Danh mục: Tin Tức Y Dược
Tin Tức Y Dược
Việt Nam có “kho tàng thuốc dân gian” với tiềm năng rất lớn để sàng lọc các loài dược liệu bản địa. Những bài thuốc dân gian sử dụng qua thời gian dài là nguồn tài nguyên quý cần được bảo tồn, nghiên cứu khoa học để xác định hiệu quả và định lượng.
Tiềm năng phát triển dược liệu từ đa dạng sinh học
Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng sinh học cao — về sinh thực vật, nấm, vi sinh vật — với hàng nghìn loài thực vật có tiềm năng làm dược liệu. Đa dạng này chính là kho “vàng xanh”, nếu được khai thác có hệ thống, bền vững, sẽ là nguồn nguyên liệu dược liệu phong phú, giúp phát triển y học cổ truyền, y học hiện đại, các chế phẩm chức năng, thuốc mới.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST), thông qua các Viện như Viện Hóa học, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên, đã và đang thực hiện nhiều nghiên cứu về hóa chất có hoạt tính sinh học lấy từ thiên nhiên, nghiên cứu phân lập, xác định cấu trúc, thử nghiệm dược tính, cũng như phát triển ứng dụng.
Tại hội nghị khoa học “Đa dạng sinh học và Các chất có hoạt tính sinh học vì sự phát triển bền vững” tổ chức ngày 4/4/2025, các nhà khoa học VAST đã giới thiệu nhiều báo cáo tổng quan và nghiên cứu chuyên sâu về dược chất từ nguồn thực vật và vi sinh, xác định được nhiều cấu trúc mới chưa từng được ghi nhận.
Cây thông đỏ là loài dược liệu chứa nhiều hoạt chất quý hiếm.
Việc chuyển giao công nghệ và thương mại hoá sản phẩm sinh học tiềm năng như thực phẩm chức năng, dược liệu đã được thực hiện. Ví dụ sản phẩm Fuicodan (ngành dược liệu) là một trong những sản phẩm được phát triển và thương mại hoá.
Một hoạt chất quý hiếm được chiết xuất từ cây Tùng đỏ vùng Siberia, kết hợp với công nghệ nano hiện đại đã được các nhà khoa học phát triển thành công thành sản phẩm Nano Dihydroquercetin. Sản phẩm giúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị rối loạn lipid máu, bảo vệ tim mạch, gan và cải thiện tuần hoàn máu não. Với khả năng chống oxy hóa mạnh gấp hàng chục lần vitamin C, Nano Dihydroquercetin mở ra hướng đi mới cho các sản phẩm chăm sóc sức khỏe có nguồn gốc tự nhiên.
Theo chia sẻ của TS. Nguyễn Thị Mai Hương, Trung tâm Vật lý ứng dụng và Thiết bị khoa học – Viện Vật lý – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, thực tế hiện nay cho thấy, tỷ lệ người mắc các bệnh liên quan đến rối loạn lipid máu và xơ vữa động mạch đang ngày càng gia tăng, đặc biệt ở nhóm tuổi ngày càng trẻ. Trước tình trạng đó, xu hướng sử dụng các chất chống oxy hóa để làm chậm hoặc ngăn chặn quá trình oxy hóa lipid, nguyên nhân chính dẫn đến hình thành mảng bám và gây xơ vữa động mạch đang được giới khoa học và người tiêu dùng đặc biệt quan tâm.
Bà cho biết: Hiện trên thị trường đã xuất hiện nhiều sản phẩm hỗ trợ ổn định mỡ máu, lưu thông khí huyết, tuy nhiên phần lớn vẫn ở dạng hoạt chất thô, khả năng hấp thu còn hạn chế. Trong khi đó, một số sản phẩm nhập khẩu tuy có chất lượng tốt nhưng giá thành cao hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ. Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã xác định rõ việc phát triển sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, an toàn, hiệu quả và phù hợp với nhiều nhóm đối tượng sử dụng là nhiệm vụ cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao.
Dihydroquercetin, hay còn gọi là Taxifolin, là hoạt chất flavonoid quý hiếm được chiết xuất từ cây Tùng đỏ (Dahurian Larch), loài thực vật mọc phổ biến tại vùng Siberia, Nga và một số quốc gia ôn đới. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh hoạt chất này có khả năng chống oxy hóa mạnh, giúp trung hòa các gốc tự do, bảo vệ màng tế bào, từ đó phòng ngừa các bệnh do lão hóa và stress oxy hóa gây ra. Ngoài ra, Dihydroquercetin còn có tác dụng giảm cholesterol xấu, tăng cường tuần hoàn máu não, bảo vệ gan, cải thiện chất lượng giấc ngủ và hỗ trợ ngăn ngừa hình thành mảng xơ vữa trong lòng mạch.
