Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Lập 4 đoàn khảo sát sự hài lòng của người bệnh trên toàn quốc

Bộ Y tế vừa lập 4 đoàn kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện, khảo sát sự hài lòng người bệnh, nhân viên y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh trên cả nước.

Bộ Y tế lập 4 đoàn khảo sát sự hài lòng của người bệnh trên toàn quốc – Ảnh: VGP/HM

Theo GS.TS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, các đoàn có nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện, khảo sát sự hài lòng người bệnh, nhân viên y tế; kiểm tra việc thực hiện các quy định về công tác khám, chữa bệnh, về giám định pháp y và pháp y tâm thần.

Đối tượng, phạm vi kiểm tra, đánh giá của 4 đoàn là các bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế; bệnh viện công lập, tư nhân thuộc các địa phương quản lý; các viện, trung tâm giám định pháp y tâm thần Trung ương và các khu vực; các cơ sở khám, chữa bệnh khác

Theo quyết định thành lập các đoàn kiểm tra của Bộ Y tế, trưởng các đoàn sẽ là Cục trưởng và 3 Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh, thành viên đoàn là các cán bộ, chuyên viên của Cục Quản lý Khám chữa bệnh. 

Trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm xác định đơn vị và nội dung kiểm tra đánh giá trọng tâm; có văn bản đề nghị mời thành viên từ các đơn vị, bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế và các Sở Y tế tham gia đoàn và phân công nhiệm vụ các thành viên.

Thời gian kiểm tra, giám sát của các đoàn là từ nay đến 30/12/2025. 

Thời gian qua, Bộ Y tế đẩy mạnh các hoạt động nâng cao sự hài lòng của người bệnh, tập trung cải thiện chất lượng dịch vụ và thái độ phục vụ của cán bộ y tế, hướng tới mục tiêu nâng cao sự hài lòng của người dân với y tế công lập, đồng thời tăng hiệu quả hoạt động của các cơ sở.

Đánh giá năm 2024 của Bộ Y tế cho thấy, nhiều bệnh viện đã chú trọng nâng cao chất lượng, ứng dụng kỹ thuật cao, cải tiến quy trình đón tiếp, giảm thời gian chờ xét nghiệm. 

Nguồn: baochinhphu.vn

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Cảnh báo thuốc đã bị cấm tại Việt Nam nhưng vẫn được rao bán trên mạng

Trung tâm Dị ứng và miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai cảnh báo khẩn cấp về loại thuốc chống viêm Phenylbutazone đã bị cấm tại Việt Nam nhưng vẫn được rao bán tràn lan trên mạng xã hội.

Hình ảnh phát ban toàn thân trên bệnh nhân dị ứng thuốc nặng do Phenylbutazone

Chỉ trong nửa đầu năm 2025, Trung tâm đã tiếp nhận hàng loạt ca biến chứng nghiêm trọng từ việc lạm dụng thuốc này. Đây là hồi chuông báo động cho sức khỏe người dân.

Cụ thể, một bệnh nhân nam (51 tuổi, Hải Phòng) tự mua Phenylbutazone online để trị đau khớp. Sau sử dụng, bệnh nhân sốt cao, phát ban toàn thân, khi đến cơ sở y tế được chẩn đoán mắc hội chứng Dress.

Một bệnh nhân khác là nữ, 70 tuổi, ở Hòa Bình, cũng tự dùng Phenylbutazone và thuốc khác không rõ nguồn gốc. Bệnh nhân cũng bị sốt cao, loét miệng, đau mắt, suy gan cấp, dẫn tới sốc nhiễm khuẩn, tử vong. Bệnh nhân được chẩn đoán mắc hội chứng Lyell.

Không ít bệnh nhân khác cũng phải nhập viện tại Trung tâm Dị ứng và miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai do tự mua online và dùng Phenylbutazone uống 30-35 ngày.

Tính từ đầu năm 2025 đến nay, Trung tâm Dị ứng và miễn dịch lâm sàng đã tiếp nhận rất nhiều ca bệnh dị ứng thuốc nặng do Phenylbutazol. Hầu hết các trường hợp đều khởi phát muộn, ít nhất 1 tuần kể từ khi bắt đầu dùng thuốc, thậm chí có thể sau 1 – 3 tháng mới xuất hiện triệu chứng.

Chính điều này đã gây khó khăn trong việc khai thác tiền sử để tìm nguyên nhân gây dị ứng. Bên cạnh đó, tên thuốc thường là tiếng nước ngoài, người bệnh không thể nhớ hoặc không đọc lại đúng tên biệt dược hay hoạt chất đã dùng.

Theo các chuyên gia, những triệu chứng ban đầu trên có thể gây nhầm lẫn với những triệu chứng do bệnh lý nhiễm trùng, do đó, người bệnh có thể đến khám tại các chuyên khoa khác. Vì vậy, thời gian chẩn đoán bị kéo dài, dẫn đến không được can thiệp điều trị sớm.

Thuốc gây nhiều tác dụng phụ nguy hiểm

Phenylbutazone là một thuốc chống viêm giảm đau không steroid, được sử dụng từ lâu để điều trị bệnh gout cấp, viêm cứng khớp đốt sống. Tuy nhiên, theo ý kiến của các chuyên gia thẩm định thuốc và theo các thông tin về việc sử dụng thuốc Phenylbutazone tại Việt Nam cũng như trên thế giới, Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế đã có Công văn số 2706/QLD-CL ngày 14/5/2001 về việc ngừng nhập khẩu nguyên liệu, thành phẩm có chứa Phenylbutazone; ngừng việc sản xuất các sản phẩm có chứa Phenylbutazone đã được cấp số đăng ký…

Nguyên nhân được chỉ ra là do Phenylbutazone có các tác dụng phụ như: tác động lên hệ tạo máu gây thiếu máu bất sản, thiếu máu tan huyết, mất bạch cầu hạt. Đây là tác dụng phụ nguy hiểm nhất, có thể gây tai biến mạch máu, dẫn đến tử vong.

Phenylbutazone còn có tác dụng phụ gây loét dạ dày tá tràng, chảy máu đường tiêu hóa do thời gian bán huỷ của thuốc quá lâu. Tác dụng phụ này cũng rất nguy hiểm, rất nặng, khó cấp cứu. Ngoài ra, người bệnh còn có thể bị phù nước, viêm thần kinh thị giác, điếc, hội chứng thận hư, hoại tử ống thận, tai biến ngoài da như: nổi ban, xuất huyết mạch, hội chứng hoại tử biểu bì nhiễm độc, hoại tử gan.

