Danh mục: Tin Tức Y Dược
Tin Tức Y Dược
Bộ Y tế đang dự thảo Thông tư quy định việc thực hiện giám định ngoài tố tụng của tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc ngành y tế.
Người thực hiện giám định pháp y, pháp y tâm thần ngoài tố tụng bao gồm: Giám định viên pháp y, giám định viên pháp y tâm thần và người giúp việc cho giám định viên
Theo dự thảo, giám định ngoài tố tụng của tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc ngành y tế là hoạt động giám định pháp y hoặc giám định pháp y tâm thần do đơn vị thực hiện giám định pháp ý hoặc tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần thực hiện.
Giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần ngoài tố tụng là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức mà không nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; kết quả giám định không làm căn cứ giải quyết vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính.
Giám định pháp y, pháp y tâm thần ngoài tố tụng
Dự thảo nêu rõ quy trình, hồ sơ, biểu mẫu thực hiện giám định pháp y ngoài tố tụng quy định tại Phụ lục I, II ban hành kèm theo Thông tư này.
Quy trình, hồ sơ, biểu mẫu thực hiện giám định pháp y tâm thần ngoài tố tụng quy định tại Phụ lục III, IV ban hành kèm theo Thông tư này.
Người thực hiện giám định pháp y, pháp y tâm thần ngoài tố tụng
Người thực hiện giám định ngoài tố tụng bao gồm: Giám định viên pháp y, giám định viên pháp y tâm thần và người giúp việc cho giám định viên.
Thủ trưởng các tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y hoặc đơn vị thực hiện giám định pháp y hoặc tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần có trách nhiệm căn cứ nhân lực của đơn vị, văn bằng chuyên môn, chứng chỉ, chứng nhận đào tạo, kinh nghiệm, nghiệp vụ của giám định viên và người giúp việc để thực hiện việc phân công giám định viên và người giúp việc phù hợp với từng loại hình giám định.
Trình tự thực hiện
Tổ chức, cá nhân đề nghị có giấy đề nghị giám định hoặc hợp đồng giám định và hồ sơ giám định gửi tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y hoặc đơn vị thực hiện giám định pháp y hoặc tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần.
Tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y hoặc đơn vị thực hiện giám định pháp y hoặc tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần có trách nhiệm trả cho người đề nghị giấy hẹn trả kết quả, trong đó phải nêu rõ thời gian bàn giao kết quả giám định theo đúng thời gian trong giấy hẹn. Thẩm quyền thực hiện: tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y hoặc đơn vị thực hiện giám định pháp y hoặc tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần.
Chi phí giám định ngoài tố tụng
Theo dự thảo, chi phí giám định pháp y, pháp y tâm thần ngoài tố tụng thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 và Điều 6 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập và quy định tại khoản 4, Điều 1, Nghị định 111/2025/NĐ-CP ngày 22/5/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
Tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y hoặc đơn vị thực hiện giám định pháp y hoặc tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần xây dựng định mức chi phí đối với giám định pháp y, pháp y tâm thần ngoài tố tụng trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trên cơ sở quy trình giám định do Bộ Y tế ban hành đảm bảo tính đúng, tính đủ và có lãi để phát triển dịch vụ và chi khác theo quy định của pháp luật. Thủ trưởng tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y hoặc đơn vị thực hiện giám định pháp y hoặc tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần có trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí giám định ngoài tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Bộ Y tế đang lấy ý kiến đối với dự thảo này trên Cổng TTĐT của Bộ.
(Nguồn: baochinhphu.vn)
Các bệnh không lây nhiễm, đặc biệt là các bệnh lý về phổi như bệnh COPD, hen phế quản và ung thư phổi, đã và đang trở thành nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật tại Việt Nam.
Tỷ lệ phát hiện sớm COPD, hen và ung thư phổi còn hạn chế
Theo thống kê cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) ở người trên 40 tuổi tại nước ta lên đến 4,2%, thuộc nhóm cao nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Tỷ lệ hen phế quản là 4,1%, nhưng chỉ khoảng 29% người bệnh được điều trị dự phòng và chưa đến 40% được kiểm soát tốt;
Làm rõ thêm thông tin, đại diện Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) cho hay, bệnh COPD chiếm tỷ lệ 45% trong số các bệnh không lây nhiễm. Tỷ lệ người đã từng được chẩn đoán mắc COPD hiện đang sử dụng thuốc điều trị chỉ đạt 25,6%, là tỷ lệ tương đối thấp.
Một thống kê về bệnh ung thư phổi cho thấy, bệnh này đứng thứ 3 trong các loại ung thư về số ca mắc mới với ước tính 24.426 ca hàng năm, nhưng đứng thứ 2 về số lượng ca tử vong ở Việt Nam.
Khoảng 75% người bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn, khiến tỷ lệ sống sau 5 năm chỉ đạt khoảng 14,8%. Ung thư phổi được chia thành hai loại chính là ung thư phổi tế bào nhỏ (chiếm khoảng 10-15%) và ung thư phổi không tế bào nhỏ (chiếm khoảng 85%).