TS. Nguyễn Thị Mai Hương cho biết, kết quả phân tích của Phòng thí nghiệm Brunswick (Hoa Kỳ) cho thấy chỉ số chống oxy hóa ORAC của Dihydroquercetin đạt 104.126 µmol TE/gram, cao gấp 55 lần so với vitamin C và vượt xa vitamin E. Đây là một trong số ít các hoạt chất tự nhiên có khả năng trung hòa gần như toàn bộ các gốc tự do tồn tại trong cơ thể.
Tuy nhiên, điểm yếu của Dihydroquercetin dạng thô là khó tan trong nước, sinh khả dụng thấp, khó hấp thu vào cơ thể khi sử dụng bằng đường uống. Trăn trở trước bài toán này, nhóm nghiên cứu đã phát triển thành công công nghệ nano hóa hoạt chất thành dạng gel lỏng với kích thước hạt dưới 50 nanomet. Nhờ đó, hoạt chất dễ dàng phân tán hoàn toàn trong nước, hấp thụ nhanh vào cơ thể và phát huy tác dụng tối ưu. Đây được xem là bước đột phá công nghệ tạo nên sản phẩm Nano Dihydroquercetin.
Vai trò của đa dạng sinh học đối với phát triển dược liệu
GS Phạm Hùng Việt, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, khu vực Tây Bắc Việt Nam là vùng “kho tàng thuốc dân gian” với tiềm năng rất lớn để sàng lọc các loài dược liệu bản địa. Những bài thuốc dân gian sử dụng qua thời gian dài là nguồn tài nguyên quý cần được bảo tồn, nghiên cứu khoa học để xác định hiệu quả và định lượng.
Việc nghiên cứu các bài thuốc dân gian không chỉ có mục tiêu bảo tồn tri thức văn hóa bản địa mà còn nhằm mục đích phát triển thành dược phẩm hoặc sản phẩm có giá trị cao. Quá trình này bao gồm điều tra thực vật học, hóa học, dược lý và công nghệ bào chế để tối ưu hóa hiệu suất điều trị.
GS Hùng Việt nhấn mạnh rằng các bài thuốc dân gian hiện nay vẫn chưa được đảm bảo về định lượng hay thử nghiệm khoa học cấp độ cao. Do đó, nghiên cứu có hệ thống là cần thiết để minh chứng cho hiệu quả điều trị, đồng thời phát triển vùng dược liệu, chế biến chuẩn hóa thành sản phẩm có tính thương mại.
Đa dạng sinh học là nền tảng, thế mạnh để phát triển dược liệu ở Việt Nam.
Qua đó, đa dạng sinh học đóng vai trò như nền tảng vàng cho phát triển dược liệu: từ việc cung cấp nguồn nguyên liệu phong phú, tạo cảnh quan cây thuốc bản địa, cho đến phát triển công nghệ, thương mại hoá. GS Hùng Việt cho rằng nếu có quản lý tốt, nghiên cứu kỹ càng thì Việt Nam có thể phát triển sinh kế cho cộng đồng, thúc đẩy kinh tế vùng Tây Bắc, và đưa dược liệu bản địa vào dòng sản phẩm có giá trị cao hơn.
Để tận dụng được thế mạnh của đa dạng sinh học vào phát triển dược liệu, theo các nhà khoa học cần có sự tăng cường nghiên cứu đa ngành: Hóa học thiên nhiên, sinh học phân tử, công nghệ sinh học, công nghệ thực nghiệm để tìm ra hợp chất mới, định hướng phát triển thuốc, chế phẩm chức năng.
Phát triển hệ thống bảo tồn loài, bảo vệ hệ sinh thái có nguồn dược liệu quan trọng, xây dựng vườn thực vật, sưu tập gen, bảo tồn tại chỗ. Đẩy mạnh thương mại hoá bằng cách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, gắn kết nhà nghiên cứu – doanh nghiệp – chính sách, hoàn thiện khung pháp lý, thủ tục kiểm định, cấp phép.
Đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu: nhà hóa dược, phân tử, nhà nghiên cứu thực địa, chuyên gia bảo tồn. Quan tâm đến tiêu chuẩn hóa, truy xuất nguồn gốc, đảm bảo an toàn, chất lượng – để dược liệu Việt Nam có thể tham gia mạnh trên thị trường quốc tế.
Đa dạng sinh học là tài sản vô giá, là nền tảng vàng giúp phát triển ngành dược liệu của Việt Nam. Với sự nỗ lực từ Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các đơn vị liên quan trong nghiên cứu, đào tạo, ứng dụng và bảo tồn, ngành dược liệu Việt Nam có thể phát triển mạnh mẽ, đóng góp vào y học, sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững. Việc khai thác phải đi đôi với bảo tồn và phát triển hệ sinh thái để không làm mất đi nguồn tài nguyên thiên nhiên quý báu này.
