Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Cần Phát Hiện Sớm Vẹo Cột Sống

Vẹo cột sống là bệnh cơ xương khớp thường xảy ra ở bé gái và có thể được phát hiện ở tuổi thiếu niên. Quá trình biến dạng cột sống làm giảm không gian dành cho phổi, dẫn tới việc khó thở và các vấn đề khoang bụng.

    Nếu phát hiện sớm và điều trị ở độ tuổi thích hợp, biến dạng này có thể được khắc phục hoàn toàn.

    Đó là một buổi sáng ngày thứ tư khi Raju 31 tuổi đi bộ tới phòng khám. Anh chỉ có thể bước vài bước đã trở nên khó thở. Thậm chí khi ở tư thế nghỉ ngơi, anh cũng bị khó thở.  Tình trạng này là kết quả của sự hạn chế do biến dạng cột sống gọi là gù, tức là tình trạng cột sống bị biến dạng và còng xuống. Biến dạng này xuất hiện khi anh còn trẻ. Raju đã tư vấn một vài bác sĩ phẫu thuật, họ đã khuyên anh nên phẫu thuật để chỉnh sửa biến dạng. Anh đã sợ hãi và từ chối phẫu thuật. Một số người cũng nói với anh rằng phẫu thuật là nguy hiểm khi còn trẻ.

    Ngoài ra, sự kỳ thị của xã hội và những điều cấm kị liên quan tới tình trạng này bắt buộc anh phải trì hoãn điều trị. Nó đã trở thành một phẫu thuật đầy mạo hiểm vào giai đoạn đó, đặc biệt là có liên quan tới tình trạng phổi và độ cứng của biến dạng. Toàn bộ nhóm nghiên cứu tại bệnh viện được đưa ra thử thách. Phẫu thuật thực hiện trong 4 giờ để sắp xếp lại cột sống, cắt đi phần biến dạng, chỉnh sửa và cố định lại ở tư thế đúng. Tất cả được thực hiện không gây tổn thương cho tủy sống, được giám sát liên tục với sự giúp đỡ của hệ thống giám sát thần kinh mới nhất. Raju đã phẫu thuật an toàn, ở lại phòng chăm sóc đặc biệt và xuất viện sau vài ngày. Tới ngày thứ 2, Raju đã đi bộ thoải mái và trở về nhà sau 1 tuần. Cho tới bây giờ tức là 2 năm sau, anh vẫn có cuộc sống bình thường, đi bộ và thực hiện tất cả các hoạt động như bất cứ người bình thường nào khác bao gồm cả tập yoga.

    Vẹo cột sống gây ra những rối loạn gì?

    Vẹo cột sống thường gặp ở bé gái.

    • Biến dạng
    • Vấn đề phổi
    • Vấn đề thần kinh
    • Vẻ ngoài ốm yếu
    • Đau khi trẻ phát triển
    • Chiều cao thấp

    Có rất nhiều huyền thoại và quan niệm sai lầm trong xã hội, đặc biệt là khu vực nông thôn, nơi căn bệnh này phổ biến hơn. Cần phải phổ biến nhận thức về độ an toàn của phẫu thuật và nhận biết, điều trị sớm biến dạng trong giai đoạn sớm. Không phải tất cả các trường hợp cong vẹo cột sống đều cần phẫu thuật, vì bệnh có thể được theo dõi và kiểm soát bằng vật lý trị liệu. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp bệnh nhẹ. Việc phát hiện bệnh không chỉ dựa vào các bác sĩ mà còn dựa vào phụ huynh, giáo viên. Cần giáp dục cộng đồng nói chung và phụ huynh, giáo viên nói riêng về cong vẹo cột sống.

    Chuyên mục
    Tin Tức Y Dược

    Chuyên Gia Bệnh Học Đẩy Lùi Quá Trình Lão Hóa Mắt Như Nào?

    Trên toàn thế giới có hơn 45 triệu người mù, tỉ lệ người mắc các bệnh liên quan đến mắt do suy giảm thị lực như mù, bệnh võng mạc có xu hướng gia tăng. Theo các chuyên gia bệnh học, quá trình lão hóa mắt bắt đầu từ tuổi 40 và rõ rệt nhất ở độ tuổi 50 – 60.

      Quá trình lão hóa mắt được thúc đẩy nhanh bởi tác động của môi trường làm việc, ô nhiễm khói bụi và việc bổ sung thiếu các chất dinh dưỡng hàng ngày.