Các bệnh không lây nhiễm, đặc biệt là các bệnh lý về phổi như bệnh COPD, hen phế quản và ung thư phổi, đã và đang trở thành nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật tại Việt Nam.
PGS.TS Đỗ Hùng Kiên, Phó Giám đốc Bệnh viện K cho hay, mỗi năm tại Bệnh viện K lượt người bệnh khám liên quan bệnh lý u phổi là 12.000 lượt/năm; điều trị khoảng 3.200 bệnh nhân/năm.
Điều đáng lo ngại, trong những năm gần đây tỷ lệ mắc và tử vong các bệnh lý về phổi, trong đó có ung thư phổi tại Việt Nam đang gia tăng, qua đó cho thấy các bệnh về phổi vẫn là gánh nặng trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam.
Theo các chuyên gia y tế, ngoài yếu tố di truyền, những nguyên nhân chính gây ra bệnh phổi bao gồm hút thuốc lá, ô nhiễm không khí, tác động của bụi mịn và các chất độc hại trong môi trường sống, đặc biệt tại các thành phố lớn, và khu công nghiệp ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, lối sống, chế độ dinh dưỡng, tập luyện không phù hợp, sự thiếu hụt kiến thức về bệnh lý cũng góp phần làm tăng tỷ lệ mắc bệnh các bệnh về phổi của người dân.
Cần tăng cường sàng lọc chẩn đoán ở giai đoạn sớm bệnh phổi
Từ thực tiễn, PGS.TS Đỗ Hùng Kiên cho hay, tại Việt Nam, việc triển khai sàng lọc ung thư phổi hiện có nhiều khó khăn do thiếu trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, chuyên môn; nhận thức của người dân và nhân viên y tế còn có phần chưa đầy đủ; bảo hiểm y tế chưa chi trả cho các phương pháp sàng lọc. Về thuốc điều trị, một số thuốc không sẵn có tại cơ sở y tế nên khó điều trị cá thể hóa.
Theo PGS.TS Đỗ Hùng Kiên, ở giai đoạn sớm, ung thư phổi không có triệu chứng hoặc nhầm lẫn với các triệu chứng bệnh lý hô hấp khác, dễ bỏ sót. Khi có các triệu chứng chứng hô hấp, u xâm lấn thành ngực, hội chứng chứng chèn ép, triệu chứng di căn… thì bệnh nhân đã ở giai đoạn muộn.
“Với hơn 70% bệnh nhân đến ở giai đoạn muộn, tỷ lệ sống sau 5 năm rất thấp. Chúng ta cần phải tăng cường sàng lọc chẩn đoán ở giai đoạn sớm của bệnh. Việt Nam hiện chưa có quy trình chuẩn trong sàng lọc ung thư phổi sử dụng chụp CT liều thấp trên nhóm người nguy cơ cao tại cộng đồng. Do đó, chúng ta cần có chương trình quốc gia về tầm soát ung thư phổi”- PGS.TS Đỗ Hùng Kiên nói.
Thời gian qua tại Bệnh viện K cũng ghi nhận nhiều trường hợp người trẻ tuổi mắc ung thư phổi. Vì vậy, khi có các dấu hiệu như ho kéo dài, đau tức ngực, khàn giọng kéo dài, thở khò khè, khó thở, cân nặng giảm bất thường,… cần đến cơ sở y tế để được thăm khám, đặc biệt là những người có nguy cơ như hút thuốc lá, có người thân mắc bệnh…
Trước thực trạng đáng lo ngại về bệnh không lây nhiễm nói chung, trong đó có bệnh về phổi, ngành y tế đã chủ động xây dựng và triển khai nhiều giải pháp trong khuôn khổ Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015–2025.
Các mục tiêu quan trọng như phát hiện sớm 50% số người mắc bệnh COPD, hen phế quản, điều trị hiệu quả tại các cơ sở y tế, kiểm soát tốt trên 20% số người bệnh và phát hiện sớm 40% số ca ung thư phổi đã được đề ra.
Khám sàng lọc bệnh phổi cho người dân.
Tuy nhiên, vẫn còn những khoảng trống đáng kể trong tầm soát, chẩn đoán sớm, điều trị, quản lý và đặc biệt là khả năng tiếp cận y tế chất lượng ngay từ tuyến cơ sở.
Trong khi các chuyên gia y tế nhấn mạnh, với bệnh phổi không lây nhiễm, trọng tâm là dự phòng, sàng lọc, phát hiện sớm và quản lý toàn diện.
Do đó, các hoạt động sàng lọc ở nhóm nguy cơ cao cần được đẩy mạnh, cùng với việc phát huy vai trò y tế cơ sở trong phòng ngừa và chăm sóc. Việc tích hợp các nội dung này vào Luật Phòng bệnh, kế hoạch hành động và chiến lược quốc gia sẽ tạo hành lang pháp lý, bảo đảm nguồn lực lâu dài, qua đó góp phần giảm gánh nặng bệnh tật và nâng cao chất lượng sống cho người dân.