(nguồn:suckhoedoisong.vn)
Bệnh viện Mắt Hà Nội vừa chính thức triển khai bệnh án điện tử trên toàn viện sau giai đoạn thí điểm, giải pháp này không chỉ giúp lưu trữ và quản lý dữ liệu khoa học, bảo mật mà còn rút ngắn thời gian chờ đợi, giảm thủ tục hành chính, mang lại nhiều thuận lợi cho cả người bệnh lẫn đội ngũ y tế.
Bệnh viện Mắt Hà Nội vừa chính thức đưa vào triển khai bệnh án điện tử trong toàn bệnh viện – một trong những bước quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số toàn diện ngành y tế, nhằm nâng cao chất lượng quản lý, khám chữa bệnh và phục vụ người dân. Đây cũng là dấu mốc quan trọng trong lộ trình hiện đại hóa công tác khám, chữa bệnh và quản lý, điều hành của Bệnh viện Mắt Hà Nội.
Chiều 24/9/2025, sau khi tổ chức thẩm định bệnh án điện tử, kết quả rà soát, đánh giá các tiêu chí của Hội đồng chuyên môn cho thấy, Bệnh viện Mắt Hà Nội đạt mức 6 theo Thông tư số 54/2017/TT-BYT của Bộ Y tế về tiêu chí ứng dụng CNTT trong y tế và được Hội đồng thẩm định đánh giá cao bởi đã quan tâm đầu tư và đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong bệnh viện, thực hiện chủ trương chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính y tế. Đây là cơ sở quan trọng để Bệnh viện triển khai chính thức bệnh án điện tử trong thời gian tới.
PGS.TS. Trần Quý Tường – Chủ tịch hội Tin học y tế Việt Nam tham gia thẩm định bệnh án điện tử tại Bệnh viện Mắt Hà Nội.
Trong bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đang được đặc biệt quan tâm và chỉ đạo quyết liệt, việc triển khai bệnh án điện tử là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Thực hiện chỉ đạo của Sở Y tế Hà Nội, Bệnh viện Mắt Hà Nội đã triển khai thí điểm bệnh án điện tử từ ngày 01/8/2025. Sau gần hai tháng áp dụng bệnh án điện tử, bệnh viện đã thu được những kết quả tích cực như lưu trữ, quản lý dữ liệu bệnh nhân một cách khoa học, thuận tiện tra cứu; tăng cường tính bảo mật, an toàn thông tin; giảm thiểu thủ tục giấy tờ, tiết kiệm thời gian cho người bệnh và cán bộ y tế; tích hợp các tiện ích giúp theo dõi, quản lý quá trình điều trị hiệu quả hơn.
TS.BS Nguyễn Xuân Tịnh (Giám đốc Bệnh viện Mắt Hà Nội) cho biết: “Việc triển khai bệnh án điện tử là điều cần thiết mang đến nhiều tiện lợi cho người bệnh khi thăm khám, điều trị. Khi bệnh nhân đến khám chữa bệnh chỉ cần sử dụng căn cước công dân để thực hiện việc khám chữa bệnh giúp cho thời gian đăng ký, thời gian chờ đợi của bệnh nhân được rút ngắn. Tiếp đến, các thông tin được cập nhật rất chính xác, việc quản lý điều hành dựa vào phần mềm bệnh án điện tử cũng rất thuận tiện cho công tác quản lý điều hành của bệnh viện”.
Bệnh viện Mắt Hà Nội tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động chuyên môn, tiến tới xây dựng mô hình bệnh viện thông minh và triển khai hồ sơ bệnh án điện tử.
Chia sẻ về quá trình thử nghiệm bệnh án điện tử, TS.BS Nguyễn Xuân Tịnh cho biết thời gian đầu khi mới triển khai có nhiều nhân viên y tế gặp khó khăn do chưa quen cách sử dụng. Tuy nhiên khi được đào tạo và có thể thực hiện thành tạo, bệnh án điện tử đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian cũng như công sức, vật tư trang thiết bị.
TS.BS Nguyễn Xuân Tịnh cũng cho biết hiện bệnh viện vẫn triển khai song song cả hai hình thức thanh toán tiền mặt và thanh toán không tiền mặt. Lý giải về điều này, ông Tịnh chia sẻ: “Việc sử dụng điện thoại thông minh để quét mã QR thực hiện việc thanh toán online không phải bệnh nhân nào cũng có thể thực hiện. Do vậy, để thực hiện việc quét mã QR hay thanh toán không dùng tiền mặt thì cũng cần phải có lộ trình và phải áp dụng tùy thuộc theo từng đối tượng bệnh nhân. Hiện nay, bệnh viện vẫn phải thực hiện cả hai hình thức, những bệnh nhân nào có điện thoại thông minh thì nhân viên y tế sẽ sử dụng hình thức quét mã QR, thanh toán online. Còn với những bệnh nhân không có điện thoại thông minh, nhân viên y tế vẫn áp dụng thanh toán bằng tiền mặt”.