      Tư vấn trực tuyến các bệnh liên quan đến mắt 

      Trong tổ chức buổi tư vấn truyền hình trực tuyến với chủ “Mắt và những bệnh liên quan đến tuổi tác” vào 9h30, thứ tư, ngày 29/6/2016. Chương trình có sự tham gia của PGS.TS. Cung Hồng Sơn, Phó giám đốc Bệnh viện Mắt trung ương, PGS.TS. Vũ Thị Thanh Huyền- Phó Trưởng khoa Khám bệnh theo yêu cầu, Bệnh viện Lão khoa trung ương, ThS.BS. Lê Thị Hải, Nguyên Giám đốc Trung tâm Khám tư vấn Dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng Quốc gia với sự đổng hành  của nhãn hàng Kankavin.

      Trong hơn 2 tiếng diễn ra chương trình tư vấn, các chuyên gia y tế nhận được rất nhiều câu hỏi từ các vấn đề lão hóa do tuổi tác, các bệnh lý có liên quan đến mắt, chế độ dinh dưỡng, cách bảo vệ, phòng ngừa và duy trì sức khỏe cho mắt đến cả những căn bệnh phức tạp nhất của mắt là bong võng mạc…

      Cần bảo vệ sức khỏe đôi mắt đúng cách

      Hiện nay nhiều gia đình có xu hướng đưa con em mình đến các trung tâm được quảng cáo là để luyện mắt, cải thiện thị lực, thậm chí để hạn chế tăng độ cho người cận thị. Tuy nhiên điều này hoàn toàn không đúng. PGS. TS Cung Hồng Sơn cho biết, việc đi luyện mắt để chữa cận thị hoàn toàn không có cơ sở khoa học, không có phương pháp gì để luyện tập chữa cận thị. Nếu bệnh nhân mắc cận thị không muốn đeo kính thì có thể phẫu thuật cận thị.

      Bạn Nguyễn Hoài Anh ở Hà Đông nhờ bác sĩ tư vấn cách tập luyện thể thao sau phẫu thuật bong võng mạc, PGS Sơn cho rằng, sau phẫu thuật bạn chỉ nên tập các môn thể thao nhẹ nhàng, tránh các môn có tính đối kháng bởi với những môn vận động mạnh, dễ va chạm sẽ gây tổn thương mắt.

      Tư vấn cho nhóm bạn đọc hỏi về chế độ dinh dưỡng để có một đôi mắt khỏe, Ths.BS. Lê Thị Hải cho biết, để bảo vệ đôi mắt ngoài việc chú ý đến chế độ sinh hoạt như đọc hay viết phải đủ ánh sáng, bổ sung các loại thực phẩm chứa vitamin A, tiền vitamin A tốt cho mắt, nhất là ở những đối tượng thường xuyên ngồi máy tính, học hành nhiều, hay xem tivi, chơi game…. Với người già thường xảy ra tình trạng khô mắt, mờ mắt do lão hóa, cần bổ sung thêm các thực phẩm giàu vitamin A như gan, cà rốt, các loại thực phẩn tiền vitamin A, beta caroten như các loại quả có màu vàng, đỏ như đu đủ, bí đỏ hoặc các loại rau có màu xanh thẫm ….  Các loại rau này rất tốt giúp giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng ở mắt.

      Cần kiểm tra mắt định kỳ

      Đối với người cao tuổi việc bảo vệ mắt là một vấn đề vô cùng quan trọng bởi mắt cũng như các bộ phận khác cũng lão hóa theo thời gian, dễ mắc các bệnh như đục thủy tinh thể, vẩn đục dịch kính …. Một số đối tượng có nguy cơ cao mắc các bệnh về mắt như bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường, béo phì, cao huyết áp cần đi khám sức khỏe định kỳ. PGS.TS Vũ Thị Thanh Huyền cho rằng, người lớn tuổi không nên chủ quan với bệnh tật, cần chú trọng bảo vệ đôi mắt, nhất là những người phải thường xuyên làm việc, lao động trong môi trường khắc nghiệt như nắng nóng, cần trang bị kính và quần áo bảo hộ, nếu bị khô mắt cần nhỏ mắt bằng nước muối sinh lý.

      Mọi người quan tâm tới sức khỏe của mình thường đi khám sức khỏe định kỳ, nhưng hầu hết lại bỏ qua việc khám mắt. Theo PGS.TS. Cung Hồng Sơn, khám sức khỏe định kỳ cho mắt tùy theo việc người bệnh mắc những bệnh gì về mắt. Vì mắc bệnh lý về võng mạc, cận thị có thời gian khám khác nhau, có thể 1, 3, 6 tháng hoặc 1 năm, như cận thị nên 6 tháng đến 1 năm khám 1 lần.  Giải thích lý do tại sao mọi người ít đi khám sức khỏe hơn bình thường, đó là do đau mắt rất khó chịu, đòi hỏi người bệnh phải đi khám ngay. Dân gian có câu “Thứ nhất đau mắt thứ nhì đau răng”, để thấy rằng đau mắt ảnh hưởng rất nhiều tới cuộc sống. Nên nếu bị bất cứ vấn đề gì người bệnh thường đến khám ngay, nên bệnh nhân thường không đến khám định kỳ để phát hiện sớm các bệnh lý về mắt.