Mới đây, lần đầu tiên trong lịch sử các Nghị quyết về sức khỏe thận và sức khỏe phổi và được thông qua tại một kỳ Đại hội đồng Y tế Thế giới (WHA).
Theo đó, tại Nghị quyết về “Thúc đẩy và ưu tiên cách tiếp cận tổng hợp đối với sức khỏe phổi”, WHO đưa ra một khung hành động toàn diện nhằm giảm tỷ lệ tử vong và gánh nặng bệnh tật từ ung thư phổi, COPD và hen.
Văn kiện kêu gọi các quốc gia áp dụng chiến lược phòng ngừa và quản lý bệnh phổi theo hướng tích hợp, kết hợp dự phòng ban đầu với chăm sóc toàn diện tại tuyến y tế cơ sở. Đồng thời, WHO nhấn mạnh việc cập nhật hướng dẫn chuyên môn về phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị hiệu quả và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong chăm sóc sức khỏe phổi.
(Nguồn: suckhoedoisong.vn)
Cùng với đẩy mạnh đầu tư trang thiết bị hiện đại, đào tạo chuyên sâu, thời gian qua, Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Khánh Hòa đã tiếp nhận và làm chủ nhiều kỹ thuật tiên tiến từ tuyến trên, đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại nhi. Thành công trên không chỉ mở ra cơ hội sống cho nhiều bệnh nhi mắc các bệnh lý bẩm sinh, mà còn đánh dấu bước phát triển của ngành y tế tỉnh nhà.
Nâng cao năng lực điều trị
Sau 1 ngày chào đời (10-10-2025) tại BVĐK Khánh Hòa, con chị Võ Thị Kiều M. (xã Suối Hiệp) được phát hiện bị teo thực quản bẩm sinh, không thể bú, kèm suy hô hấp nặng. Các bác sĩ của bệnh viện nhanh chóng hội chẩn và xác định cần phẫu thuật sớm mới cứu được bé. Tuy nhiên, do sức khỏe còn yếu, bệnh nhi được chuyển vào Phòng Hồi sức sơ sinh để thở máy và nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch, đồng thời được tầm soát toàn diện. Kết quả tầm soát cho thấy, trẻ bị teo thực quản bẩm sinh; đầu dưới thực quản thông vào khí quản nên gây viêm phổi nặng và suy tim nhẹ. Sau hai ngày điều trị tích cực, ê-kíp y, bác sĩ từ nhiều khoa khác nhau, dưới sự hỗ trợ của Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Xuân Nam – chuyên gia phẫu thuật nhi khoa (Hoa Kỳ), đã thực hiện thành công ca phẫu thuật cắt bỏ ống thông thực quản vào khí quản cho trẻ; đồng thời, nối 2 đầu thực quản tại phần teo lại với nhau. Được chăm sóc đặc biệt tại Phòng Hồi sức sơ sinh, sau mổ 3 ngày, bé hồi phục tốt, tự bú. “Khi sinh ra, cháu bú vào bao nhiêu đều trào hết ra ngoài. Khi biết cháu phải phẫu thuật mới được cứu sống, vợ chồng tôi rất sợ. Giờ đây, khi tự tay ẵm bồng cho con bú sau phẫu thuật, tôi rất hạnh phúc. Cảm ơn đội ngũ y, bác sĩ đã điều trị cho con tôi” – chị M. xúc động.
Ê-kíp y, bác sĩ phẫu thuật cứu sống trẻ 4 ngày tuổi bị teo thực quản dưới hướng dẫn của Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Xuân Nam
Cũng trong đợt chuyển giao từ Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Xuân Nam, ê-kíp bác sĩ của bệnh viện đã phẫu thuật nội soi cắt nang ống mật chủ thành công cho bé H.Q.N. (20 tháng tuổi, xã Cam Lâm). Đây là một dị tật bẩm sinh hiếm gặp với tỷ lệ mắc là 1/1.000 trẻ. Ở bệnh lý này, một phần hoặc toàn bộ đường mật của trẻ bị giãn nở bất thường, nếu không phẫu thuật sớm, có thể gây biến chứng nặng cho trẻ, như viêm tụy, nhiễm trùng đường mật, thậm chí dẫn tới ung thư nếu bệnh kéo dài. Chị Nguyễn Thị H. – mẹ bé N. cho biết: “Trước khi nhập viện, bé có biểu hiện vàng da, đau bụng, đi tiêu, đi tiểu đều màu vàng. Nhập viện, bé được chẩn đoán bị nang ống mật chủ bẩm sinh. Sau khi được tư vấn, tôi đồng ý phẫu thuật cho bé. Sau phẫu thuật, bé hồi phục nhanh, ăn uống và đi lại bình thường” – chị H. chia sẻ.
