời bình” thì hiệu quả sẽ gấp mười, gấp trăm lần.

Từ niềm tin mãnh liệt vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sức mạnh của Nhân dân, chúng ta cùng đồng thanh: “Dưới cờ Đảng vinh quang, vì tương lai tươi sáng của dân tộc, tiến lên, nhất định thắng”.

Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!

 (Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế trân trọng giới thiệu)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì họp báo thông báo kết quả Đại hội XIV của Đảng

Chiều 23/1, ngay sau phiên bế mạc, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Trung tâm Báo chí Đại hội XIV của Đảng tổ chức họp báo quốc tế, công bố kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và chủ trì cuộc họp báo.

Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ đạo và chủ trì buổi họp báo.

Dự cuộc họp báo có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Trịnh Văn Quyết, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Lê Hoài Trung, Bộ trưởng Ngoại giao; Phạm Gia Túc, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Đoàn Minh Huấn, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Cùng dự có đồng chí Lâm Thị Phương Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương; hơn 700 phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài nước.

Phát biểu ý kiến với báo chí, Tổng Bí thư Tô Lâm cảm ơn phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí trong những ngày qua đã bám sát, đưa tin kịp thời các thông tin về Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, lan tỏa đầy đủ nội dung, tinh thần của Đại hội, góp phần tạo sự đồng thuận, tin tưởng trong toàn xã hội.

Thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội và thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, thông tin kết quả Đại hội, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công rực rỡ, là một mốc son trong lịch sử 96 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, là dấu mốc quan trọng trong dòng chảy lịch sử ngàn năm văn hiến của dân tộc. Từ khóa của Đại hội là: Đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, đột phá, phát triển, trách nhiệm, tâm huyết, trí tuệ, khoa học, vì dân, tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Quang cảnh buổi Họp báo quốc tế công bố kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Đây là một Đại hội thực sự đoàn kết, thống nhất, thể hiện ý chí, bản lĩnh, khát vọng, quyết tâm và sức mạnh của dân tộc Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đại hội thống nhất cao về nội dung các văn kiện, chương trình hành động, lựa chọn nhân sự vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV gồm 200 đồng chí, trong đó 180 đồng chí là Ủy viên chính thức và 20 đồng chí là Ủy viên dự khuyết. Ngay sau đó, tại Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư, Ủy ban Kiểm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra và phân công nhiệm vụ các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV là những người tiêu biểu cho 5,6 triệu đảng viên, hội tụ đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức, uy tín, năng lực, trình độ, được Đại hội tín nhiệm cử gánh vác trọng trách trước Đảng, trước nhân dân trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước.

Tổng Bí thư cho biết, Đại hội đã đưa ra các quyết sách lịch sử để thực hiện thành công 2 mục tiêu 100 năm; khẳng định tin tưởng với sức mạnh của cội nguồn lịch sử dân tộc, với bề dày truyền thống gần 1 thế kỷ lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, với sự ủng hộ, chung sức, đồng lòng của toàn thể nhân dân, sự cổ vũ, động viên, hợp tác của bạn bè quốc tế, Việt Nam nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Tại cuộc họp báo, đại diện các cơ quan báo chí trong nước và nước ngoài đã đặt những câu hỏi thể hiện sự quan tâm tới nhiều vấn đề xung quanh các quyết sách của Đại hội XIV.

Trao đổi làm rõ các vấn đề mà báo chí quan tâm, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, Đại hội XIV của Đảng có nhiều điểm mới, thể hiện rõ qua các từ khóa của Đại hội. Điểm mới đáng chú ý nhất là sự đổi mới về tư duy xây dựng văn kiện Đại hội, thể hiện ở việc tích hợp đồng bộ ba báo cáo gồm: Báo cáo Chính trị, Báo cáo kinh tế- xã hội, Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, toàn diện, rõ trọng tâm, trọng điểm, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ triển khai. Ngay trong chương trình Đại hội cũng có điểm mới, đó là nhờ tích cực làm việc khẩn trương, khoa học, hiệu quả, Đại hội đã rút ngắn thời gian so dự kiến. Đại hội lần này cũng được kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế rất quan tâm, theo dõi.

Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong thời điểm, bối cảnh lịch sử rất quan trọng, đòi hỏi phải có tư duy mới, từ đó đề ra mục tiêu mới và tầm nhìn mới cho sự phát triển của đất nước. Đại hội đã chủ trương tổng kết 100 năm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2030) với cách mạng Việt Nam, định hướng phát triển đất nước của 100 năm tiếp theo (2030-2130); tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là những cơ sở quan trọng để xác định đường hướng phát triển đất nước trong tương lai.