      TS Sơn khuyến cáo, cũng giống như các bệnh nội khoa khác, khi phát hiện những bất thường như nhức mắt, đau mắt, ra gỉ mắt, nhìn thấy hiện tượng vẩn đục cần đi khám ngay. Có nhiều bệnh lý về mắt nếu điều trị sớm sẽ đem lại hiệu quả cao, tuy nhiên nếu phát hiện muộn có thể mất thị lực. Như bệnh lý bong võng mạc chẳng hạn, bệnh nhân thỉnh thoảng hoa mắt như có đom đóm bay qua, đó là hiện tượng chớp sáng, kích thích dịch kính ở trên vùng võng mạc. Đây là những dấu hiệu sớm dễ bị bỏ qua trong bệnh lý bong võng mạc, bệnh lý nặng nhất trong nhãn khoa.

      Chuyên mục
      Tin Tức Y Dược

      Bệnh Tim Bẩm Sinh Và Những Điều Cần Biết

      Theo thống kê của các tài liệu bệnh học thì ngày nay tỉ lệ mắc bệnh tim bẩm sinh đang ngày càng gia tăng vì sự thiếu hiểu biết cũng như các thói quen xấu ở những phụ nữ sinh con.

        Với công nghệ tiên tiến hiện nay, người ta có thể chẩn đoán để phát hiện bệnh tim sớm khi thai nhi mới 22 tuần tuổi. Bệnh tim có thể được chia thành hai nhóm: nhóm bệnh tim bẩm sinh đơn thuần và nhóm bệnh tim bẩm sinh phức tạp.

        Nguyên nhân gây ra tim bẩm sinh

        • Béo phì, bệnh tiểu đường.
        • Sốt vi-rút, đặc biệt là hội chứng Rubella (sởi Đức)
        • Dùng các thuốc ngủ, điều trị lo lâu, hen phế quản, co giật, trầm cảm, các loại ma túy như cocain và heroin, thuốc nhuộm tóc, thuốc trừ sâu trong thực phẩm.
        • Tiếp xúc với tia Xquang trong 3 tháng đầu thai kỳ.
        • Sử dụng rượu và thuốc lá dưới bất cứ hình thức nào.
        • Gien di truyền.
        • Các thuốc địa phương được sử dụng để phá thai, nếu bào thai không bỏ được thì khi sinh ra dễ bị tim bẩm sinh phức tạp.
        • Nếu mẹ bị bệnh tim hoặc con trước bị bệnh tim.
        • Ngoài ra, mang thai muộn có thể gây ra tỷ lệ mắc hội chứng Down cao hơn, trong đó ngoài việc chậm phát triển tinh thần và các bất thường thể chất, 50% số chúng có thể có khiếm khuyết vách nhĩ thất phức tạp trong tim.

        Nghiên cứu của Baltimore chỉ ra rằng hút thuốc và uống rượu có thể làm tăng tỷ lệ tắc nghẽn ở bên phải của tim và có lỗ trong tim. Ngày nay, xuất hiện nguy cơ bị hội chứng rượu bào thai, trong đó ngoài bệnh tim, sự phát triển não bị ức chế và trẻ được sinh ra có đầu nhỏ.

        Dấu hiệu nhận biết trẻ sơ sinh bị tim bẩm sinh

        Nếu trẻ không khóc ngay sau khi sinh ra, da tím tái, khó thở, co rút lồng ngực, bị viêm phổi hoặc nhiễm trùng hô hấp lặp đi lặp lại, đây là những dấu hiệu trẻ có thể bị tim bẩm sinh.

        Bú sữa mẹ là một bài tập và nếu trẻ không thể bú sữa mẹ trong 10 phút và nghỉ giữa chừng, trẻ cảm thấy khó thở khi bú, đó là dấu hiệu tim yếu. Nếu phát hiện thấy trẻ có âm thanh rít ở tim, cũng cần đưa trẻ đi khám bác sĩ tim mạch.

        Cách phòng ngừa bệnh tim bẩm sinh cho trẻ như thế nào?

        Bạn cần ghi nhớ tất cả những điều nên tránh khi mang thai. Không uống rượu, hút thuốc và dùng bất cứ loại thuốc nào mà không có chỉ định của bác sĩ, đặc biệt trong 3 tháng đầu thai kỳ. Bắt đầu dùng axit folic thậm chí trước khi mang thai và liên tục để phòng ngừa tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh.