Bác sĩ Nguyễn Minh Đức – Khoa Ngoại Tổng quát, BVĐK Khánh Hòa – người tham gia 2 ca phẫu thuật trên cho biết: “Với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, mỗi ca phẫu thuật là cuộc đua với thời gian, đòi hỏi sự tập trung, kinh nghiệm và phối hợp tuyệt đối của cả ê-kíp. Ở trẻ sơ sinh, các tạng và mạch máu rất nhỏ nên quá trình mổ phải tỉ mỉ và chính xác để tránh gây tổn thương các cơ quan lân cận”.
Ngoài phẫu thuật teo thực quản, cắt nang ống mật chủ, thời gian qua, ê-kíp bác sĩ Khoa Ngoại Tổng quát, BVĐK Khánh Hòa còn thực hiện thành công nhiều ca phẫu thuật ngoại nhi phức tạp khác, như: Tạo hình hậu môn, cắt lách nội soi, hạ tinh hoàn ẩn, tạo hình niệu đạo, phình đại trạng bẩm sinh…
Đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật cao
Có được những kết quả trên là nhờ chiến lược hợp tác và đào tạo bài bản giữa BVĐK Khánh Hòa với các chuyên gia hàng đầu trong và ngoài nước; đặc biệt là với Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Xuân Nam – Trường Đại học Y khoa Keck School (Nam California, Hoa Kỳ), Trưởng khoa Phẫu thuật ít xâm lấn – Bệnh viện Nhi Los Angeles. Qua nhiều đợt hỗ trợ, hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật trực tiếp của ông, đội ngũ y, bác sĩ của bệnh viện đã thực hiện thành công nhiều ca phẫu thuật khó cho bệnh nhi mắc dị tật bẩm sinh phức tạp, mở ra cơ hội sống cho nhiều em nhỏ từng bị coi là “vô phương cứu chữa”.
Sức khỏe bé ổn định sau phẫu thuật.
Theo bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Thanh Tồn – Phó Giám đốc BVĐK Khánh Hòa, ngoại nhi là chuyên ngành khó, đòi hỏi kiến thức sâu và tay nghề vững. Thời gian qua, bên cạnh việc tiếp nhận các kỹ thuật từ tuyến trên, từ các chuyên gia trong và ngoài nước, bệnh viện còn nhận được sự quan tâm đặc biệt của UBND tỉnh, Sở Y tế trong việc đầu tư trang thiết bị y tế hiện đại, đưa bác sĩ đi đào tạo các chuyên khoa, trong đó có ngoại nhi. Trước đây, các ca bệnh phức tạp ở trẻ như: Teo thực quản, nang ống mật chủ, dị tật hậu môn… đều phải chuyển lên tuyến trên để điều trị, gây tốn kém cho gia đình, thì hiện nay, bệnh viện đã thực hiện được. Đặc biệt, tỷ lệ phẫu thuật nội soi cho bệnh nhi đạt 60 – 70%/số ca phẫu thuật; tỷ lệ chuyển tuyến trong 5 năm trở lại đây giảm hơn 50%. Bác sĩ Nguyễn Thanh Tồn khẳng định: “Trong định hướng phát triển, bệnh viện sẽ tiếp tục gửi bác sĩ đi đào tạo chuyên sâu tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, Nhi Đồng 2, Nhi Đồng TP. Hồ Chí Minh; đồng thời, tiếp tục mời các chuyên gia trong và ngoài nước đến đào tạo, chuyển giao kỹ thuật tại chỗ. Bệnh viện hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực thực hiện phẫu thuật nội soi cho trẻ sơ sinh vài ngày tuổi và giúp trẻ em ở tỉnh có thể tiếp cận với các dịch vụ hiện đại ngay tại địa phương. Điều này cũng nhằm góp phần tiến đến mục tiêu xây dựng BVĐK Khánh Hòa trở thành bệnh viện khu vực duyên hải Nam Trung Bộ”.
Với việc triển khai thành công những kỹ thuật khó trong chuyên ngành ngoại nhi, BVĐK Khánh Hòa không chỉ mang lại sự sống cho nhiều trẻ em mắc các bệnh lý bẩm sinh phức tạp, mà còn khẳng định năng lực y tế của địa phương ngày càng phát triển.
(Nguồn: baokhanhhoa.vn)
Chuyên mục
“Góc truyền thông” ở y tế cơ sở
Tại các trạm y tế ở các xã phía tây tỉnh, mô hình “Góc truyền thông” đã trở thành điểm hẹn quen thuộc của người dân mỗi khi đến khám, chữa bệnh. Từ đây, nhiều thông điệp về chăm sóc sức khỏe ban đầu được lan tỏa, góp phần giúp người dân nâng cao ý thức phòng bệnh, bảo vệ bản thân và gia đình.
Cùng với các hình thức tuyên truyền như truyền thông trực tiếp tại hộ gia đình, truyền thông nhóm, truyền thông lồng ghép, mô hình “Góc truyền thông” tại Trạm Y tế Đăk Ruồng (xã Kon Braih) đang phát huy hiệu quả, thu hút sự quan tâm, tìm hiểu của đông đảo người dân.