BS Chu Chí Hiếu, Trưởng phòng Dị nguyên, Trung tâm Dị ứng và miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, các trường hợp dị ứng thuốc nặng này phải mất rất nhiều thời gian để có thể phục hồi hoàn toàn hoặc dù đã khỏi thì vẫn có nguy cơ tái phát (kể cả không tiếp xúc lại với thuốc) và tiềm ẩn nhiều biến chứng muộn sau này.

“Phenylbutazone là thuốc cấm vì nguy cơ gây dị ứng nghiêm trọng, suy đa tạng, thậm chí tính mạng người bệnh. Các ca bệnh là minh chứng rõ ràng nhất. Do đó, người dân tuyệt đối không tự ý mua, sử dụng bất kỳ thuốc gì khi chưa có chỉ định bác sĩ”, BS Hiếu khuyến cáo mạnh mẽ người dân.

TS.BSCC Nguyễn Hoàng Phương, Giám đốc Trung tâm Dị ứng và miễn dịch lâm sàng, Chủ tịch Hội Hen – Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng Việt Nam khẳng định, việc mua bán thuốc cấm như Phenylbutazone online là hành vi vô trách nhiệm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng người dân.

Người dân không tự ý dùng thuốc theo mách báo, quảng cáo trên mạng, nhất là thuốc trị đau xương khớp “thần tốc”. Chỉ sử dụng thuốc khi có đơn và hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.

Nếu xuất hiện bất kỳ triệu chứng bất thường (sốt, phát ban, mệt mỏi, vàng da, loét miệng…) sau khi dùng thuốc thì cần đến ngay các cơ sở y tế.

Nguồn: baochinhphu.vn

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Cục Phòng bệnh kiểm tra công tác phòng, chống dịch bệnh Chikungunya tại Lạng Sơn

Ngày 14/8/2025, Đoàn công tác của Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế do bác sĩ Võ Hải Sơn, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh làm trưởng đoàn đã kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống dịch tại cửa khẩu, việc triển khai mô hình cửa khẩu thông minh, tìm hiểu về hoạt động phòng, chống dịch, cung cấp dịch vụ y tế tại xã và công tác chuẩn bị, sẵn sàng phòng, chống dịch bệnh Chikungunya tại tỉnh Lạng Sơn. 

 

Đồng chí Võ Hải Sơn, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế cùng các thành viên đoàn công tác kiểm tra, giám sát hoạt động kiểm dịch y tế tại Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị

Tham gia Đoàn, có lãnh đạo Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương. Làm việc với Đoàn, có đồng chí Phan Lạc Hoài Thanh, Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lạng Sơn; lãnh đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, Trung tâm Kiểm dịch Y tế Quốc tế, Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Trung tâm Y tế khu vực Cao Lộc.

Đoàn công tác làm việc tại Trung tâm Kiểm dịch  YTQT tỉnh Lạng Sơn

Tại buổi làm việc, đại diện đoàn công tác của Cục phòng bệnh đã thông tin về tình hình dịch bệnh Chikungunya. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh Chikungunya là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Chikungunya gây ra, bệnh không lây trực tiếp từ người sang người mà lây truyền qua trung gian là muỗi Aedes (cùng loại muỗi vằn truyền bệnh sốt xuất huyết). Hiện nay, dịch bệnh Chikungunya (hay còn gọi là bệnh “sốt khớp do muỗi”) đang có xu hướng gia tăng tại các đảo Ấn Độ Dương, Châu Phi, Nam Á và Châu Âu, đặc biệt là tại miền Nam Trung Quốc. Từ đầu năm 2025 đến nay, thế giới đã ghi nhận khoảng 240.000 ca nhiễm Chikungunya, 90 ca tử vong. Tại Trung Quốc, từ cuối tháng 6/2025 đến nay, dịch bùng phát mạnh với khoảng 9.000 người mắc.

Dù Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh trong cộng đồng, nhưng dịch đang gia tăng tại nhiều quốc gia, đặc biệt là miền Nam Trung Quốc – nơi có giao thương, du lịch thường xuyên với nước ta.

 

Đồng chí Phan Lạc Hoài Thanh, Phó Giám đốc Sở Y tế Lạng Sơn thông tin về các biện pháp phòng, chống dịch của tỉnh với Đoàn công tác

Thông tin về công tác phòng, chống dịch bệnh tại Lạng Sơn, đồng chí Phan Lạc Hoài Thanh, Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh nhấn mạnh: Lạng Sơn là địa bàn biên giới, nguy cơ dịch bệnh xâm nhập rất lớn. Do vậy, ngay sau khi nhận được công điện của Bộ Y tế, Sở Y tế tỉnh đã ban hành văn bản số 2764/SYT – NVYD ngày 10/8/2025 về việc tăng cường phòng, chống dịch bệnh Chikungunya. Trong đó, Sở Y tế chỉ đạo Trung tâm Kiểm dịch Y tế quốc tế tăng cường kiểm dịch y tế tại cửa khẩu, thực hiện việc giám sát chặt chẽ tất cả hành khách, phương tiện, hàng hóa nhập cảnh, nhập khẩu. Tổ chức giám sát muỗi truyền bệnh, thực hiện xử lý diệt muỗi và loại bỏ loăng quăng/bọ gậy tại khu vực cửa khẩu và cộng đồng dân cư khu vực biên giới. Tổ chức in ấn, phổ biến các tài liệu truyền thông, đẩy mạnh truyền thông phòng, chống dịch bệnh Chikungunya cho hành khách xuất, nhập cảnh và dân cư khu vực biên giới.

Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, Trung tâm Y tế các khu vực tăng cường giám sát, phát hiện sớm các trường hợp mắc mới sốt xuất huyết, Chikungunya tại cộng đồng và các cơ sở y tế; hỗ trợ tuyến dưới tổ chức giám sát các trường hợp sốt xuất huyết, Chikungunya (nếu có); phối hợp với các cơ quan truyền thông, báo chí trên địa bàn tăng cường truyền thông phòng, chống dịch bệnh sốt xuất huyết và Chikungunya. Đồng thời, chỉ đạo các trạm y tế xã tham mưu UBND xã, phường tổ chức các chiến dịch tổng vệ sinh môi trường diệt bọ gậy, diệt muỗi trên địa bàn và duy trì thường xuyên hoạt động diệt bọ gậy, diệt muỗi.

Các cơ sở khám, chữa bệnh tổ chức thu dung, cấp cứu bệnh nhân, điều trị tích cực để hạn chế mức thấp nhất các trường hợp tử vong do sốt xuất huyết, Chikungunya (nếu có). Chuẩn bị sẵn sàng đầy đủ vật tư, trang thiết bị và thuốc để hạn chế tối đa các trường hợp tử vong do sốt xuất huyết; đồng thời rà soát, điều chỉnh quy trình tiếp nhận, sàng lọc, phân loại ca bệnh; có kế hoạch phân tuyến điều trị, hỗ trợ tuyến dưới, tránh tình trạng quá tải bệnh viện.