        Chuyên mục
        Tin Tức Y Dược

        Cảnh Báo Khi Sử Dụng Thuốc Giảm Đau

        Việc sử dụng thuốc giảm đau tùy tiện, đặc biệt là paracetamol sẽ gây nguy hại đến sức khỏe người dùng. Chuyên gia bệnh học khuyến cáo cẩn trọng khi dùng thuốc giảm đau?

          Bạn biết gì về thuốc giảm đau?

          Thuốc giảm đau chỉ là thuốc chữa triệu chứng, nhưng nó làm cho bệnh nhân cảm thấy dễ chịu nên thuốc giảm đau vẫn cần dùng. Tuy nhiên, thuốc có thể che lấp các dấu hiệu của bệnh trong khi bệnh vẫn tiến triển nên phải hết sức cân nhắc khi sử dụng. Hơn nữa, người sử dụng các chế phẩm thuốc giảm đau thường sử dụng sai phương pháp và không để ý đến tác dụng phụ của các loại thuốc này.

          Thuốc giảm đau paracetamol dùng quá liều có thể gây ngộ độc.

          Paracetamol là thuốc hạ sốt giảm đau và là một loại thuốc khá an toàn nhưng nếu sử dụng không đúng nó cũng gây ngộ độc, đặc biệt là ở gan và thận.

          Tổn thương ở gan: Những loại thuốc giảm đau chứa paracetamol có thể làm tổn thương gan một cách nghiêm trọng nếu dùng sai cách hoặc dùng quá liều, thậm chí có thể gây suy gan cấp và tử vong.

          Với liều điều trị, sau uống khoảng 1 giờ, thuốc được hấp thu hoàn toàn. Khi dùng quá liều, thuốc được hấp thu hết sau 4 giờ, ngoại trừ khi bệnh nhân uống đồng thời các thuốc làm chậm quá trình rỗng dạ dày và khi thuốc ở dạng giải phóng chậm thì thời gian hấp thu lâu hơn. Paracetamol được chuyển hóa ở gan với một tốc độ đều đặn. Quá trình chuyển hóa thuốc là căn nguyên dẫn đến ngộ độc. Khi qua gan có khoảng 4% lượng paracetamol chuyển thành N-acetylbenzoquinonimin là chất độc gây hoại tử gan không hồi phục. Nhờ có glutathion của gan, N-acetylbenzoquinonimin được chuyển hóa thành chất không độc đào thải ra ngoài.

          Do đó, mỗi lần dùng paracetamol (dù ở liều thông thường) cơ thể sẽ mất một lượng glutathion. Khi dùng quá liều paracetamol (người lớn 6 – 10g/ngày) gan không đủ lượng glutathion để giải độc, N-acetylbenzoquinonimin tích lại sẽ phân hủy tế bào gan, dẫn đến hoại tử không hồi phục, nhiễm toan chuyển hóa, hôn mê dẫn đến tử vong.

          Tổn thương thận: Paracetamol có thể gây tổn thương thận nếu sử dụng trong thời gian dài hoặc được sử dụng bởi những người đã có tiền sử về bệnh thận.

          Do đó, dù paracetamol là một thuốc khá an toàn, thì lời khuyên được đưa ra là không nên tự ý dùng thuốc, nhất là phụ nữ có thai hay người nghiện rượu. Trước khi sử dụng dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng nên tham khảo ý kiến của bác sĩ hoặc nhân viên y tế.

          Chuyên mục
          Tin Tức Y Dược

          Cảnh Báo Những Loại Thuốc Khiến Bạn Gặp Ác Mộng

          Loại thuốc dễ khiến bạn gặp ác mộng? Các chuyên gia bệnh học cảnh báo một số loại thuốc trị bệnh gây tác dụng phụ, làm nhiễu loạn giấc ngủ, dễ khiến bạn gặp ác mộng

             

            Chuyên gia bệnh học bật mí những loại thuốc dễ khiến bạn gặp ác mộng

            Corticosteroids: Corticosteroids là thuốc chữa bệnh viêm khớp dạng thấp, lupus, hội chứng Sjogren, phản ứng dị ứng và bệnh gút. Tuy nhiên, loại thuốc này gây kích thích cơ thể tiết hormone adrenaline quá mức, khiến bạn thường xuyên mất ngủ vì gặp ác mộng. Các loại thuốc corticosteroids bao gồm cortisone, methylprednisolone, prednisone (Deltasone, Sterapred), triamcinolone…

            Nhóm thuốc Alpha-blocker: Loại thuốc này được dùng để điều trị cao huyết áp, u xơ tiền liệt tuyến và bệnh về mạch máu. Chúng giúp thư giãn cơ bắp và cải thiện máu cũng như lượng nước tiểu. Tuy nhiên, tác dụng phụ của Alpha-blocker là cản trở giấc ngủ REM, khiến bạn ngủ chập chờn, dễ gặp ác mộng. Các loại thuốc thuộc nhóm Alpha-blocker bao gồm alfuzosin, doxazosin, prazosin, silodosin…