Phụ trách Trạm Y tế Đăk Ruồng Lê Thị Phượng cho biết, triển khai mô hình, trạm đã bố trí hai góc truyền thông để người dân dễ dàng tiếp cận. Góc thứ nhất được đặt tại phòng khám bệnh, trưng bày hình ảnh, khẩu hiệu và tờ rơi giới thiệu về các loại dịch bệnh, mức độ nguy hiểm cũng như các biện pháp phòng, chống hiệu quả.
Góc thứ hai đặt tại phòng truyền thông, được thiết kế như một không gian học tập và tư vấn sức khỏe cộng đồng. Tại đây có tủ tài liệu với nhiều ấn phẩm, sách báo, tranh lật.
Nội dung tuyên truyền tập trung vào các chủ đề như chăm sóc sức khỏe sinh sản, dinh dưỡng hợp lý, tiêm chủng mở rộng, phòng chống suy dinh dưỡng, bệnh không lây nhiễm và các kỹ năng sơ cứu cơ bản. Các tài liệu được sắp xếp khoa học theo từng chủ đề, giúp người dân dễ dàng tra cứu và áp dụng.
Người dân tìm hiểu thông tin ở góc truyền thông tại Trạm Y tế Đăk Ruồng.
Mỗi năm, Trạm Y tế Đăk Ruồng tiếp nhận khoảng 3.300 lượt bệnh nhân. Mỗi bệnh nhân đến khám không chỉ được chăm sóc sức khỏe mà còn được các y, bác sĩ phổ biến, cung cấp thông tin về các biện pháp phòng bệnh, dinh dưỡng hợp lý, lợi ích của bảo hiểm y tế, kế hoạch hóa gia đình…
Với chị Y Phiên, ở thôn 12, xã Kon Braih, mỗi lần đến trạm y tế không chỉ để khám bệnh mà còn là dịp để biết thêm kiến thức chăm sóc sức khỏe.
“Tôi thường tranh thủ đọc sách, xem tranh tuyên truyền trong lúc chờ khám. Nhờ đó, tôi biết cách chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình, nhất là phòng tránh các bệnh thường gặp ở phụ nữ và trẻ nhỏ”, chị Y Phiên nói.
Nhiều thông tin hữu ích được trưng bày tại góc truyền thông.
Để mô hình hoạt động hiệu quả, cán bộ trạm thường xuyên cập nhật nội dung tuyên truyền mới, sao chép đĩa DVD về các chuyên đề dân số, dịch bệnh để phục vụ người dân. Hiện trạm đã bổ sung nhiều tài liệu về tầm soát ung thư cổ tử cung, ung thư vú, tiền mãn kinh và các bệnh về mắt ở người cao tuổi.
Ngoài ra, trạm còn biên soạn bản tin ngắn về tình hình dịch bệnh tại địa phương, giúp người dân kịp thời nắm bắt và chủ động phòng ngừa.
Tại Trạm Y tế Tân Cảnh (xã Đăk Tô), mô hình “Góc truyền thông” được bố trí ngay tại phòng khám bệnh để người dân thuận tiện theo dõi và tìm hiểu thông tin.
Tại đây, trạm trang bị đầy đủ sách, báo, tờ rơi, áp phích, sách lật và nhiều tài liệu tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS, sốt xuất huyết, dân số – kế hoạch hóa gia đình, an toàn vệ sinh thực phẩm…
Khi có văn bản, hướng dẫn hay quy định mới, trạm đều tổng hợp, niêm yết kịp thời trên bảng tin để người dân dễ dàng tiếp cận.
Trực tiếp tư vấn cho người dân tại góc truyền thông.
Trung bình mỗi tháng, trạm tiếp nhận khoảng 450 lượt bệnh nhân. Mỗi bệnh nhân đến khám, các y, bác sĩ đều kết hợp tư vấn về chăm sóc sức khỏe, kế hoạch hóa gia đình, phòng chống bệnh truyền nhiễm, sàng lọc trước sinh, tiêm chủng mở rộng… giúp người dân nâng cao kiến thức và ý thức phòng bệnh.
Đối với ông Nguyễn Văn Đức ở thôn 4, xã Đăk Tô, “Góc truyền thông” tại trạm y tế xã đã trở thành điểm dừng chân quen thuộc mỗi khi ông đến khám bệnh.
“Tôi thấy góc truyền thông rất hữu ích. Ở đây có nhiều tranh ảnh, tờ rơi hướng dẫn cách phòng bệnh, ăn uống hợp vệ sinh, bảo vệ sức khỏe người cao tuổi… Từ những thông tin đó, tôi hiểu thêm nhiều điều tưởng chừng nhỏ mà trước đây ít ai để ý”, ông Đức chia sẻ.
Để “Góc truyền thông” hoạt động hiệu quả, Trạm Y tế Tân Cảnh chú trọng đổi mới hình thức trình bày và phương pháp truyền tải thông điệp. Các nội dung tuyên truyền được thiết kế đan xen giữa chữ viết và hình ảnh minh họa trực quan, giúp người dân dễ đọc, dễ hiểu và dễ ghi nhớ. Nhiều chủ đề được thể hiện bằng tranh lật, sơ đồ hoặc mô hình thực hành, tạo sự gần gũi, sinh động.