Đối với việc triển khai mô hình cửa khẩu thông minh, tỉnh Lạng Sơn đang tích cực hoàn thiện các cơ sở hạ tầng, kỹ thuật để đưa mô hình vào vận hành hiệu quả, thông suốt trong thời gian sớm nhất. 

Đồng chí Phó Giám đốc Sở Y tế cũng đưa ra một số kiến nghị Bộ Y tế như: sớm tham mưu để ban hành Luật Phòng bệnh; sớm có quy định chức năng, quyền hạn của Trạm Y tế xã, phường; sớm có giá dịch vụ y tế dự phòng; quan tâm công tác đào tạo, đào tạo liên tục đối với nhân lực y tế tại các vùng khó khăn, biên giới, hải đảo…

Đồng chí Võ Hải Sơn, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế phát biểu tại buổi làm việc

Phát biểu kết luận, bác sĩ Võ Hải Sơn, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh đánh giá với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, Lạng Sơn đã rất tích cực, chủ động trong công tác phòng, chống dịch bệnh nói chung và phòng, chống dịch bệnh Chikungunya nói riêng. Thời gian tới, ngành y tế tỉnh cần tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch tại khu vực biên giới, cửa khẩu; thực hiện tốt công tác giám sát muỗi truyền bệnh; thực hiện tốt công tác truyền thông cho người dân trên địa bàn hiểu đúng, hiểu rõ về dịch bệnh, không chủ quan và không hoang mang về dịch bệnh. Qua đó, đảm bảo tốt công tác phòng, chống dịch tại địa bàn. Đối với các kiến nghị, đề xuất, đoàn công tác sẽ tổng hợp và báo cáo với cơ quan thẩm quyền để giải quyết.

Đoàn công tác của Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế kiểm tra thực tế việc triển khai Mô hình cửa khẩu thông minh tại Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị

Trước đó, Đoàn đến Cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị kiểm tra công tác giám sát phòng, chống dịch đối với người, hàng hóa, phương tiện và véc tơ truyền bệnh; kế hoạch đáp ứng, cách ly, ứng phó khẩn cấp; sự phối hợp giữa cơ quan y tế và các lực lượng chức năng tại cửa khẩu và thăm khu vực triển khai mô hình cửa khẩu thông minh. 

Đoàn làm việc tại Trạm Y tế xã Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn để tìm hiểu hoạt động phòng, chống dịch và cung cấp dịch vụ y tế tại cơ sở. Đoàn cũng trao đổi, hướng dẫn các lực lượng chức năng liên quan về giải pháp phối hợp liên ngành, đảm bảo phát hiện sớm, xử lý kịp thời các tình huống dịch bệnh phát sinh, đồng thời củng cố hệ thống giám sát và đáp ứng nhanh.

Nguồn: langsoncdc.vn

 

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Triển khai tiêm vaccine phòng bệnh do não mô cầu cho trẻ em từ 6 tuần tuổi và người lớn

Thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng, chống dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân, sáng 15/8, Việt Nam đánh dấu bước tiến mới khi lần đầu tiên triển khai tiêm vaccine phòng bệnh do não mô cầu cho trẻ em từ 6 tuần tuổi và người lớn.

Lần đầu tiên Việt Nam triển khai tiêm vaccine phòng bệnh do não mô cầu cho trẻ em từ 6 tuần tuổi và người lớn.

Vaccine ứng dụng công nghệ cộng hợp tiên tiến, đồng thời phòng 4 nhóm huyết thanh não mô cầu A, C, W, Y, tạo kháng thể bền vững, duy trì trí nhớ miễn dịch lâu dài và giảm tỷ lệ người lành mang trùng, góp phần xây dựng miễn dịch cộng đồng vững chắc.

Vaccine MenACWY-TT do Pfizer (Mỹ), tập đoàn dược phẩm hàng đầu thế giới với hơn 130 năm kinh nghiệm sản xuất tại nhà máy hiện đại ở Bỉ. Đây là vaccine tứ giá đầu tiên trên thế giới được chỉ định tiêm cho trẻ em từ 6 tuần tuổi, sử dụng an toàn tại hơn 80 quốc gia với trên 32 triệu liều.

Việt Nam là một trong số ít quốc gia ở Đông Nam Á được ưu tiên nguồn cung vaccine quan trọng này, mở ra cơ hội để trẻ em Việt Nam được bảo vệ sớm ngay từ những tuần đầu đời như các quốc gia phát triển khác.

Bác sĩ Bạch Thị Chính, Giám đốc Y khoa, Hệ thống Tiêm chủng VNVC cho biết, trẻ em dưới 12 tháng tuổi thuộc nhóm có nguy cơ mắc bệnh do não mô cầu cao nhất.

Trong 8 giờ đầu kể từ khi khởi phát, trẻ thường chỉ có triệu chứng mơ hồ như sốt nhẹ, quấy khóc, bỏ bú, đau họng hoặc sổ mũi, dễ bị nhầm lẫn với cảm, cúm hay viêm đường hô hấp thông thường. Khi các dấu hiệu điển hình như ban xuất huyết, cứng cổ, sợ ánh sáng xuất hiện, bệnh đã tiến triển nặng khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn và nguy cơ tử vong tăng cao.

Lễ ra mắt vaccine phòng bệnh do não mô cầu cho trẻ em từ 6 tuần tuổi và người lớn sáng 15/8.

Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2025, nước ta đã ghi nhận hàng chục ca mắc, 2 ca tử vong, cảnh báo nguy cơ bùng phát dịch ở khu vực phía nam.

Tại Việt Nam, các bệnh gây ra do não mô cầu được xếp vào nhóm 6 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hàng đầu, có tỷ lệ tử vong cao nhất. Hai thể bệnh thường gặp là viêm màng não và nhiễm trùng huyết, hoặc kết hợp cả hai.

Nếu không được điều trị kịp thời, có tới 50% bệnh nhân tử vong. Riêng thể nhiễm trùng huyết tối cấp có thể cướp đi sinh mạng trong vòng 6-8 giờ. Trong số những người sống sót, 10-20% chịu di chứng nặng nề như đoạn chi, sẹo da, mất thính lực, mù lòa, suy thận, suy tim, co giật, động kinh, rối loạn hành vi. Tỷ lệ gặp di chứng có thể lên đến 50% ở trẻ dưới 12 tháng tuổi.

Việc có thêm một loại vaccine não mô cầu bảo vệ sớm cho trẻ ngay từ 6 tuần tuổi giúp lấp đầy khoảng trống miễn dịch khi kháng thể từ mẹ giảm dần, đồng thời bảo vệ trẻ đúng thời điểm bắt đầu tiếp xúc cộng đồng, giảm nguy cơ lây lan và tăng cường miễn dịch cho cộng đồng xung quanh.