            Các thuốc ức chế men Cholinesterase: Những người mắc bệnh Alzheimer thường sử dụng các loại thuốc ức chế men Cholinesterase để điều trị những biến động về tinh thần và suy giảm trí nhớ. Bằng cách điều chỉnh các enzyme phân bố chất truyền dẫn thần kinh acetylcholine, các loại thuốc này giúp cải thiện chức năng bộ nhớ, sự tập trung và khả năng phán xét. Tuy nhiên, điều này có thể hạn chế cơ thể tạo ra các chức năng thông thường của giấc ngủ, gây mất ngủ hoặc những giấc mơ bất thường. Các thuốc ức chế men Cholinesterase như donepezil, galantamine, rivastigmine.

            Thuốc ức chế men Cholinesterase

            Statins: Nhiều người thường sử dụng statins để chống cholosterol cao. Tuy nhiên, loại thuốc này khiến bạn bị bồn chồn do các cơ đau nhức, cơ thể không được nghỉ ngơi đầy đủ, gây ác mộng và mất ngủ. Các loại thuốc statins như atorvastatin, lovastatin, rosuvastatin, simvastatin.

            Glucosamine hoặc Chondroitin: Đây là các thực phẩm bổ sung được sử dụng để cải thiện chức năng của xương khớp bằng cách điều trị đau và viêm khớp. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra lạm dụng glucosamine hoặc chondroitin quá nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng tới đường tiêu hóa và chứng mất ngủ.

            Chuyên mục
            Tin Tức Y Dược

            Bà Bầu Dùng Paracetamol Tăng Nguy Cơ Trẻ Mắc Bệnh Hen

            Theo các nghiên cứu mới, các chuyên gia bệnh học cảnh báo thai phụ dùng paracetamol làm tăng nguy cơ trẻ mắc bệnh hen? 

              Mối liên quan giữa bà bầu khi tiếp xúc Parecetamol như nào?

              Theo nghiên cứu mới đây chỉ ra mối liên quan giữa bệnh hen với phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh tiếp xúc sớm với paracetamol. Các nhà nghiên cứu tại Na-uy và Anh cho biết những phát hiện này có thể có tác động quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng vì paracetamol hiện đang được khuyến nghị là thuốc giảm đau cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh.

              Các nhà nghiên cứu từ Viện Y tế công cộng Na-uy, Đại học Na-uy và Đại học Bristol đã kiểm tra bệnh án của 95.200 bà mẹ và 114.500 trẻ em. Họ kiểm tra để xem có mối liên quan giữa một số bệnh trong thời kỳ mang thai (trong đó có bệnh hen) và việc các thai phụ dùng paracetamol hay không.

              Sức khỏe của trẻ đã được kiểm tra khi chúng được 3 tuổi và 7 tuổi. Kết quả cho thấy 5,7% trẻ có bệnh hen khi lên 3 tuổi, và 5,1% trẻ bị bệnh hen khi được 7 tuổi. Họ thấy nguy cơ bị bệnh hen cao hơn 13% khi trẻ lên 3 tuổi nếu tiếp xúc với paracetamol từ trong bụng mẹ. Mối liên quan này là mạnh nhất khi người mẹ đã sử dụng paracetamol trên 1 lần để điều trị những triệu chứng thường gặp nhất trong thời kỳ mang thai: đau, sốt và cúm. Trẻ sơ sinh dùng paracetamol có nguy cơ phát triển bệnh hen khi 7 tuổi cao hơn 29%.

              Mặc dù trước đó có nhiều nghiên cứu về paracetamol và bệnh hen, nghiên cứu này đã không tính đến các chứng bệnh phổ biến khác trong thai kỳ có thể dẫn đến phát triển bệnh hen. Tuy nhiên, phát hiện này không đưa ra bất cứ thay đổi nào trong các khuyến cáo hiện nay về việc sử dụng paracetamol ở phụ nữ mang thai.

              Các kết quả nghiên cứu cho thấy các thai phụ dùng paracetamol và trẻ dùng paracetamol trong 6 tháng đầu đời làm tăng nguy cơ phát triển bệnh hen, nhưng vẫn cần nghiên cứu thêm để hiểu rõ hơn về mối liên quan này.

              Chuyên mục
              Tin Tức Y Dược

              Cảnh Báo Nguy Cơ Ngộ Độc Khi Dùng Thuốc Bổ

              Hiện nay, rất nhiều người sử dụng thuốc bổ sung hàng ngày nhưng lại không chú ý đến những phản ứng có hại của thuốc. Chuyên gia bệnh học cảnh báo nguy cơ ngộ độc khi dùng thuốc bổ thông thường.