Bên cạnh đó, Trạm còn tận dụng vật liệu thân thiện với môi trường để trang trí bảng tin, kệ sách, tủ tài liệu, vừa tạo không gian hài hòa, gần gũi, vừa gắn với phong trào “Xây dựng trạm y tế xanh – sạch – đẹp”.
Nhờ vậy, “Góc truyền thông” trở thành điểm nhấn trực quan, thu hút người dân ghé xem, tìm hiểu mỗi khi đến khám, chữa bệnh.
Nội dung tuyên truyền được thiết kế đan xen chữ viết và hình ảnh minh họa trực quan.
Phụ trách Trạm Y tế Tân Cảnh Lê Thị Thanh cho biết, nhờ xây dựng hiệu quả mô hình “Góc truyền thông” mà người dân đã tiếp cận thông tin nhanh hơn, hiểu rõ hơn về các biện pháp phòng bệnh, tiêm chủng, chăm sóc sức khỏe.
“Nhận thức của người dân đã thay đổi rõ rệt. Họ chủ động hơn trong việc phòng bệnh, đi khám định kỳ và quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe của cả gia đình”, bà Thanh nói.
Ở các trạm y tế các xã phía tây tỉnh, mô hình “Góc truyền thông” được triển khai đồng loạt từ năm 2014. Mô hình đã trở thành kênh tuyên truyền, giáo dục sức khỏe gần gũi, thiết thực, giúp người dân dễ dàng tiếp cận thông tin y tế, nâng cao hiểu biết, thay đổi hành vi và hình thành thói quen trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình.
(Nguồn: baoquangngai.vn)
Vừa qua, tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM diễn ra Hội nghị Khoa học Thần kinh ANSCI 2025 với chủ đề ‘Các tiến bộ trong khoa học thần kinh và ứng dụng lâm sàng’.
Sự kiện thu hút sự tham dự của hàng trăm chuyên gia, bác sĩ thần kinh, phẫu thuật thần kinh, các bác sĩ nhiều chuyên khoa liên quan, các nhà khoa học và học viên sau đại học từ nhiều bệnh viện, trường đại học y khoa trong cả nước.
Toàn cảnh hội nghị khoa học
PGS.TS.BS. Nguyễn Minh Anh, Phó Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM phát biểu khai mạc hội nghị
Phát biểu khai mạc, Phó giáo sư – tiến sĩ – bác sĩ Nguyễn Minh Anh, Phó giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, khẳng định: “Hội nghị ANSCI là minh chứng cho cam kết của bệnh viện trong việc xây dựng môi trường học thuật năng động, nơi các nhà chuyên môn có thể chia sẻ tri thức, cùng nhau cập nhật và ứng dụng những tiến bộ mới nhất trong điều trị bệnh lý thần kinh”.
Hội nghị ANSCI là dịp để báo cáo những thành quả khoa học và ứng dụng lâm sàng không chỉ của Trung tâm Khoa học Thần kinh mà còn của toàn ngành thần kinh học nói chung. Vai trò của các tiến bộ này đã được thể hiện rõ trong thực tế, từ nghiên cứu đến chăm sóc người bệnh. Đặc biệt, năm nay, hội nghị dành trọng tâm cho 2 lĩnh vực đang rất được quan tâm là đột quỵ và chóng mặt, với các buổi thảo luận, minh họa ca bệnh và workshop thực hành kỹ thuật….
Các đại biểu trình bày tham luận
Chương trình hội nghị gồm nhiều phiên báo cáo chuyên sâu, phản ánh toàn diện những tiến bộ của thần kinh học hiện đại. Các chủ đề nổi bật được thảo luận bao gồm cập nhật phân loại cơn động kinh mới nhất theo ILAE 2025, chiến lược dùng thuốc kháng đông trong phòng ngừa đột quỵ, liệu pháp phục hồi sau đột quỵ, cũng như các tiến bộ trong bệnh lý thần kinh cơ và miễn dịch thần kinh. Các báo cáo viên cũng giới thiệu nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn về xây dựng hệ sinh thái chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ, góp phần tạo nên bức tranh tổng quan đa chiều về các thách thức và giải pháp trong điều trị bệnh lý thần kinh hiện nay.
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm
Một kỹ thuật rất mới đang được triển khai tại bệnh viện cũng được giới thiệu trong hội nghị, đó là kỹ thuật đo điện não đồ định vị bằng các điện cực nội sọ, giúp định vị ổ sinh động kinh làm cơ sở cho các phẫu thuật chuyên sâu điều trị động kinh. Bên cạnh các báo cáo khoa học, nhiều ca lâm sàng thực tế cũng được trình bày và thảo luận, cho thấy tính ứng dụng cao của các tiến bộ trong điều trị đồng thời minh họa cho thế mạnh của bệnh viện trong việc phối hợp đa chuyên khoa, đa mô thức trong điều trị toàn diện bệnh thần kinh.