Theo bác sĩ Chính, vaccine MenACWY-TT được sản xuất theo công nghệ cộng hợp tiên tiến, kết hợp protein từ giải độc tố uốn ván (Tetanus Toxoid – TT) giúp “huấn luyện” hệ miễn dịch nhận diện và tiêu diệt vi khuẩn não mô cầu. Nhờ vậy, vaccine không chỉ tạo ra lượng kháng thể mạnh mẽ và trí nhớ miễn dịch lâu dài, mà còn rất hiệu quả với trẻ nhỏ, đồng thời góp phần giảm tỷ lệ người lành mang trùng, tạo hiệu ứng bảo vệ cộng đồng.

“Các vaccine não mô cầu không có miễn dịch chéo, do đó trẻ em và người lớn nên tiêm phối hợp các loại vaccine nhóm B và nhóm A, C, Y, W để phòng đầy đủ cả 5 nhóm huyết thanh gây bệnh. Tùy theo lịch sử tiêm chủng, tình hình dịch tễ, độ tuổi và nhu cầu…, bác sĩ sẽ chỉ định loại vaccine và lịch tiêm phù hợp để đạt hiệu quả bảo vệ tối ưu nhất”, bác sĩ Chính chia sẻ.

Với việc đưa vaccine MenACWY-TT vào sử dụng, VNVC trở thành hệ thống tiêm chủng vaccine đầu tiên tại Việt Nam cung cấp trọn bộ 5 vaccine phòng não mô cầu, bảo vệ toàn diện trước 5 nhóm huyết thanh A, B, C, Y, W-135 cho mọi lứa tuổi, từ trẻ nhỏ, thanh thiếu niên đến người trưởng thành và người cao tuổi.

Nguồn: nhandan.vn

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Phẫu thuật thành công khối u thận “khổng lồ” xâm lấn tĩnh mạch chủ dưới

Các bác sĩ Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội vừa thực hiện thành công ca phẫu thuật loại bỏ khối u thận trái kích thước lớn kèm huyết khối xâm lấn tĩnh mạch chủ dưới cho bệnh nhân nữ 68 tuổi, một ca mổ có độ khó và nguy cơ rất cao.

Đây là một trong những ca bệnh hiếm gặp, nếu không được xử trí kịp thời, người bệnh có thể đối mặt với nguy cơ tử vong do biến chứng tắc mạch hoặc thuyên tắc phổi.

Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng đau tức vùng bụng bên trái, đôi khi tiểu máu và bụng chướng nhẹ. Trước đó, bệnh nhân khỏe mạnh, chưa từng phát hiện bệnh lý.

Kết quả thăm khám và chẩn đoán hình ảnh cho thấy khối u ở thận trái kích thước khoảng 15 x 20 cm, phá hủy hoàn toàn cấu trúc nhu mô thận, xâm lấn đài–bể thận.

Khối u đã gây huyết khối trong tĩnh mạch thận, lan tới tĩnh mạch chủ dưới, làm tăng nguy cơ tắc mạch hoặc thuyên tắc mạch phổi đe dọa tính mạng.

Theo BSCKII. Võ Quốc Hoàn – Phó Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, bác sĩ Khoa Ngoại Tổng hợp, người trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật cho biết: Ca phẫu thuật thuộc nhóm phẫu thuật tiết niệu–ung bướu có độ khó và nguy cơ cao do kích thước u rất lớn, chiếm trọn ổ thận, gây hẹp trường mổ, hạn chế thao tác bóc tách.

Bên cạnh đó, huyết khối lan từ tĩnh mạch thận tới tĩnh mạch chủ dưới với lưu lượng máu lớn, tiềm ẩn nguy cơ mất máu ồ ạt hoặc huyết khối di chuyển. Ngoài ra, tình trạng ảnh hưởng tuần hoàn tĩnh mạch chủ dưới làm tăng nguy cơ khi gây mê–hồi sức, đòi hỏi kiểm soát huyết động nghiêm ngặt.

Hình ảnh chụp CT khối u ở thận xâm lấn tĩnh mạch chủ dưới. (Ảnh: BVCC)

Trước mổ, bệnh nhân được chuẩn bị kỹ lưỡng với truyền máu, đánh giá toàn diện chức năng tim, phổi, thận.

Trong quá trình phẫu thuật, ê-kíp tiến hành cắt thận trái cùng toàn bộ khối u, đồng thời mở tĩnh mạch chủ dưới lấy huyết khối, bảo tồn tối đa cấu trúc mạch máu và chức năng thận phải.

Ca mổ kéo dài nhiều giờ, yêu cầu phẫu thuật viên có kỹ thuật vi phẫu mạch máu chính xác và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các ê-kíp phẫu thuật và gây mê–hồi sức.

Sau phẫu thuật, bệnh nhân hồi phục tốt, chức năng thận phải ổn định, ăn uống và vận động nhẹ nhàng sau một tuần. Người bệnh được chỉ định điều trị bổ trợ bằng thuốc miễn dịch để giảm nguy cơ tái phát và cải thiện tiên lượng sống.

Theo các chuyên gia, ung thư biểu mô tế bào thận (Renal Cell Carcinoma – RCC) có thể diễn tiến âm thầm, chỉ phát hiện khi khối u đã lớn hoặc có biến chứng.

Những triệu chứng như đau hông lưng, đái máu, bụng to bất thường cần được thăm khám chuyên khoa sớm. Việc chẩn đoán và can thiệp kịp thời giúp tăng khả năng phẫu thuật triệt căn, giảm biến chứng và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Nguồn: nhandan.vn

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Ca phẫu thuật đặc biệt lấy thai cho sản phụ nặng 178kg

Sản phụ nặng 178kg mắc nhiều bệnh lý thai kỳ nguy hiểm đã sinh con khỏe mạnh với những nỗ lực can thiệp của các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Các bác sĩ thực hiện gây tê vùng nhưng kim gây tê hiện có gần như không đủ chiều dài; nguy cơ thất bại cao dù có hỗ trợ siêu âm.

Cân não với phương án gây mê hồi sức cho sản phụ

Sản phụ N.T.D (28 tuổi, quê Phú Thọ) bị rối loạn chuyển hóa dẫn đến việc tăng cân mất kiểm soát, cân nặng trước khi mang thai khoảng 140kg và tăng thêm 38kg trong thai kỳ. Với cân nặng lớn kèm theo bệnh lý tiền sản giật và đái tháo đường, việc sinh thường gần như bất khả thi. Việc lựa chọn sinh mổ cũng tiềm ẩn hàng loạt nguy cơ nguy hiểm trong gây mê, phẫu thuật và hồi sức sau mổ.

Sản phụ được chuyển tuyến từ Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc lên Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong tình trạng nguy cơ cao cho cả mẹ và thai nhi.