Trong giai đoạn tiếp theo, Bệnh viện Mắt Hà Nội sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống bệnh án điện tử, đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn cho cán bộ y tế, nhằm khai thác tối đa hiệu quả ứng dụng, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và đáp ứng sự hài lòng của người dân.
(Nguồn: suckhoedoisong.vn)
Khoa Bệnh lây đường máu, Viện Lâm sàng các bệnh truyền nhiễm (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) gần đây tiếp nhận nhiều ca bệnh nhiễm khuẩn huyết do mắc sốt mò – một bệnh truyền nhiễm cấp tính có thể chữa khỏi nếu phát hiện sớm, nhưng khi chẩn đoán và điều trị muộn có thể gây biến chứng nặng, thậm chí tử vong.
Người bệnh thường nhập viện với biểu hiện sốt cao, đau đầu, có thể kèm theo tổn thương nhiều cơ quan. Trên lâm sàng, các triệu chứng này dễ nhầm lẫn với các bệnh nhiễm khuẩn khác. Tuy nhiên, nếu bác sĩ thăm khám tỉ mỉ, tìm kĩ các dấu hiệu đặc trưng như vết loét, nổi hạch, ban đỏ thì việc chẩn đoán không khó. Khi được điều trị kịp thời bằng phác đồ đặc hiệu, bệnh nhân thường đáp ứng tốt và hồi phục hoàn toàn.
Chăm sóc bệnh nhân sốt mò tại Khoa Bệnh lây đường máu.
Một trường hợp điển hình là bệnh nhân N.T.C (70 tuổi). Người bệnh nhập viện trong tình trạng sốt cao kéo dài 6 ngày, li bì, mệt nhiều, khó thở và phải thở oxy. Trước đó, bệnh nhân đã được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết và điều trị tại tuyến dưới nhưng không cải thiện. Khi chuyển lên Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, bác sĩ phát hiện vết loét đặc trưng ở hõm nách – dấu hiệu điển hình của sốt mò. Xét nghiệm PCR máu sau đó khẳng định bệnh nhân dương tính với Orientia tsutsugamushi.
Người bệnh được điều trị bằng kháng sinh đặc hiệu Doxycycline kết hợp Quinolon, đồng thời chăm sóc nâng đỡ thể trạng. Sau 2 ngày, bệnh nhân hết sốt, tỉnh táo; các triệu chứng khó thở, phù mặt và tay chân thuyên giảm rõ rệt. Sau một tuần điều trị tích cực, bệnh nhân hồi phục và xuất viện.
Theo các chuyên gia, sốt mò là bệnh do vi khuẩn Orientia tsutsugamushi gây ra, lây truyền sang người qua vết đốt của ấu trùng mò (bọ mò đỏ). Ấu trùng này thường sống trong bụi rậm, nương rẫy, rừng cây, nơi có nhiều động vật gặm nhấm. Bệnh xuất hiện nhiều ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó có Việt Nam. Ở miền Bắc, bệnh thường gặp từ tháng 5 đến tháng 10, còn miền Nam xảy ra quanh năm, đặc biệt vào mùa mưa.
Người lao động ngoài trời như nông dân, công nhân lâm nghiệp, bộ đội… là nhóm có nguy cơ cao. Bệnh dễ bị nhầm lẫn với sốt xuất huyết, sốt rét, thương hàn…, khiến việc phát hiện và điều trị chậm trễ.
Phát hiện chậm – biến chứng nặng
Bác sĩ, TS. Trịnh Văn Sơn, Chủ nhiệm khoa Bệnh lây đường máu, cho biết:
“Nếu phát hiện sớm, bệnh nhân thường hết sốt chỉ sau 1-3 ngày dùng thuốc. Nhưng nếu chậm trễ, bệnh có thể gây biến chứng nặng như viêm phổi, viêm cơ tim, suy đa tạng, sốc nhiễm khuẩn, thậm chí tử vong. Với phụ nữ mang thai, bệnh còn có thể dẫn đến sảy thai hoặc thai chết lưu”.
Hiện chưa có vắc xin phòng ngừa sốt mò. Biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất là giữ gìn vệ sinh môi trường, phát quang bụi rậm, tránh phơi quần áo ở nơi ẩm thấp, mặc quần áo bảo hộ khi làm việc ngoài trời tại khu vực có nhiều cây cỏ.
“Chỉ một vết cắn nhỏ cũng có thể gây ra hậu quả lớn nếu người bệnh chủ quan. Vì vậy, mỗi người dân cần nâng cao nhận thức, nhận biết sớm triệu chứng và đến bệnh viện kịp thời để bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình”, TS. Trịnh Văn Sơn khuyến cáo.
Hình ảnh con mò trên da người.