                Chuyên gia bệnh học nói về những loại thuốc bổ thông dụng

                Vitamin A

                Vitamin A là dạng vitamin tan trong dầu, có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể giúp tế bào thực hiện hoạt động sao chép bình thường, cần thiết cho sức khỏe thị giác, giúp các tế bào trong một loạt cấu trúc của mắt luôn khỏe mạnh. Ngoài ra, nó còn rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển bình thường của phôi thai và thai nhi, cần thiết cho chức năng sinh sản.

                Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nếu như sử dụng không đúng cách, chúng ta sẽ gặp phải những tác dụng bất lợi của vitamin A mà điển hình là tình trạng viêm gan cấp hoặc mạn do dùng liều cao kéo dài, đặc biệt với trẻ em.

                Cần lưu ý một số tương tác thuốc có thể xảy ra như dùng vitamin A với các thuốc hạ huyết áp có thể làm tăng tác dụng của các thuốc này và dẫn tới hạ huyết áp quá mức; dùng vitamin A cùng thuốc tránh thai sẽ làm giảm tác dụng của thuốc tránh thai; dùng vitamin A với thuốc chống đông sẽ làm tăng nguy cơ chảy máu.

                Vitamin D

                Vitamin D là một vitamin có vai trò hết sức quan trọng đối với cơ thể người. Tuy vậy, uống nhiều vitamin D quá không tốt cho cơ thể, thậm chí là gây nguy hại. Dùng vitamin D liều cao dài ngày gây tích lũy thuốc, làm tăng calci trong máu, gây mệt mỏi, chán ăn, nôn, tiêu chảy, đau nhức xương khớp. Ngoài ra còn có thể gây tổn thương thận, tăng huyết áp.

                Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ rất nhạy cảm với sự thừa vitamin D. Trẻ em dưới 1 tuổi cho ăn các hỗn hợp thay thế sữa mẹ có bổ sung vitamin D ở liều không thích hợp với lứa tuổi có thể bị thừa vitamin này. Việc bổ sung thường xuyên vitamin D với liều > 400 IU/ngày cho trẻ dưới 1 tuổi khỏe mạnh làm tăng canxi trong máu, thậm chí còn có thể gây suy thận và tử vong.

                Trẻ nhỏ bị ngộ độc vitamin D sẽ biếng ăn, buồn nôn và ói mửa. Trẻ luôn khát nước và tiểu nhiều.

                Ngoài ra cần lưu ý, vitamin D có thể làm giảm hiệu quả của thuốc làm hạ cholesterol khi cùng sử dụng. Dùng vitamin D liều cao cùng với một loại thuốc lợi tiểu có thể dẫn đến tăng đào thải calci qua nước tiểu dẫn tới sỏi thận.

                Calci

                Calci là chất cần thiết cho sự phát triển của bộ xương. Tuy nhiên, khi bổ sung calci cần lưu ý: để calci hấp thụ tốt cần phải có vitamin D, vitamin D có nhiều trong bơ, sữa, trứng, gan… tắm nắng là nguồn cung cấp vitamin D quan trọng cho cơ thể.

                Bên cạnh các ưu điểm, khi bổ sung calci cần hết sức lưu ý, chia nhỏ liều và uống với nhiều nước; nếu sử dụng cùng các thực phẩm bổ sung khác cũng có calci sẽ dễ dẫn tới nguy cơ gây táo bón hoặc dễ kết tủa gây sỏi thận. Đặc biệt với những người đang bổ sung calci mà có chế độ ăn nhiều đạm sẽ làm gia tăng lượng bài tiết calci qua nước tiểu và do đó dẫn tới sỏi thận. Ngoài ra, nếu uống calci mà có sử dụng cafein và nicotin cũng là một tác nhân làm tăng lượng thải calci qua đường nước tiểu.

                Lưu ý: Calci có thể làm giảm sự hấp thu của cơ thể đối với nhiều loại thuốc, bao gồm cả thuốc theo toa loãng xương được gọi là bisphosphonates, thuốc kháng sinh tetracycline fluoroquinolone và levothyroxine.

                Nếu không cẩn thận khi dùng calci chung với các loại thuốc khác, bạn có thể bị sỏi do các thuốc tác dụng với nhau gây kết tủa.

                 

                 

                Chuyên mục
                Tin Tức Y Dược

                Thuốc Trầm Cảm – Những Điều Chưa Biết

                Hiện nay, học sinh, sinh viên không ít bị rối loạn trầm cảmdo áp lực của cuộc sống hiện đại, áp lực học tập quá lớn. Các chuyên gia bệnh học sẽ nói về thuốc chống trầm cảm cho học sinh, sinh viên.