Nhận định việc trì hoãn phẫu thuật lấy thai có thể làm xấu thêm tiên lượng cho mẹ và thai, các bác sĩ gây mê hồi sức và sản khoa đã khẩn trương hội chẩn và đưa ra quyết định mổ cấp cứu lấy thai. Đồng thời, các bác sĩ xây dựng kế hoạch chi tiết và chặt chẽ, sẵn sàng cho hai kịch bản gồm gây tê vùng (gây tê tủy sống hoặc gây tê ngoài màng cứng) hoặc gây mê nội khí quản.

Ngày 13/8, ê-kíp quyết định phẫu thuật lấy thai cho sản phụ.

Sản phụ được tiến hành gây tê.

Thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa II Bạch Minh Thu – Phụ trách khoa Phẫu thuật Gây mê Hồi sức cho biết, với bệnh nhân béo phì, lớp mỡ dày làm mất mốc giải phẫu, khoảng cách từ da tới khoang dưới nhện quá lớn, kim gây tê hiện có gần như không đủ chiều dài do đó nguy cơ thất bại gây tê vùng là rất cao dù có hỗ trợ của siêu âm.

“Khi tiến hành sử dụng máy siêu âm để xác định giải phẫu chúng tôi ghi nhận khoảng cách này lên tới hơn 11cm-vượt qua chiều dài tối đa của kim gây tê khá nhiều. Vì vậy, sau khi gây tê tủy sống không còn khả thi, ê-kíp nhanh chóng chuyển sang phương án gây mê nội khí quản đã được chuẩn bị đầy đủ từ trước”, bác sĩ Thu cho hay.

Tuy nhiên, việc gây mê cũng khó khăn và tiềm ẩn nhiều nguy cơ nguy hiểm như không thông khí được sau khi sản phụ đã được gây mê và không còn khả năng tự thở; tiếp đến là tiên lượng nội khí quản khó và có nguy cơ không đặt được ống nội khí quản theo các phương pháp đơn giản thông thường.

Đặc biệt trên sản phụ béo phì như vậy, khả năng dự trữ oxy rất kém, có nguy cơ sụt giảm oxy máu nhanh và trầm trọng. Do đó, chỉ cần một sai sót hoặc khó khăn trong quá trình gây mê có thể dẫn tới thiếu oxy nặng cho cả mẹ và thai gây nguy kịch tới tính mạng.

Vì những lý do trên, ê-kíp gây mê đã tiến hành khám tiền mê cẩn thận, kỹ càng, đánh giá kỹ tình trạng hô hấp, đường thở và các vấn đề có liên quan khác để có thể đưa ra phương án gây mê hiệu quả, an toàn.

Các bác sĩ mổ lấy thai cho sản phụ.

Đồng thời, mọi trang thiết bị, máy móc và thuốc men đều được chuẩn bị sẵn sàng cho các tình huống có thể xảy ra như hệ thống đèn camera, đèn nội soi, hệ thống mask Igel, ống nội khí quản,… và thậm chí là cả phương án mở khí quản.

Đồng thời, bác sĩ dựa trên chiều cao và cân nặng lý tưởng để tính toán liều lượng các loại thuốc trong gây mê vừa để bảo đảm đủ thuốc để mê đủ sâu, giãn cơ đủ độ giúp tạo thuận lợi cho đặt nội khí quản, mặt khác phải cân nhắc tránh để gây tụt huyết áp và ảnh hưởng tới huyết động – điều dễ xảy ra ở sản phụ béo phì gây mê.

Ê-kíp thực hiện quy trình đặt nội khí quản theo chiến lược “không để mất đường thở”, tối ưu tư thế và dự trữ oxy tối đa trước mê để giảm nguy cơ giảm oxy máu cho mẹ và thai – biến chứng thường gặp ở những bệnh nhân như này.

Ca phẫu thuật lấy con đặc biệt

Khi thực hiện phẫu thuật, bác sĩ chuyên khoa II Đặng Quang Hùng – Phó Trưởng khoa Sản bệnh lý – người trực tiếp thực hiện ca mổ, cho biết, khó khăn nhất khi mổ là thành bụng rất dày gây khó khăn cho quá trình tiếp cận cơ tử cung và lấy thai. Tổ chức mỡ thành bụng sa xuống khiến các thao tác của phẫu thuật viên trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

Trên nền tăng huyết áp và đái tháo đường, nguy cơ nhiễm trùng vết mổ và biến chứng hô hấp sau mổ cũng tăng đáng kể. Trong mổ do khối mỡ thành bụng lớn và thai chèn ép làm cơ hoành bị đẩy cao, phổi khó nở, dễ xẹp có nguy cơ tai biến tim phổi.

Ca mổ vì vậy đòi hỏi sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa gây mê hồi sức và phẫu thuật để nhanh chóng lấy thai an toàn, đồng thời “giải phóng” gánh nặng huyết động cho người mẹ”.

Sản phụ sinh con an toàn.

Sau gần 1 giờ, ca mổ đã thành công. Bé trai nặng 3,4kg hồng hào, khóc to, ngay sau sinh được chuyển Trung tâm Sơ sinh theo dõi. Tuy nhiên, về phía mẹ mặc dù huyết động ổn định nhưng vẫn còn phải tiếp tục đối mặt với nhiều nguy cơ về hô hấp nên được theo dõi sát sao tại phòng hậu phẫu.

Thạc sĩ, bác sĩ Hoàng Thị Ngân – Bác sĩ khoa Phẫu thuật Gây mê Hồi sức chia sẻ, với những trường hợp béo phì, việc thoát mê, cai thở máy và rút ống nội khí quản cũng cần phải được tính toán và kiểm soát chặt chẽ.

Với trọng lượng cơ thể lớn, tỷ lệ mỡ cao làm cho các dung tích lồng ngực bị hạn chế, khả năng di động của lồng ngực kém kèm theo cơ hoành bị đẩy lên cao khiến cho việc dự trữ oxy của bệnh nhân rất kém, nguy cơ xẹp phổi và giảm thông khí sau khi rút nội khí quản là rất cao.

Tại phòng hậu phẫu, sản phụ D. được tiếp tục thở máy theo dõi sau đó sử dụng thuốc giải giãn cơ và rút nội khí quản theo đúng quy trình, kế hoạch đã được định sẵn. Ngay sau khi rút ống, sản phụ được hỗ trợ thông khí áp lực dương không xâm nhập và hướng dẫn tập hít thở nhằm tối ưu khả năng oxy hóa máu và tránh xẹp phổi.

Chăm sóc sản phụ sau mổ cũng trải qua nhiều thách thức.

Trong quá trình theo dõi, sản phụ đáp ứng tốt và đủ điều kiện và chuyển về khoa Hồi sức cấp cứu tiếp tục theo dõi thêm.