Sốt mò là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây qua vết đốt của ấu trùng mò – loài côn trùng nhỏ, thường sống ở bụi rậm, vườn rẫy, nơi ẩm thấp. Khi bị đốt, người bệnh thường không cảm thấy rõ đau ngứa nhưng vi khuẩn sẽ âm thầm xâm nhập máu.
Vết loét hoại tử nhỏ, thường ở bẹn, ngực, bụng dưới hoặc sau gáy, là dấu hiệu quan trọng để nhận diện bệnh. Do nằm ở vị trí kín và không gây đau, dấu hiệu này rất dễ bị bỏ qua nếu không thăm khám kĩ. Nếu được chẩn đoán sớm và điều trị đúng thuốc, bệnh nhân thường hồi phục nhanh, chỉ sau 24- 48 giờ và không cần các biện pháp hồi sức nâng cao. Ngược lại, nếu phát hiện muộn, bệnh có thể gây suy đa tạng, viêm não, tổn thương gan nặng, tràn dịch đa màng, thậm chí tử vong, đặc biệt ở người cao tuổi hoặc có bệnh nền.
Sốt mò hoàn toàn có thể phòng ngừa và điều trị hiệu quả, song do triệu chứng không điển hình, bệnh dễ bị bỏ sót.
Với người dân, đặc biệt là người làm nông cần mặc quần áo dài tay, đi ủng khi lao động ngoài trời; vệ sinh cơ thể sau khi làm việc; đi khám sớm nếu có sốt cao không rõ nguyên nhân kéo dài trên 5 ngày.
(Nguồn: tienphong.vn)
Tai nạn lao động khiến thai phụ đứt lìa bàn tay nhưng chưa thể phẫu thuật nối lại vì an toàn của thai nhi. Cô gái trẻ 18 tuổi muốn giữ lại bàn tay bị đứt lìa hoàn toàn để sau này được trực tiếp chăm sóc hai con bằng chính đôi tay của mình. Các bác sĩ đã “ghép tạm” bàn tay vào chân người bệnh để nuôi dưỡng, chờ thời điểm phẫu thuật thích hợp.
Ca phẫu thuật đặc biệt này vừa được các bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Bình Dương (TPHCM) thực hiện thành công. Theo đó, ngày 13-9, chị L.N.P. (20 tuổi, đang mang song thai) bị tai nạn lao động, dập nát vùng 1/3 dưới cẳng tay, đứt lìa bàn tay phải.
Sau khi sơ cứu tại một cơ sở y tế, chị P. được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Bình Dương. Thời điểm nhập viện, bệnh nhân không sốc, song thai 23 tuần tuổi.
Theo TS-BS Lê Ngọc Long, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Bình Dương, người bệnh lập tức được hội chẩn liên khoa Hồi sức cấp cứu, Sản khoa, Phẫu thuật – Gây mê hồi sức, Huyết học, Chấn thương chỉnh hình để lên phương án phẫu thuật.
Nhiệm vụ của ê-kíp là phải đảm bảo an toàn cho người mẹ và song thai. Tuy nhiên, người bệnh cũng có nguyện vọng được giữ lại bàn tay trọn vẹn để có thể chăm sóc con nhỏ.
Trước tình huống trên, các bác sĩ tính toán và quyết định sẽ “bảo quản” bàn tay tạm ở chân rồi chờ thời điểm thích hợp ghép lại cho người bệnh.Sau 3 giờ phẫu thuật, bàn tay đứt lìa đã được nối với các mạch máu ở vùng chân để duy trì tuần hoàn, giúp mô không bị hoại tử.
Hiện sức khỏe chị L.N.P. và song thai ổn định, bàn tay hồng hào. Dự kiến, khi thai hơn 32 tuần, ê-kíp sẽ tiến hành phẫu thuật tách bàn tay ra và ghép lại đúng vị trí ban đầu. Mục tiêu phải đảm bảo an toàn cho cả mẹ và con.
Chị P. cho biết không còn cảm giác đau đớn, gục ngã mà thay vào đó là niềm tin về sự hồi sinh của cánh tay phải.
Sau ca phẫu thuật, chị P. trông rất tươi tắn, rạng rỡ và nói chuyện rất nhiều mỗi khi có ai tới thăm.
Chị P. cho biết, bác sĩ thông báo là có thể sau khi mổ lấy em bé, sức khỏe mẹ ổn định thì sẽ tiến hành phẫu thuật nối lại bàn tay.
(Tổng hợp từ nguồn: nld.com.vn và saigongiaiphong.vn)
Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên vừa ký ban hành Thông tư 39/2025/TT-BYT, ngày 20/9/2025 Quy định việc phân cấp thực hiện một số nhiệm vụ và giải quyết một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực dược thuộc thẩm quyền của Bộ Y tế.