                  Bệnh trầm cảm ở học sinh, sinh viên

                  Trầm cảm ở học sinh, sinh viên cũng có đủ các triệu chứng như trầm cảm ở các lứa tuổi khác. Bình thường, bệnh nhân trầm cảm có nét mặt buồn bã, nếp nhăn mất hoặc mờ đi, không biểu hiện cảm xúc. Người xung quanh nhìn vào dễ nhận thấy đó là vẻ mặt “ngây ngô”, ít thay đổi. Tuy nhiên, ở người vị thành niên thì triệu chứng này ít gặp. Thay vào đó là tình trạng dễ nổi cáu, hung hăng, thái độ bất cần, cục cằn, thô lỗ… diễn ra trong vài phút (khoảng 10 phút), đặc biệt khi có điều gì trái ý bệnh nhân. Ngoài ra, các em còn có trí nhớ rất kém, thường bị mất ngủ, ăn kém, có ý định và hành vi tự sát…

                  Khi bị các rối loạn này, các em cần được điều trị kịp thời và dứt điểm để bệnh không bị nặng lên và tránh tái phát.

                  Thuốc điều trị trầm cảm ở học sinh, sinh viên

                  Các em cần được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm sớm để nhanh chóng khắc phục triệu chứng trầm cảm, sớm hồi phục và học tập trở lại. Nên dùng thuốc chống trầm cảm SSRI kết hợp với thuốc an thần mới để rút ngắn thời gian điều trị tấn công. Có thể dùng sertraline và olanzapin, uống vào buổi tối.

                  Serotonin có vai trò quan trọng trong bệnh trầm cảm.

                  Thời gian điều trị cần duy trì đến khi kết thúc việc học tập nhưng tối thiểu là 1 năm. Điều này có ý nghĩa nhân văn rất lớn. Lý do đơn giản là bệnh trầm cảm hay tái phát. Nếu điều trị củng cố 1 năm rồi ngừng thuốc thì tỷ lệ tái phát vẫn là 30%, nghĩa là cứ khoảng 3 cháu sẽ có 1 cháu tái phát. Bệnh trầm cảm khi tái phát sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến quá trình học tập của các cháu (bỏ học, nghỉ học, bị đuổi học) gây tốn kém về thời gian và tiền bạc của bệnh nhân và gia đình (do quá trình học tập bị kéo dài hoặc dang dở).

                  Chúng ta rất khó tiên liệu trước là bệnh nhân nào không tái phát, bệnh nhân nào sẽ tái phát khi ngừng thuốc. Vì thế, tốt nhất là cho bệnh nhân điều trị củng cố tiếp tục trong suốt thời gian học tập.

                  Sertralin (zoloft, zosert, serenata, utralen) là thuốc chống trầm cảm nhóm SSRI. Đây là thuốc chống trầm cảm có hiệu quả cao, ít tác dụng phụ, không độc với tim, gan, thận, hệ tạo máu… nên dễ sử dụng. Tác dụng phụ chủ yếu là đầy bụng, mệt mỏi trong 1 tuần đầu dùng thuốc. Có thể khắc phục tác dụng phụ một cách đơn giản bằng cách khởi đầu liều thấp, uống thuốc sau bữa ăn, uống sữa tươi.

                  Olanzapin (ziprexa, oleanzrapitab, zapnex, ozip, fonzepin) là thuốc an thần mới nhưng có tác dụng chống trầm cảm nhẹ, gây ngủ và kích thích ăn ngon miệng. Thuốc không độc với gan, thận, cơ quan tạo máu… và rất ít tác dụng phụ. Dùng thuốc này là để cắt đứt ý định và hành vi tự sát (nếu có), giúp bệnh nhân dễ ngủ hơn, ăn ngon hơn, chóng hồi phục hơn. Tuy nhiên, nếu điều trị lâu dài có thể gây béo phì cho bệnh nhân. Vì thế, khi bệnh trầm cảm đã ổn định có thể ngừng thuốc này.

                   

                  Chuyên mục
                  Tin Tức Y Dược

                  7 Xét Nghiệm Y Học Quan Trọng Đối Với Phụ Nữ

                  Các chuyên gia bệnh học cho biết để kiểm tra sức khỏe toàn diện nhất mọi người cần làm các xét nghiệm Y khoa. Đặc biệt phụ nữ cần làm 7 Xét nghiệm Y tế sau để ngăn ngừa các bệnh nguy hiểm.

                  Phụ nữ cần làm 7 xét nghiệm sau để đảm bảo sức khỏe.

                  Phụ nữ cần làm 7 Xét nghiệm Y học sau:

                  Kiểm tra ung thư cổ tử cung: Theo Boldsky, phụ nữ trong độ tuổi từ 21 và 65 cần được kiểm tra ung thư cổ tử cung đầy đủ, ít nhất 3-5 năm một lần, vì ung thư cổ tử cung là một trong những loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ.