Các bác sĩ khuyến cáo phụ nữ béo phì hoặc rối loạn chuyển hóa nên được khám và tư vấn trước khi mang thai, xây dựng kế hoạch kiểm soát cân nặng, huyết áp và đường huyết, chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý. Trong thai kỳ cần khám định kỳ đúng lịch, tuân thủ dinh dưỡng – vận động theo hướng dẫn chuyên môn và trao đổi sớm với bác sĩ khi có dấu hiệu bất thường (phù, tăng cân nhanh, đau đầu, rối loạn thị giác, tăng huyết áp…).

Việc được thăm khám và tư vấn từ ban đầu cũng như chuyển tuyến kịp thời đến cơ sở chuyên sâu khi có yếu tố nguy cơ sẽ giúp bảo đảm an toàn tối đa cho sản phụ và trẻ sơ sinh.

Nguồn: nhandan.vn

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Nguy cơ nhiễm khuẩn huyết ở bệnh nhân đái tháo đường sau tai biến

Nam bệnh nhân 82 tuổi, mắc đái tháo đường, liệt nửa người sau tai biến, nhập viện trong tình trạng nguy kịch, có nguy cơ cao nhiễm khuẩn huyết, đe dọa tính mạng nếu không được can thiệp kịp thời.

Bác sĩ Bệnh viện Nội tiết Trung ương khám điều trị cho bệnh nhân. (Ảnh: BVCC)

Bệnh viện Nội tiết Trung ương vừa tiếp nhận nam bệnh nhân, 82 tuổi, nhập viện trong tình trạng suy kiệt, sốt cao, nhịp tim nhanh bất thường và xuất hiện một ổ loét tại vùng mấu chuyển đùi phải. Đánh giá ban đầu, bệnh nhân có nguy cơ rất cao tiến triển thành nhiễm khuẩn huyết – một biến chứng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng nếu không được can thiệp kịp thời.

Theo lời kể của người nhà, bệnh nhân có tiền sử đái tháo đường type 2 đã hơn 20 năm, tai biến mạch máu não 3 năm trước để lại di chứng liệt nửa người trái, sau tai biến sống phụ thuộc hoàn toàn, nằm tại giường kéo dài.

Khoảng 1 tuần trước khi nhập viện, bệnh nhân bắt đầu mệt mỏi, ăn uống kém, ý thức giảm dần. Khi nhập viện, bệnh nhân trong tình trạng mệt, ý thức chậm và cần hỗ trợ thở oxy để cải thiện. Khám lâm sàng cho thấy có dấu hiệu viêm phổi, kèm theo tại vùng đùi phải xuất hiện một vết loét kích thước 4cm chảy mủ, sưng nề đỏ chung quanh.

Theo Thạc sĩ, bác sĩ Phạm Thị Ngoan, Khoa Điều trị tích cực, Bệnh viện Nội tiết Trung ương: “Đối với những người bệnh mắc đái tháo đường lâu năm bị tai biến mạch máu não có di chứng yếu liệt, việc nằm lâu tại giường làm tăng đáng kể nguy cơ viêm phổi và hình thành các ổ loét tỳ đè – vốn là điểm khởi phát thường gặp của nhiễm khuẩn huyết. Những tổn thương ban đầu có thể rất nhỏ, dễ bị bỏ qua, nhưng nếu không được chăm sóc đúng cách, vi khuẩn có thể xâm nhập vào tuần hoàn máu, gây nên tình trạng viêm nhiễm lan tỏa toàn thân”.

Bệnh nhân này đã được điều trị tích cực ngay từ đầu bằng kháng sinh phổ rộng, kiểm soát đường huyết bằng insulin, chăm sóc ổ loét, theo dõi liên tục các chỉ số sinh tồn, xét nghiệm viêm và tri giác.

Sau thời gian điều trị ban đầu, bệnh nhân có cải thiện bước đầu về tri giác, giảm sốt và ổn định huyết động, tuy nhiên vẫn cần được theo dõi sát sao của đội ngũ y bác sĩ khoa Điều trị tích cực, Bệnh viện Nội tiết Trung ương.

Bác sĩ Phạm Thị Ngoan nhấn mạnh, chăm sóc người bệnh đái tháo đường liệt nửa người cần đặc biệt chú trọng kiểm soát đường huyết, dinh dưỡng đầy đủ, vận động thụ động và chăm sóc vùng da dễ tỳ đè như vai, hông, gót chân. Những biểu hiện như sốt kéo dài, thở nhanh, mệt mỏi, thay đổi tri giác hay nhịp tim tăng đều có thể là dấu hiệu sớm của nhiễm trùng và cần được xử lý kịp thời.

“Người bệnh đái tháo đường, sau tai biến hoặc người cao tuổi cần được theo dõi sức khỏe định kỳ tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Ngay khi xuất hiện những dấu hiệu bất thường, dù rất nhỏ, cũng không nên chủ quan”, bác sĩ Ngoan khuyến cáo.

Nguồn: nhandan.vn

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Ca bệnh lao phổi hiếm gặp ở thai phụ IVF

Một thai phụ 25 tuổi, mang thai 11 tuần bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), đã được đưa đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trong tình trạng nguy kịch. Bệnh nhân nhập viện với các triệu chứng sốt cao liên tục, ho nhiều và khó thở tăng dần.

Trước đó 3 ngày, thai phụ này đã bắt đầu sốt 39°C. Dù đã uống thuốc hạ sốt, nhiệt độ chỉ giảm được 2-3 giờ rồi lại tăng trở lại. Sau 3 ngày điều trị tại một cơ sở y tế tư nhân nhưng không thuyên giảm, bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Khi nhập viện, thai phụ có dấu hiệu suy hô hấp nặng: thở nhanh, nông và phải co kéo các cơ hô hấp phụ. Chỉ số SpO2 của cô chỉ đạt 77-80% (mức bình thường là 96-100%), cho thấy tình trạng thiếu oxy nghiêm trọng, đe dọa cả mẹ và con. Ban đầu, bệnh nhân được thở oxy qua kính mũi và SpO2 tăng lên 95-96%, nhưng sau đó tình trạng suy hô hấp tiếp tục xấu đi, buộc phải dùng máy hỗ trợ thở không xâm nhập.

Bệnh nhân nhập viện với các triệu chứng sốt cao liên tục, ho nhiều và khó thở tăng dần. Ảnh: BVCC

Sau khi hội chẩn, các bác sĩ đã chụp CT phổi có che chắn chì bảo hộ. Kết quả cho thấy phổi bị tổn thương lan rộng, chiếm tới 50-60% thể tích. Mức độ tổn thương này xuất hiện chỉ sau 3 ngày kể từ khi khởi bệnh. Xét nghiệm đờm bằng kỹ thuật sinh học phân tử xác nhận bệnh nhân mắc lao phổi hoạt động.