Việc phân cấp này được thực hiện theo quy định tại các Nghị định mới ban hành trong năm 2025 như: Nghị định số 163/2025/NĐ-CP (hướng dẫn thi hành Luật Dược), Nghị định số 217/2025/NĐ-CP (về kiểm tra chuyên ngành), Nghị định số 42/2025/NĐ-CP (về tổ chức bộ máy Bộ Y tế) và các quy định liên quan khác.
Theo đó, Cục Quản lý Dược được giao thẩm quyền thực hiện toàn diện 32 thủ tục hành chính liên quan đến:
Cấp phép nhập khẩu, xuất khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc, bao gồm cả thuốc phải kiểm soát đặc biệt như thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, thuốc phóng xạ, thuốc viện trợ…
Thẩm định và trình cấp các loại giấy chứng nhận: đủ điều kiện kinh doanh dược, chứng chỉ hành nghề dược theo hình thức thi.
Cấp phép nội dung quảng cáo thuốc và xử lý các nội dung điều chỉnh, đính chính.
Quản lý giá thuốc, bao gồm công bố, công bố lại và kiến nghị giá bán buôn thuốc kê đơn.
Thẩm định các hồ sơ thử lâm sàng, nghiên cứu khoa học, kiểm nghiệm thuốc, mua – bán nguyên liệu đặc biệt…
Đáng chú ý, nhiều thủ tục vốn phải xin ý kiến cấp Bộ trước đây, nay được Cục Quản lý Dược trực tiếp tiếp nhận, xử lý và quyết định, góp phần rút ngắn thời gian giải quyết và tăng tính chủ động cho cơ quan chuyên môn.
Bộ Y tế phân cấp thực hiện 32 nhiệm vụ và giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực dược thuộc thẩm quyền của Bộ Y tế cho Cục Quản lý Dược.
Tiếp tục xử lý hồ sơ nộp trước ngày 1/7/2025
Bên cạnh việc triển khai quy trình mới, Cục Quản lý Dược cũng được giao trách nhiệm tiếp tục giải quyết các hồ sơ thủ tục hành chính đã nộp trước ngày 01/7/2025 theo quy định cũ tại Nghị định 54/2017/NĐ-CP, Nghị định 155/2018/NĐ-CP và Nghị định 88/2023/NĐ-CP.
XEM CHI TIẾT THÔNG TƯ TẠI ĐÂY
Sự hiện diện tích cực và dấu ấn nổi bật của đoàn Việt Nam tại hội nghị chuyên đề quốc tế về Châm cứu và Cứu ngải năm 2025 đã góp phần nâng cao vị thế của châm cứu Việt Nam, đồng thời mở ra cơ hội hợp tác rộng lớn với nhiều quốc gia và tổ chức y tế toàn cầu…
Tại Thuỵ Điển vừa diễn ra Hội nghị chuyên đề quốc tế về Châm cứu và Cứu ngải năm 2025. Đoàn đại biểu Hội Châm cứu Việt Nam đã tham dự với nhiều chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực y học cổ truyền do PGS.TS Trần Văn Thanh – Giám đốc Bệnh viện Châm cứu TW, Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Châm cứu Thế giới (WFAS), Phó Chủ tịch Thường trực Hội Châm cứu Việt Nam – làm trưởng đoàn.
Đoàn Hội Châm cứu Việt Nam tham gia hội nghị về Châm cứu và Cứu ngải năm 2025 tại Stockholm, Thụy Điển.
Cùng đó có các chuyên gia uy tín như PGS.TS Vũ Nam – Giám đốc Bệnh viện Y học Cổ truyền TW, Phó Chủ tịch Hội Châm cứu Việt Nam; PGS.TS Phạm Quốc Bình – Chủ tịch Hội đồng Trường, Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Châm cứu Việt Nam; PGS.TS Nguyễn Quốc Huy – Giám đốc Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Châm cứu Việt Nam cùng nhiều nhà khoa học, bác sĩ và chuyên gia khác.
Trong số 110 báo cáo khoa học được trình bày tại hội nghị, đoàn Việt Nam đã vinh dự có tới hai công trình được xếp trong Top 10 báo cáo xuất sắc nhất. Đó là: “Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị của điện châm với một số thể rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm tại Hà Nội” và “Đánh giá hiệu quả giảm đau, cải thiện tầm vận động của phương pháp cứu Hỏa long kết hợp điện châm và xoa bóp – bấm huyệt trong điều trị đau thần kinh tọa”.
Thành tích này là minh chứng rõ rệt cho sự phát triển mạnh mẽ của nền châm cứu Việt Nam, đồng thời khẳng định năng lực nghiên cứu khoa học ngày càng hội nhập sâu rộng với quốc tế.
Không chỉ thành công trong lĩnh vực học thuật, đoàn Việt Nam còn được vinh danh là “Đơn vị tổ chức tiêu biểu, có nhiều đóng góp nhất cho hội nghị”, một phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực bền bỉ trong công tác chuyên môn, hợp tác quốc tế và quảng bá y học cổ truyền.