                  Kiểm tra ung thư vú: là một xét nghiệm y tế mà bất cứ chị em nào cũng không nên bỏ qua. Phát hiện ung thư vú sớm khả năng điều trị khỏi càng cao.

                  Đề phòng bệnh ung thư vú là điều cần thiết với mỗi phụ nữ.

                  Kiểm tra mật độ xương: Xét nghiệm này thường được thực hiện đối với phụ nữ trên tuổi 40 để kiểm tra xem họ có nguy cơ loãng xương hay không.

                  Nội soi đại tràng: Thử nghiệm này được thực hiện để kiểm tra nguy cơ ung thư ruột kết và phát hiện ung thư sớm. Xét nghiệm này thường được thực hiện ở phụ nữ trong độ tuổi từ 40 đến 50.

                  Buồng trứng đa nang: Mọi phụ nữ ở mọi lứa tuổi nên tham gia xét nghiệm y tế này. Bởi căn bệnh này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của chị em.

                  Khả năng sinh sản: Trước khi lập gia đình, bạn nên đi làm xét nghiệm này. Việc này có thể giúp bạn biết được tử cung và buồng trứng của mình có vấn đề gì không để sớm có phương thức điều trị.

                  Kiểm tra khả năng sinh sản là việc cần thiết với mỗi phụ nữ.

                  Kiểm tra tiểu đường: Xét nghiệm này nên được thực hiện ở phụ nữ trên tuổi 45. Việc kiểm tra lượng đường trong máu sẽ xác định được nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường.

                  Chuyên mục
                  Tin Tức Y Dược

                  Ngăn Ngừa Bệnh Dại Khi Bị Chó Mèo Cắn

                  Ở Việt Nam việc nuôi chó mèo là điều thường thấy ở mỗi gia đình. Vì vậy các chuyên gia bệnh học sẽ hướng dẫn cách sơ cứu khi bị chó mèo cắn để ngăn ngừa bệnh dại.

                   

                  Các biện pháp cần thiêt khi bị chó mèo cắn.

                  Các biện pháp sơ cứu cần thiết khi bị chó mèo cắn.

                  Việc đầu tiên cần rửa ngay thật kỹ vết thương bằng xà phòng dưới vòi nước mạnh ít nhất là 5 phút rồi tiến hành sát trùng vết thương bằng dung dịch cồn 70% hoặc dung dịch iode, nhằm làm giảm tối thiểu lượng virut xâm nhập nơi vết cắn.

                  Sau đó dùng miếng vải sạch phủ lên vết thương, băng hờ lại và đưa người bị chó (mèo) cắn đến cơ sở y tế để các bác sĩ khám và có chỉ định điều trị.

                  Nếu vết cắn nhẹ, xa thần kinh trung ương thì có thể tiêm phòng uốn ván và theo dõi con vật đã cắn. Nếu sau 10 ngày mà chúng vẫn bình thường thì có nghĩa là khi cắn người nó chưa bị dại, không thể lây bệnh sang người.

                  Xem thêm:

                    Tuy nhiên, nếu con vật phát bệnh, bị ốm hoặc bị chết (với bất cứ nguyên nhân nào) hoặc bỏ đi… thì cần phải tiêm phòng vắc-xin dại ngay.

                    Chó bị bệnh dại có 2 thể lâm sàng là thể điên cuồng và thể liệt. Sau thời gian ủ bệnh từ 3-5 ngày, chó dại thường bỏ ăn, những thói quen hàng ngày của nó bị thay đổi; nhiều khi thể hiện sự vui mừng hay hung dữ quá độ trong vòng vài giờ đến vài ngày.

                    Sau đó là giai đoạn lên cơn, con vật luôn vận động, tiếng kêu khàn giọng, sủa kéo dài rồi rướn cao lên thành tiếng rú ghê rợn. Sau vài ngày, nó phờ phạc, gầy mòn, kêu thất thanh rồi bị liệt và chết trong vòng 7 ngày.

                    Trái lại, có loại chó dại lên cơn nhưng không hung dữ, chỉ nằm im một chỗ, nước bọt chảy nhiều, chó không sủa, không cắn và chết trong vòng từ 3-5 ngày.

                    Nếu bị cắn nhiều chỗ hoặc bị cắn ở những vùng gần thần kinh trung ương như đầu, mặt, cổ, vai; vùng gần tủy sống như hậu môn, cơ quan sinh dục… phải tiêm vắc-xin phòng dại và huyết thanh kháng dại ngay, bất kể con vật cắn có bị dại hay không. Nếu đến tiêm muộn, hiệu quả phòng bệnh sẽ giảm hoặc không còn tác dụng.

                    Exit mobile version