ThS.BS Ninh Thị Ngọc, Khoa Cấp cứu, cho biết: “Tổn thương phổi ở phụ nữ mang thai có thể tiến triển rất nhanh. May mắn là bệnh nhân đã đến viện kịp thời. Nếu chậm trễ, nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng cả mẹ và con là rất lớn.”

Bác sĩ Ngọc cũng nhấn mạnh rằng lao phổi ở thai phụ, đặc biệt là thai phụ IVF, vô cùng nguy hiểm. Ngoài nguy cơ suy hô hấp cấp, bệnh nhân còn buộc phải dùng thuốc điều trị lao. Một số thuốc có độc tính cao, nếu không điều chỉnh liều phù hợp có thể gây dị tật hoặc ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của trẻ.

ThS.BS Trần Văn Bắc, Phó Trưởng khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương khẳng định, tầm soát lao trước khi thực hiện IVF rất quan trọng.  

Bởi lẽ, bệnh lao có thể lây qua nhau thai hoặc khi sinh, gây lao bẩm sinh với tỷ lệ tử vong cao. Lao phổi trong thai kỳ tiến triển nhanh dễ gây biến chứng nặng, thậm chí đe dọa tính mạng.

Bác sĩ cho biết thêm, lao có thể tồn tại âm thầm dưới dạng tiềm ẩn và bùng phát khi hệ miễn dịch của phụ nữ mang thai (đặc biệt là trong IVF) suy yếu.

Lời khuyên cho phụ nữ chuẩn bị mang thai

Các bác sĩ khuyến cáo phụ nữ có ý định mang thai, nhất là trước khi làm IVF, cần: Khám tổng quát và tầm soát các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là bệnh lao. Tiêm phòng các vắc-xin cần thiết như uốn ván, rubella, cúm, thủy đậu, viêm gan B… để giảm nguy cơ sảy thai, sinh non hoặc dị tật bẩm sinh. Trong thai kỳ, nếu xuất hiện các triệu chứng như sốt, ho, khó thở, mệt mỏi kéo dài, cần đến ngay cơ sở y tế uy tín để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Nguồn: suckhoedoisong.vn

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Bác sĩ bị ngưng tim, ngưng thở 2 lần được đồng nghiệp cứu sống ngoạn mục

Đang lúc trực ở bệnh viện, bác sĩ T. (53 tuổi) bất ngờ tím tái, co giật và bị ngưng tim, ngưng thở. Nhờ được đồng nghiệp hồi sức kịp thời can thiệp chính xác, bác sĩ T đã thoát khỏi “lưỡi hái tử thần”, hồi phục kỳ diệu mà không để lại di chứng não.

Trước đó, khi đang trực, bác sĩ T. bất ngờ tím tái, co giật rồi rơi vào tình trạng ngưng tim, ngưng thở. Đồng nghiệp lập tức tiến hành hồi sức tim phổi (CPR). Sau gần 60 phút nỗ lực, tim bác sĩ T. mới đập trở lại. Ngay sau đó, ông được chuyển khẩn đến Bệnh viện S.I.S Cần Thơ để điều trị can thiệp mạch vành.

Tuy nhiên, trên đường chuyển viện, bệnh nhân tiếp tục ngưng tim, ngưng thở lần thứ hai. May mắn, kíp cấp cứu vẫn hồi sức thành công.

Tại S.I.S Cần Thơ, kết quả điện tim cho thấy, bác sĩ T. bị nhồi máu cơ tim kèm biến chứng rối loạn nhịp nguy hiểm. Kết quả chụp mạch vành qua hệ thống DSA cho thấy cả 3 nhánh mạch vành hẹp nặng, phức tạp, nhưng mạch máu đã tự tái thông dòng chảy.

BS.CKII Nguyễn Mạnh Cường (thứ 2 từ trái) chúc mừng bác sĩ T., đã hồi phục không di chứng. Ảnh: BVCC

BS.CKII Nguyễn Mạnh Cường – Phó khoa Nội Tổng hợp cho biết: “Dù tim đã có tín hiệu trở lại nhưng tình trạng nội khoa của bác sĩ T. rất nguy kịch: hôn mê sâu, suy hô hấp, suy đa tạng, tăng men gan, hạ kali máu, choáng tim, huyết áp thấp phải dùng vận mạch liều cao. Chúng tôi quyết định điều trị nội khoa tích cực tại ICU để ổn định trước khi can thiệp đặt stent mạch vành”.

Được biết, khoảng 2 ngày trước khi xảy ra ngưng tim, ngưng thở, bác sĩ T. có biểu hiện sốt và rét run. 

Để xác định chính xác nguyên nhân ngưng tim, có thể do viêm cơ tim, sốc nhiễm trùng hay nhồi máu cơ tim, các bác sĩ đã chỉ định chụp MRI tim. Kết quả cho thấy tổn thương cơ tim bắt nguồn từ tình trạng hẹp nặng động mạch vành bên phải.

“Kíp can thiệp đã tiến hành đặt stent tái thông thành công một nhánh động mạch vành bị hẹp. Sau 2 tuần điều trị tích cực, bệnh nhân hồi phục tốt, tỉnh táo, không di chứng não. Các tổn thương mạch vành còn lại sẽ được can thiệp ở giai đoạn tiếp theo”, BS Cường chia sẻ thêm.

Cũng theo BS.CKII Nguyễn Mạnh Cường, may mắn là bác sĩ T. bị ngưng tim ngay tại bệnh viện, được hồi sức tim phổi kịp thời và đúng kỹ thuật, nên não không bị tổn thương. Nếu tình huống này xảy ra ngoài cộng đồng, không được phát hiện và xử trí nhanh, nguy cơ tử vong hoặc di chứng thần kinh là rất cao.

“Cấp cứu tim mạch cần một chuỗi hiệu quả: Phát hiện sớm – hồi sức kịp thời – chuyển viện an toàn – can thiệp chính xác. Khi các khâu được thực hiện nhịp nhàng, cơ hội sống sót cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp, kể cả khi đã ngưng tim, sẽ được nâng lên đáng kể”, bác sĩ Cường cho biết thêm. 

Nguồn: suckhoedoisong.vn

Chuyên mục
Tin Tức Y Dược

Ung thư ngày càng trẻ hoá, y học hạt nhân mở hướng mới trong chẩn đoán sớm, điều trị

Ung thư là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn cầu và tại Việt Nam. Việt Nam ghi nhận hơn 182.000 ca mắc mới ung thư và trên 122.000 ca tử vong mỗi năm (GLOBOCAN 2022). Ung thư phổi, gan, vú, dạ dày và đại trực tràng vẫn là những loại phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao.