Trả lời câu hỏi làm gì để sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống, Tổng Bí thư nêu rõ, nhiệm kỳ này thiên về hành động, tập trung vào khâu tổ chức thực hiện (vẫn luôn bị coi là khâu yếu), bảo đảm thiết thực, hiệu quả vì mục tiêu nâng cao đời sống của nhân dân. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV là đột phá so với các đại hội trước đây, đã chỉ rõ những nhiệm vụ, đề án, công trình, dự án quan trọng, có tính chiến lược, phân công trách nhiệm cụ thể, rõ nguồn lực, tiến độ, các điều kiện cần thiết để thực hiện. Trên cơ sở đó các cấp ủy, tổ chức đảng triển khai quyết liệt với những kết quả cụ thể, đo đếm được; kiên quyết xử lý những trường hợp tiêu cực, đùn đẩy, né tránh trong tổ chức thực hiện. Ngay sau Đại hội, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 01-CT/TW về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội.

Đông đảo phóng viên các cơ quan báo chí trong nước và nước ngoài dự họp báo.

Trả lời một số câu hỏi của các nhà báo quốc tế, Tổng Bí thư cho biết, tại Đại hội này, Việt Nam thể hiện rõ hơn trách nhiệm đối với quốc tế và khu vực, thông qua việc chú trọng hơn vai trò công tác đối ngoại; chủ trương hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền chính trị, kinh tế quốc tế và văn minh nhân loại. Trong bối cảnh hiện nay, các quốc gia đều phải có trách nhiệm chung với các vấn đề toàn cầu; không quốc gia nào có thể tự mình giải quyết được mà phải có sự hợp tác quốc tế. Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam nay đã có đủ tiềm lực, vị thế, uy tín để tham gia có trách nhiệm vào các vấn đề toàn cầu, góp phần gìn giữ, kiến tạo hòa bình, bảo đảm an ninh trong khu vực và trên thế giới, chia sẻ với những thách thức mà nhiều quốc gia đang gặp phải, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo, thực hiện các cam kết vì mục tiêu phát triển bền vững…

Cảm ơn các nhà báo đã dành sự quan tâm lớn tới kết quả Đại hội XIV của Đảng, đồng chí Trịnh Văn Quyết khẳng định đây là diễn đàn đối thoại truyền thông thể hiện rõ tinh thần chủ động, minh bạch, trách nhiệm và nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc cung cấp thông tin chính thống, kịp thời, đầy đủ về đường lối, chủ trương, tầm nhìn phát triển đất nước. Thông qua trao đổi thẳng thắn, cởi mở, đồng chí Tổng Bí thư đã thông tin làm rõ một số nội dung mới của Đại hội XIV; đồng thời khẳng định quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất và hiệu quả.

Đồng chí cho biết, ngay sau cuộc họp báo, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương sẽ tiếp tục chỉ đạo các cơ quan liên quan đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về Đại hội XIV của Đảng một cách chính xác, kịp thời, sinh động và có sức thuyết phục, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, tăng cường sự hiểu biết, ủng hộ của bạn bè quốc tế. Đồng chí đề nghị các cơ quan thông tấn, báo chí bám sát định hướng, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đến với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và bạn bè quốc tế, tạo sự đồng thuận sâu rộng, hiểu đúng, tin tưởng, đồng lòng ủng hộ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự ủng hộ quý báu của bạn bè quốc tế cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.

(Nguồn: nhandan.vn)

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Lạnh sâu, nhiều người nhập viện vì liệt dây thần kinh ngoại biên

Thời tiết rét đậm, rét hại những ngày qua không chỉ làm gia tăng các bệnh hô hấp mà còn khiến nhiều người đột ngột bị méo miệng, lệch mặt, phải nhập viện trong tình trạng liệt dây thần kinh số VII ngoại biên do nhiễm lạnh, nhưng nhiều người lại tưởng nhầm bị đột quỵ.

Bác sĩ can thiệp cho người bệnh.

Đột ngột méo miệng, cơ mặt cứng đơ không cười được, mắt trái không nhắm kín, cháu P.N.C. (11 tuổi, ở Hà Nội) được gia đình đưa vào Khoa Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương thăm khám. Các bác sĩ chẩn đoán cháu bị liệt dây thần kinh số VII ngoại biên do nhiễm lạnh.

Trước khi nhập viện, trong lúc đi học, C. cởi áo khoác và chỉ mặc một chiếc áo mỏng suốt cả ngày trong thời tiết rét đậm. Bác sĩ chuyên khoa I Lê Nguyên Long, Phụ trách Khoa Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng, cho biết sau một tuần điều trị bằng thuốc kết hợp vật lý trị liệu và phục hồi chức năng, vận động cơ mặt của cháu đã cải thiện rõ rệt.