Báo cáo khoa học của hội Châm cứu Việt Nam được vinh danh tại hội nghị.
Đặc biệt, trong khuôn khổ hội nghị, PGS.TS Trần Văn Thanh đã có cuộc hội đàm với ông Liu Baoyan – Chủ tịch Liên hiệp Hội Châm cứu Thế giới.
Cuộc gặp gỡ tập trung vào việc tăng cường hợp tác quốc tế, mở rộng giao lưu khoa học giữa Việt Nam và Trung Quốc, đồng thời đặt vấn đề ủng hộ Việt Nam đăng cai Đại hội Châm cứu Thế giới năm 2028. Đề xuất này nhận được sự quan tâm đặc biệt và kỳ vọng sẽ mở ra một dấu mốc mới, nâng cao vị thế của châm cứu Việt Nam trên bản đồ y học cổ truyền thế giới.
Nhân dịp hội nghị, Liên hiệp Hội Châm cứu Thế giới cũng đã xuất bản số đặc biệt của tạp chí chuyên ngành. Trong đó, Bệnh viện Châm cứu TW Việt Nam vinh dự có hai bài báo khoa học được đăng tải và vinh danh, tiếp tục khẳng định uy tín học thuật cũng như sự đóng góp thiết thực của các nhà khoa học Việt Nam vào sự phát triển chung của nền châm cứu toàn cầu.
Thành công của đoàn Việt Nam tại hội nghị lần này không chỉ dừng lại ở các công trình khoa học được ghi nhận, mà còn là minh chứng sinh động cho sự hội nhập ngày càng sâu rộng của y học cổ truyền nước ta với nền y học thế giới.
Đoàn Hội Châm cứu Việt Nam được vinh danh là đơn vị tổ chức tiêu biểu, có nhiều đóng góp nhất cho hội nghị.
Việc các báo cáo của Việt Nam được đánh giá cao trong số hàng trăm công trình quốc tế cho thấy hướng nghiên cứu trong nước đã tiệm cận xu thế chung: dựa trên bằng chứng khoa học, kết hợp giữa thực tiễn lâm sàng và cơ chế sinh học hiện đại.
Giới chuyên môn quốc tế nhận định, sự hiện diện tích cực và dấu ấn nổi bật của đoàn Việt Nam đã góp phần nâng cao vị thế của châm cứu Việt Nam, đồng thời mở ra cơ hội hợp tác rộng lớn với nhiều quốc gia và tổ chức y tế toàn cầu.
Đặc biệt, nếu đề xuất đăng cai Đại hội Châm cứu Thế giới 2028 trở thành hiện thực, Việt Nam sẽ chính thức trở thành điểm hẹn quốc tế của cộng đồng châm cứu, tạo cơ hội quảng bá sâu rộng hơn những giá trị đặc sắc của y học cổ truyền dân tộc.
Sự kiện này cũng phản ánh nỗ lực không ngừng của các cơ sở y tế và đào tạo chuyên ngành trong nước – từ Bệnh viện Châm cứu TW, Bệnh viện Y học Cổ truyền TW đến Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam – trong việc vừa gìn giữ tinh hoa y học dân tộc, vừa thúc đẩy nghiên cứu hiện đại hóa phương pháp châm cứu. Đây chính là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và khoa học, giữa bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế.
Đoàn Hội Châm cứu Việt Nam hội đàm với ông Liu Baoyan – Chủ tịch Liên hiệp Hội Châm cứu Thế giới.
Có thể khẳng định, hội nghị chuyên đề quốc tế về Châm cứu và Cứu ngải năm 2025 đã trở thành một dấu ấn quan trọng, góp phần khẳng định vị trí của châm cứu Việt Nam trong bản đồ y học cổ truyền toàn cầu. Những thành tích đạt được tại sự kiện lần này là niềm tự hào chung của ngành y tế, đồng thời đặt nền móng vững chắc cho những bước phát triển mạnh mẽ trong tương lai.
Chủ đề của hội thảo năm nay là “Y học châm cứu và sức khỏe con người”, kéo dài trong hai ngày với quy mô lớn. Chương trình bao gồm 7 phiên học tập, 8 hội thảo chuyên đề và hơn 110 báo cáo tham luận trực tiếp, cùng với tuyển tập hơn 150 bài báo khoa học được công bố.
Các chuyên gia châm cứu từ khắp nơi trên thế giới đã tập trung thảo luận về nghiên cứu lâm sàng, các ca bệnh điển hình, tiến trình nghiên cứu cơ bản về châm cứu và cứu ngải hiện đại, cũng như sự tích hợp, đổi mới và ứng dụng của y học cổ truyền trong bối cảnh y học hiện đại.