Những thông tin trên được các chuyên gia ung bướu nhấn mạnh tại hội nghị “Cập nhật điều trị ung thư và y học hạt nhân” do Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (BV Bạch Mai) tổ chức hôm nay, 16/8 với sự tham dự của khoảng 1.000 chuyên gia y tế trong nước đến tư BV Bạch Mai, BV K, BV Ung bướu TP Hồ Chí Minh, BV Đại học Y Hà Nội, BV TWQĐ 108, BV Chợ Rẫy,… và các chuyên gia đến từ các nước có nền y học tiên tiến như Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản…

PGS.TS Đào Xuân Cơ – Giám đốc BV Bạch Mai phát biểu.

Cá thể hóa điều trị, lựa chọn phác đồ phù hợp với từng người bệnh ung thư

PGS.TS Đào Xuân Cơ, Giám đốc BV Bạch Mai trong phát biểu tại hội nghị nhấn mạnh: Những con số về tình hình bệnh ung thư tại Việt Nam rất đáng báo động, đòi hỏi hệ thống y tế không ngừng nâng cao năng lực chẩn đoán, điều trị và chăm sóc.

Cùng đó, việc ứng dụng các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị tiên tiến trở thành yếu tố sống còn để nâng cao hiệu quả điều trị và kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.

Bổ sung thêm thông tin, PGS.TS Phạm Cẩm Phương – Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu cho hay, y học hạt nhân đóng vai trò then chốt trong chẩn đoán sớm và theo dõi đáp ứng điều trị ung thư thông qua các kỹ thuật ghi hình chức năng như PET/CT và SPECT/CT, SPECT.

Phương pháp này cho phép đánh giá chuyển hóa tế bào ung thư ngay cả khi chưa có tổn thương hình thái, giúp phát hiện di căn sớm và chính xác.

Trong điều trị, các liệu pháp phóng xạ nhắm trúng đích như I-131, Lu-177, hay theranostic – là phương pháp sử dụng cùng một phân tử cho cả ghi hình và điều trị, theranostic cho phép xác định chính xác vị trí tổn thương và đánh giá đáp ứng điều trị theo thời gian thực, góp phần tiêu diệt tế bào ung thư mà ít ảnh hưởng đến mô lành.

“Nhờ đó y học hạt nhân hỗ trợ cá thể hóa điều trị, lựa chọn phác đồ phù hợp với từng người bệnh dựa trên đặc điểm sinh học của từng khối u. Có thể nói đây là lĩnh vực tiên phong trong y học chính xác, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân ung thư”- PGS.TS Phạm Cẩm Phương cho biết.

PGS.TS Phạm Cẩm Phương – Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, BV Bạch Mai tham luận.

Sẽ có thêm thiết bị chẩn đoán, điều trị ung thư hiện đại phục vụ người bệnh

GS.TS Mai Trọng Khoa, nguyên Phó Giám đốc BV Bạch Mai chia sẻ số ca mắc ung thư ở Việt Nam ngày càng cao, tỷ lệ chết do ung thư cũng gia tăng. Nguyên nhân có thể do tuổi thọ tăng, dân số đang già hóa, tỷ lệ người già ngày càng cao.

Trước đây, nhiều loại ung thư không phát hiện được từ sớm, chỉ khi bệnh nhân đau đớn, sụt cân mới đi khám thì hầu hết đã ở giai đoạn muộn, việc điều trị khó khăn, tỷ lệ tử vong cao.

Nhưng ngày nay, chúng ta đã có rất nhiều tiến bộ trong chẩn đoán ung thư như PET/CT và SPECT/CT, SPECT, giúp chúng ta phát hiện sớm các dấu hiệu ung thư từ khi các tổn thương rất nhỏ.

Các thế hệ máy PET/CT không ngừng phát triển. Máy PET/CT phổ biến trước đây chỉ chụp được 20–35 cm trên cơ thể, phải ghép hình lại để đánh giá toàn thân.

Hiện nay, đã có máy chụp tới 106 cm và đặc biệt là loại chụp toàn thân chỉ trong 30 giây với liều phóng xạ thấp, an toàn cho trẻ em, người bình thường. Tốc độ nhanh giúp một ngày có thể chụp 50–80 người, giải phóng bệnh nhân khỏi chờ lâu.

Máy thế hệ cũ do chỉ chụp từ háng trở lên, nên có thể bỏ qua các u di căn và không phát hiện được tổn thương mới. Máy thế hệ mới khắc phục nhược điểm này, hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị ung thư.

Ngoài ung thư, PET/CT đời mới còn ứng dụng trong tim mạch, thần kinh, chẩn đoán viêm, nhiễm trùng ở mức độ tế bào, nghiên cứu tương tác giữa não và cơ thể, dược động học toàn cơ thể để phát triển thuốc, độc chất học.

GS.TS Mai Trọng Khoa, nguyên Phó Giám đốc BV Bạch Mai chia sẻ tại hội nghị.

Hội nghị Cập nhật điều trị Ung thư và Y học hạt nhân tại Bệnh viện Bạch Mai ngoài 3 phiên đào tạo liên tục về các chủ đề miễn dịch liệu pháp trong ung thư phổi, ung thư đường tiêu hóa và ứng dụng y học hạt nhân trong chẩn đoán và điều trị ung thư, có thêm 7 phiên chuyên đề đi sâu vào chia sẻ, cập nhật các tiến bộ mới về điều trị trong các bệnh lý ung thư cụ thể như ung thư vú, ung thư tiêu hóa, ung thư phổi và kỹ thuật xạ trị, y học hạt nhân; Vai trò vượt trội của các kỹ thuật PET/CT, SPECT/CT, SPECT và các chất đánh dấu phóng xạ trong chẩn đoán sớm và theo dõi điều trị các bệnh lý ung thư…

Giám đốc Đào Xuân Cơ cho biết Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu luôn tiên phong ứng dụng các kỹ thuật hiện đại về cả y học hạt nhân, sinh học phân tử và giải trình tự gene, các liệu pháp mới ứng dụng trong điều trị cho người bệnh ung thư

“Không chỉ dẫn đầu trong điều trị, Trung tâm còn là cơ sở đào tạo, chuyển giao kỹ thuật và nghiên cứu khoa học có uy tín, góp phần đưa Y học hạt nhân Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới”- PGS.TS Đào Xuân Cơ nhấn mạnh.

Một thông tin tích cực cho người bệnh ung thư là BV Bạch Mai đang đấu thầu mua sắm hàng loạt máy móc hiện đại để phục vụ nâng chất lượng chẩn đoán, điều trị, trong đó có mục tiêu đưa loại PET/CT tiên tiến nhất về bệnh viện.

Nguồn: suckhoedoisong.vn

Exit mobile version