Mưa bão, lũ lụt không chỉ gây thiệt hại về tài sản, mà còn kéo theo nhiều nguy cơ sức khỏe, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm. Việc giữ gìn vệ sinh môi trường và kiểm soát nhiễm khuẩn đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Ngập lụt tại Hà Nội làm xáo trộn cuộc sống của người dân – Ảnh: PHẠM TUẤN
Bác sĩ Trương Anh Thư – Trưởng khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, Bệnh viện Bạch Mai – chia sẻ một số kiến thức và khuyến cáo giúp người dân cũng như các cơ sở y tế chủ động phòng tránh dịch bệnh trong và sau bão lũ, ngập lụt.
Nguy cơ nhiễm khuẩn sau bão, đừng chủ quan
Sau bão lũ, môi trường sống thường bị ô nhiễm nặng nề. Nước ngập, rác thải, xác động vật, hệ thống thoát nước tắc nghẽn… Đây là những “mảnh đất màu mỡ” cho vi khuẩn và vi rút phát triển. Theo đó các bệnh thường gặp sau bão bao gồm:
Bệnh đường hô hấp (viêm phổi, cảm cúm, COVID-19) chiếm tỉ lệ cao nhất sau thiên tai do tụ tập đông người trong khu sơ tán, không đủ thông gió và lây truyền qua giọt bắn.
Bệnh tiêu chảy, viêm gan A/E, tả, thương hàn do sử dụng nước hoặc thực phẩm bị nhiễm khuẩn.
Nhiễm trùng da, uốn ván: Do vết thương tiếp xúc với nước bẩn hoặc đất bùn.
Bệnh do muỗi và động vật gặm nhấm như sốt xuất huyết, sốt rét, Leptospirosis (bệnh chuột truyền). Sau thiên tai, nước đọng và rác thải tạo điều kiện cho muỗi và chuột sinh sôi.
Nấm mốc và ô nhiễm thực phẩm: Thường xảy ra chỉ sau 48 giờ khi khu vực bị ngập do việc bảo quản thực phẩm bị ảnh hưởng, gián đoạn chuỗi cung ứng vật tư kiểm soát nhiễm khuẩn.
“Chủ động kiểm soát nhiễm khuẩn trong thiên tai ngay từ đầu có thể ngăn được dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe”, bác sĩ Thư nhấn mạnh.
Biện pháp phòng nhiễm khuẩn mùa bão lũ
Vệ sinh tay: Hành động nhỏ nhưng hiệu quả lớn. Nếu có nước sạch – hãy rửa tay bằng xà phòng. Nếu không, dùng dung dịch cồn sát khuẩn. Thời điểm vệ sinh tay là trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, sau khi xử lý rác, lau dọn nước.
Làm sạch nguồn nước: Ô nhiễm vi khuẩn trong nước gây ra rủi ro lớn cho sức khỏe. Đun sôi nước ít nhất 1 phút trước khi uống. Nếu không có nước sạch, có thể pha 1/8 thìa cà phê thuốc tẩy clo (loại không mùi, chứa 5,25% natri hypoclorit) cho mỗi 3,8 lít nước.
Clo hoạt tính thường bất hoạt hơn 99,99% vi khuẩn và vi rút đường ruột. Nước giếng cần làm sạch và khử trùng bằng dung dịch clo. Phải đợi ít nhất 48 giờ sau khử trùng để kiểm tra nước (tìm vi khuẩn coliform và E. coli) trước khi sử dụng.
An toàn vệ sinh thực phẩm: Thực phẩm cần được bảo quản khô ráo, đậy kín, và loại bỏ thực phẩm cần được bảo quản lạnh nếu để ở nhiệt độ phòng quá 2 giờ.
Người có triệu chứng bệnh truyền nhiễm (như tả, lỵ, thương hàn, viêm gan A/E, tiêu chảy) không được chế biến hoặc phục vụ thức ăn.
Tăng cường khử khuẩn bề mặt, ưu tiên khu vực bị ngập. Đặc biệt xử lý môi trường ngay lập tức, tránh tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển.
Trang bị phương tiện phòng hộ cá nhân PPE đầy đủ cho người tham gia dọn dẹp hoặc tiếp xúc với nước lũ. Tránh chạm tay bẩn vào mặt hoặc miệng. Bất kỳ ai bị thương trong quá trình vệ sinh cần được chăm sóc vết thương ngay lập tức và đánh giá nhu cầu tiêm phòng uốn ván.
Xử lý chất thải và thi hài đúng quy định, tránh để ô nhiễm lan rộng.
Khắc phục và giám sát sau bão, theo dõi hằng ngày các dấu hiệu bất thường (sốt, phát ban, tiêu chảy, nhiễm trùng da…) để phát hiện sớm nguy cơ dịch bệnh.