Song song với các hoạt động học thuật, hội nghị còn tổ chức triển lãm di sản văn hóa phi vật thể “Châm cứu trong y học cổ truyền Trung Quốc”, mang đến cho đại biểu cơ hội trải nghiệm và cảm nhận trọn vẹn giá trị độc đáo của châm cứu truyền thống.
Đoàn Hội Châm cứu Việt Nam cũng đã có cuộc gặp và hội đàm với Chủ tịch Hội châm cứu Thụy Điển Dương Xuân Quý, tặng quà và giao lưu giữa hai hội.
(Nguồn:suckhoedoisong.vn)
Sáng 26/9/2025, Cục Dân số, Bộ Y tế tổ chức Lễ mít tinh hưởng ứng Ngày tránh thai thế giới, nhấn mạnh vai trò của kế hoạch hóa gia đình trong việc bảo vệ sức khỏe, giảm nghèo, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy phát triển bền vững.
Quang cảnh chương trình. Ảnh: BTC
Chủ đề trọng tâm năm nay nhấn mạnh trách nhiệm của thanh niên trong quan hệ tình dục an toàn, chủ động thực hiện tránh có thai ngoài ý muốn, vì lợi ích của chính mình và tương lai đất nước. Mọi phụ nữ có nhu cầu tránh thai đều được tiếp cận thuận tiện với dịch vụ kế hoạch hóa gia đình.
Trong ba thập kỷ qua, thế giới đã đạt được những thành tựu đáng kể. Số lượng phụ nữ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại đã tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến năm 2021. Tỷ lệ sinh con ở nhóm vị thành niên trong độ tuổi 15 đến 19 tuổi đã giảm khoảng một phần ba kể từ năm 2000.
Tại những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình thấp, năm 2024, ước tính có 380 triệu người sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, tăng gần 100 triệu người so với năm 2012, giúp ngăn ngừa được hơn 143 triệu ca mang thai ngoài ý muốn, 29 triệu ca phá thai không an toàn và 144.000 ca tử vong mẹ.
Chung tay thực hiện nghi thức hưởng ứng Ngày tránh thai thế giới (26-9). Ảnh: BTC
Tuy nhiên, trên toàn cầu vẫn còn nhiều thách thức. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong số 1,1 tỷ người có nhu cầu kế hoạch hóa gia đình thì 164 triệu người có nhu cầu chưa được đáp ứng về biện pháp tránh thai. Tại các nước đang phát triển, bình quân có khoảng gần 1/3 số phụ nữ sinh con ở tuổi vị thành niên.
Tại Việt Nam, chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đã từng bước được cải thiện, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai đạt và duy trì ở mức cao so với khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, chúng ta đang đối mặt với nhiều thách thức lớn, nhất là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của vị thành niên, thanh niên. Tuổi kết hôn lần đầu tăng, trong khi tuổi quan hệ tình dục lần đầu giảm. Nhu cầu chưa được đáp ứng về tránh thai tăng cao, đặc biệt tỷ lệ này ở nhóm chưa kết hôn/không chung sống năm 2021 lên tới 40,7 %. Tỷ lệ phụ nữ 20-24 tuổi tảo hôn trước 18 tuổi vẫn còn cao, nhất là ở nông thôn, vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Tỷ lệ phụ nữ 20-24 tuổi từng sinh con khi chưa đủ 18 tuổi chênh lệch rất lớn giữa các nhóm đối tượng: Tỷ lệ này rất cao nhóm nghèo nhất; nhóm dân tộc Mông, Tày Thái, Mường, Nùng; nhóm khu vực trung du miền núi phía Bắc.
Cam kết hợp tác chặt chẽ trong dự phòng vô sinh, giảm phá thai, giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ, trẻ em có liên quan đến thai sản. Ảnh: BTC
Nhân sự kiện quan trọng này, Cục Dân số đề nghị Chi cục Dân số, Phòng Dân số tham mưu Sở Y tế các tỉnh, thành phố phối hợp với các sở, ban, ngành chỉ đạo thực hiện để bảo đảm đầy đủ và kịp thời các điều kiện giúp phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tiếp cận thông tin và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình thuận tiện, an toàn, hiệu quả; tiếp tục quan tâm ưu tiên, hỗ trợ cho các đối tượng vị thành niên, thanh niên. Đẩy mạnh truyền thông, tư vấn và tăng cường cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình có chất lượng, phù hợp với điều kiện học tập, làm việc và sinh hoạt của các nhóm vị thành niên, thanh niên, góp phần cải thiện sức khỏe vị thành niên, thanh niên, đóng góp vào các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam.Thí điểm triển khai đổi mới các hoạt động giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản cho vị thành niên, thanh niên; triển khai các mô hình giảm thiểu tảo hôn, giảm mang thai và sinh con ở tuổi chưa thành niên phù hợp phù hợp với nhóm đối tượng; đặc điểm, tình hình thực tế của mỗi địa phương.