Tương tự, ông N.V.N. (58 tuổi, Hà Nội) sau vài ngày thời tiết trở lạnh xuất hiện đau họng, sưng đau vùng tai trái và được chẩn đoán viêm tai giữa tại cơ sở y tế gần nhà. Sau 3 ngày điều trị không đỡ, ông bắt đầu méo miệng, nói khó, mắt không nhắm kín. Lo ngại đột quỵ, gia đình đưa ông đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Kết quả chụp cắt lớp vi tính sọ não giúp loại trừ tổn thương mạch máu não. Các bác sĩ xác định ông bị liệt dây thần kinh số VII ngoại biên bên trái do biến chứng viêm tai giữa cấp tính, kèm liệt dây thanh âm. Bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp nhiều năm cùng một số bệnh lý nền khiến hệ miễn dịch suy giảm. Sau điều trị bằng thuốc kháng viêm, giảm phù nề kết hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng cơ mặt, tình trạng của ông cải thiện rõ sau 10 ngày.

Bà B.T.T. (83 tuổi, ở Hà Nội) sau khi đi ăn sáng về thì xuất hiện tình trạng miệng méo sang trái, mắt phải không nhắm kín. Khi vào viện, bà được chẩn đoán liệt dây thần kinh số VII ngoại biên bên phải.

Theo bác sĩ chuyên khoa I Lê Nguyên Long, dây thần kinh số VII chi phối vận động các cơ mặt, tham gia dẫn truyền vị giác, tiết nước mắt và nước bọt. Do đi qua ống xương hẹp ở xương thái dương, dây thần kinh này rất nhạy cảm và dễ bị phù nề. Khi vùng đầu-mặt-cổ tiếp xúc lạnh đột ngột, mạch máu co thắt gây thiếu máu cục bộ, kích hoạt phản ứng viêm, dẫn đến phù nề và chèn ép dây thần kinh, làm rối loạn dẫn truyền xung động đến cơ mặt.

Để phòng bệnh, bác sĩ Long khuyến cáo người dân cần giữ ấm vùng đầu, mặt, cổ khi ra ngoài trời lạnh.

Thời tiết lạnh cũng tạo điều kiện cho các loại virus, đặc biệt là herpes simplex type 1 (HSV-1) tái hoạt. Virus này tồn tại tiềm ẩn trong hạch thần kinh mặt ở nhiều người khỏe mạnh. Khi tái hoạt, phản ứng viêm miễn dịch tăng mạnh, khiến phù nề dây thần kinh nặng hơn và gây liệt mặt khởi phát đột ngột.

Triệu chứng thường xuất hiện nhanh, có thể ngay khi thức dậy buổi sáng người bệnh đã thấy méo miệng, cười lệch, nói khó, chảy nước miếng hoặc nước mắt bên liệt, nhắm mắt không kín, kèm đau âm ỉ sau tai. Các biểu hiện tiến triển trong vài giờ đến một, hai ngày nhưng không gây rối loạn ý thức.

Bác sĩ Long lưu ý, liệt mặt do nhiễm lạnh thường không kèm yếu tay chân, tê nửa người hay rối loạn ngôn ngữ trung ương như đột quỵ. Tuy nhiên, do biểu hiện méo miệng khá giống đột quỵ nên người bệnh dễ nhầm lẫn, dẫn tới nhập viện muộn hoặc xử trí sai cách. “Thời điểm vàng” trong điều trị liệt dây thần kinh số VII ngoại biên là 72 giờ đầu, nhằm giảm phù nề, bảo vệ bao myelin và tăng khả năng hồi phục hoàn toàn chức năng vận động cơ mặt.

Để phòng bệnh, bác sĩ Long khuyến cáo người dân cần giữ ấm vùng đầu, mặt, cổ khi ra ngoài trời lạnh; tránh để quạt hoặc điều hòa thổi trực tiếp vào mặt, đặc biệt khi ngủ; không tắm khuya, không xối nước lạnh hoặc nước nóng đột ngột lên đầu, mặt. Khi xuất hiện các dấu hiệu như méo miệng, lệch mặt, mắt không nhắm kín, cần đến cơ sở y tế có chuyên khoa để được thăm khám, loại trừ đột quỵ và điều trị kịp thời.

Người bệnh cũng cần bảo vệ mắt bên liệt bằng nước mắt nhân tạo, băng che khi ngủ để tránh tổn thương giác mạc; kết hợp điều trị thuốc với các phương pháp y học cổ truyền như châm cứu, xoa bóp, cùng vật lý trị liệu và tập vận động cơ mặt. Không tự ý điều trị bằng các phương pháp dân gian chưa được kiểm chứng tại nhà.

(Nguồn: nhandan.vn)

Exit mobile version