“Ngoài ra khi nước rút, việc tổng vệ sinh và khử khuẩn toàn bộ khu vực sinh hoạt, bệnh viện, trường học là vô cùng cần thiết.
Lau rửa sàn, tường, đồ dùng, khử khuẩn bằng dung dịch clo loãng (0,1 – 0,5%). Xử lý nấm mốc, côn trùng, kiểm tra làm sạch hệ thống thông khí đảm bảo thông khí tự nhiên. Kiểm tra nguồn nước, hệ thống xử lý rác thải, nhà ăn, khu vệ sinh…”, bác sĩ Thư khuyến cáo.
(Nguồn: tuoitre.vn)
Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) thành phố Hà Nội thông báo vừa ghi nhận thêm 1 trường hợp nhi mắc bệnh Não mô cầu. Đây là căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có khả năng lây lan nhanh, dễ gây biến chứng nặng nề như viêm màng não, nhiễm trùng huyết, thậm chí tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Bệnh não mô cầu do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây ra, có hơn 12 nhóm huyết thanh, trong đó các nhóm A, B, C, W, Y thường gây bệnh ở người. Bệnh có thể xuất hiện rải rác quanh năm, nhưng thường bùng phát thành ổ dịch nhỏ vào mùa đông – xuân khi thời tiết lạnh và ẩm. Trẻ em và thanh thiếu niên là nhóm dễ mắc nhất do hệ miễn dịch còn yếu hoặc sinh hoạt tập trung trong trường học, ký túc xá. Tỷ lệ tử vong cao (có thể lên đến 50% nếu không được điều trị kịp thời) và nhiều trường hợp để lại di chứng nặng nề như điếc, tổn thương não, hoại tử chi. Ở Việt Nam, bệnh xuất hiện rải rác tại nhiều tỉnh, thành phố, trong đó có thành phố Hà Nội, các ca bệnh thường ghi nhận lẻ tẻ và luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát.
CDC Hà Nội đề nghị người dân cần lưu ý một số thông tin cụ thể như sau:
(1) Đường lây truyền: Bệnh lây chủ yếu qua dịch tiết đường hô hấp (nước bọt, dịch mũi họng) khi tiếp xúc gần với người mắc hoặc người lành mang vi khuẩn. Bệnh có diễn biến rất nhanh, có thể gây tử vong chỉ trong vòng 24-48 giờ.
(2) Đối tượng nguy cơ cao: Trẻ nhỏ, học sinh – sinh viên sống tập trung trong ký túc xá, nhà trẻ, trường học; người có sức đề kháng kém.
(3) Dấu hiệu nhận biết sớm: Sốt cao đột ngột, đau đầu dữ dội, buồn nôn hoặc nôn, cứng gáy, nổi ban xuất huyết trên da. Khi có các triệu chứng nghi ngờ, cần đưa người bệnh đến cơ sở y tế ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Các dấu hiệu của bệnh Não mô cầu.
CDC Hà Nội lưu ý biện pháp phòng bệnh, bao gồm: Giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng; đeo khẩu trang khi đến nơi đông người, che miệng khi ho, hắt hơi. Cùng với đó, giữ gìn nhà cửa, phòng học thông thoáng, sạch sẽ; tránh dùng chung đồ dùng cá nhân như cốc, khăn mặt, bàn chải đánh răng; hạn chế tiếp xúc gần với người đang có triệu chứng viêm đường hô hấp. Đồng thời, chủ động đưa trẻ em và người trong gia đình đi tiêm vắc xin phòng bệnh não mô cầu tại các điểm tiêm chủng dịch vụ.
Về việc xử trí khi có ca bệnh, nếu trong gia đình, lớp học hoặc khu tập thể phát hiện người mắc bệnh, cần nhanh chóng đưa đi điều trị, đồng thời thông báo cho y tế địa phương để được hướng dẫn giám sát, phòng dịch kịp thời.
Tiêm vắc xin là biện pháp an toàn, hiệu quả để phòng bệnh.
CDC Hà Nội khuyến cáo: Bệnh não mô cầu có thể tiến triển rất nhanh, chỉ trong vài giờ đến vài ngày, do đó tuyệt đối không chủ quan. Người dân cần nâng cao cảnh giác, theo dõi sát sức khỏe của trẻ em và người thân.
Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội khuyến cáo và kêu gọi mỗi người dân hãy cùng chung tay thực hiện các biện pháp vệ sinh, chủ động tiêm chủng và kịp thời báo cáo cho cơ quan y tế khi phát hiện ca nghi ngờ để bảo vệ sức khỏe bản thân, gia đình và cộng đồng./.
(Nguồn: hanoimoi.vn)
Trong bối cảnh toàn ngành y tế đang bước vào giai đoạn tăng tốc chuyển đổi số, bệnh án điện tử được xem là một “trụ cột” then chốt, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tiết kiệm nguồn lực và hướng tới sự hài lòng của người dân.
Đến thời điểm hiện tại, đã có hơn 1.012/1.650 cơ sở triển khai bệnh án điện tử (chiếm hơn 61%).
